DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Chiến Tranh Việt Nam (1945-1975)-Phần 1_Văn Nguyên Dưỡng

E-mail Print

Lời Nói Đầu:

Trung tuần tháng 11, năm 2012, tôi đến Sài Gòn Nhỏ, Nam California, thủ đô tinh thần của người Việt tị nạn công sản ở Hoa Kỳ, gặp lại những bạn đồng khoá trong Ban Chấp hành Hội Ái hữu Cựu SQTB Khoá V–Vì Dân Thủ Đức-Đàlạt. Các bạn uỷ nhiệm cho tôi viết một bài cho quyển Kỷ Yếu của Khoá về cuộc chiến cũ trên quan điểm khách quan, “đứng ở vị trí cao hơn bên này hay bên kia, từ đó nhìn xuống viết sao cho trung thực và vô tư về cuộc chiến đó.” Điều này quả thật… đáng suy gẫm và các bạn tôi thực sự đáng được khen ngợi. Nếu chỉ mang tâm sự của một chứng nhân mà viết thì cũng không chắc viết được những dòng vô tư huống chi tôi là một nạn nhân trực tiếp –cũng như rất nhiều bạn đồng khoá- bị bên kia vùi giập trong lao tù hơn một thập niên vì đã từng cùng với hàng triệu chiến hữu bên này cầm súng chống lại những người bên kia tuyến. Nếu viết trên cương vị của một người biên khảo, đứng ngoài hay đứng trên, như các bạn yêu cầu thực là không dễ. Tuy nhiên, tôi xin nhận vì cho rằng việc làm này là bổn phận của một sinh viên thuộc một khóa huấn luyện SQTB được gọi là Khóa Vì Dân; hơn nữa, tôi còn là một chứng nhân cũng là nạn nhân của cuộc chiến tang điền thương hải đó. Tôi mong mỏi nói lên sự thật cho thế hệ tương lai Việt Nam trong nước và ở hải ngoại hiểu rõ hơn về thế hệ của chúng tôi. Tôi đã thức nhiều đêm để suy gẫm viết làm sao cho thật trung thực, mặc dù trước đây nhiều năm khi có dịp viết một quyển sách về trung thực và vô tư ở mức độ cao. Tôi mong mỏi sẽ chu toàn lời hứa với các bạn đồng môn trong bài này.
Vĩnh Định Nguyễn văn Dưỡng hay Văn Nguyên Dưỡng SVSQ TĐ8/ĐĐ2/BB/ Khoá V-Vì Dân/Thủ Đức

I. Đất Nước Và Con Người
Đất nước Việt Nam nằm trên ven bờ Thái Bình Dương chiếm vị trí chiến lược quan trọng trong vùng biển lớn này và là cửa ngõ của vùng Đông Nam Á Châu. Vì ở phía nam một nước Trung Hoa khổng lồ luôn luôn theo chủ nghĩa bành trướng, nên con người Việt Nam, từ nghìn xưa, đã chịu nhiều thử thách điêu đứng để trường tồn. Ở thời điểm cận đại và hiện đại, với vị thế chính trị địa dư chiến lược đó, đất nước và con người Việt Nam không thể thoát được sự tranh chấp của các thế lực lớn lao Đông Tây, nên đã và sẽ còn nhiều gian khổ khôn lường.

Dù đứng trên quan điểm nào, khi viết về cuộc chiến ba-mươi-năm của thế kỷ trước, người Việt có lương tâm sẽ không khỏi chạnh lòng thương cảm về một giai đoạn lịch sử mà cả dân tộc đã đắm mình trong máu lệ và khói lửa lan tràn trên mọi nẻo đường, trong mọi thôn xóm, làng mạc, trong mọi phố phường hay thành thị. Xa ở tận biên thuỳ Việt Bắc, tận rặng dãy Trường Sơn, tận vùng đất mũi Cà Mau. Gần ngay ở giữa cố đô Hà Nội, giữa kinh đô Huế, và giữa tân đô Sài Gòn. Ở đâu cũng có chiến tranh. Ở đâu cũng có dấu vết của tàn phá. Ở đâu cũng chỉ thấy giết chóc và huỷ diệt, thương tâm và đau khổ. Là chứng nhân và nạn nhân của cuộc chiến đau lòng đó, chúng tôi, hàng trăm ngàn chiến sĩ miền Nam đã ngậm ngùi chôn vùi kiếp sống như con vật lao động trong tận đáy ngục tù ở núi rừng Việt Bắc trong thời gian dài sau khi đã chôn vùi tuổi thanh xuân cho một cuộc chiến không biết sẽ đưa dân tộc và đất nước đi về đâu… Người ta nói quá nhiều trong tai chúng tôi về độc lập, về tự do và hạnh phúc. Dĩ nhiên thế hệ chúng tôi đã không tìm được những chiếc bánh tưởng chừng như thơm ngon đó. Toàn là bánh vẽ. Chúng tôi đã không bao giờ tìm thấy hay được hưởng hạnh phúc thực sự của những con người trên một đất nước có thanh khí và ánh sáng. Cuộc chiến diễn ra dài dẵng. Chỉ có sát khí đằng đằng, khói lửa trùng trùng và máu lệ tuôn trào thuở ấy.
Chúng tôi không tin rằng đã đếm đủ bao nhiêu lớp người của thế hệ chúng tôi đã khóc. Những con dân đau khổ của miền Bắc khóc nhiều lắm. Đó là những ông bà mất cháu, những cha mẹ mất con, những người vợ mất chồng, những trẻ thơ mất mẹ cha, những người tình mất nhau… Họ đã biết bao lần nhìn về miền Nam mà tìm hình bóng người thân trên núi rừng thăm thẳm của các con đường mòn Trường Sơn, ở Tây Nguyên, ở Bình Trị Thiên, ở Nam Bộ; hay ở Lào, hoặc ở Miên? Mắt họ đã tràn lệ ngóng trông, lòng họ đã mỏi mòn nhớ nhung, chờ đợi… những con người “sinh bắc tử nam”… đã ra đi và đã mất. Mất cả thể xác lẫn linh hồn ở những chiến trường xa xôi đó. Người ra đi đã trở thành những liệt sĩ, đem xương cốt mà đấp phù đồ cho đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN).

Chúng tôi cũng đã nhìn thấy không biết bao nhiêu con dân miền Nam với những dòng nước mắt đầm đìa trong suốt nhiều năm. Họ là các đấng sinh thành, là quả phụ cô nhi, là anh chị em, bạn bè hay là người yêu của những chiến sĩ miền Nam. Những chiến sĩ này đã hi sinh ở khắp chiến trường miền Nam. Ở biên giới, trên cao nguyên, dưới duyên hải, ngoài biển cả, trong núi rừng, đồng ruộng, nương rẫy, thôn xóm, thành thị, phố phường. Ở khắp nơi. Ở Cam Lộ, Pleime, ở Đồng Xoài, Bình Giả. Ở Quảng Trị, Thừa Thiên, ở Pleiku, Kontum! Còn ở đâu và ở đâu nữa? Buôn Mê Thuột hay Phước Long? Tây Ninh hay An Lộc? Long Khánh hay Sài Gòn? Chương Thiện hay Cà Mau? Ở đâu mà máu người không đổ! Những chiến sĩ miền Nam nầy, thoải mái và ước mơ nhiều hơn, cho rằng cuộc chiến nầy là để bảo vệ chế độ tự do của miền Nam hay ít ra vì… mắt họ đã từng nhìn thấy những người bên kia mang nhãn hiệu “giải phóng” cầm súng giết hàng nghìn người vô tội, bất kể người già, đàn bà và trẻ con ở Huế –Tết Mậu Thân– hoặc dùng đại pháo bắn banh xác nạn nhân trên các con đường chạy giặc, mà động mối thương tâm, mang hùng khí mặc áo trận vào người? Vâng, khi nhìn vào kinh thành cũ thấy xương người vô tội chất cao bằng đầu và thấy trên các con đường đó máu đã chảy tràn lộ loang sông, thây đã phơi mãng địa… lòng dạ nào không đau xót! Những chiến sĩ này là những con người biết yêu, ghét, buồn, thương như những cán binh Trường Sơn. Chỉ khác hơn là biết đầu ngọn súng… chĩa về đâu… Họ không là những tấc sắt bị hút vào chiến trường. Nhưng ở chiều sâu của cuộc chiến nhiêu khê đó, họ đã mặc nhiên thành những “chiến sĩ dung nham” như một nhà thơ lớn miền Nam đã nói.

Thực ra, có thể nói hầu như tất cả những cán binh miền Bắc hay chiến sĩ miền Nam đều là những người yêu nước. Họ đánh nhau vì tấm lòng yêu nước đó đã bị… lợi dụng tạo nên chiến cuộc mà chính họ không hề muốn. Và rồi nạn nhân của cuộc chiến đó là con số không thể kiểm kê nổi, dù ở miền Bắc hay miền Nam. Quá nhiều. Hàng triệu… triệu con người. Chúng tôi, người Việt Nam trong thế hệ chúng tôi chiến đấu bảo vệ đất nước và đã trở thành những con người chịu đựng tất cả nỗi đau của kiếp người trên mảnh đất đầy thương yêu nhưng cũng đầy bất trắc đó, nơi đã có những bậc đại anh thư những bậc đại anh hùng và còn biết bao người nữa cầm vũ khí chống giặc từ những vị vua, quan, sĩ phu, lãnh tướng đến những nông dân áo vải, từ thày giáo đến học sinh. Họ sẵn sàng quên sự nghiệp, quên gia đình và hi sinh bản thân khi cần thiết. Họ thản nhiên ra pháp trường như một Nguyễn Thái Học, một Phó Đức Chính, những ai và những ai nữa. Kẻ thành công, người thất bại nhưng người dân Việt yêu nước không ai có thể quên lời hịch tựa như lời sấm truyền “Nam Quốc Sơn Hà”… đầy hùng khí như một tuyên ngôn về chủ quyền dân tộc trên lãnh thổ của mình hay quốc sách tối thượng giữ nước ghi rõ trong Bình Ngô Đại Cáo hùng lược mà nhân hậu, thể hiện tinh thần dũng liệt với trái tim cao cả yêu chuộng hoà bình của người Việt Nam. Từ nghìn trước dân tộc Việt đã là như thế. Đến nghìn sau, dân tộc Việt sẽ cũng vẫn như thế, không bao giờ thay đổi. Đất nước và con người Việt Nam sẽ trường tồn vì chúng ta thừa hưởng những truyền thống quý báu của tiền nhân: hùng lược không thua một dân tộc nào mà nhân hậu hơn nhiều dân tộc khác.
Thời gian trong hơn một thập niền gần đây, không ít học giả và sử gia ngoại quốc có tầm nhìn xuyên suốt cho rằng Chiến tranh Việt Nam 1945-1975 không là chiến tranh giành độc lập cho Việt Nam do người Việt chủ động; ngược lại, đó là một cuộc chiến mang tính “ý thức hệ”. Trong khi đó thì tất cả những người cầm súng Việt Nam nghĩ rằng mình chiến đấu vì độc lập và tự do cho đất nước; vì tình yêu tổ quốc. Nhiều nhà nghiên cứu và biên soạn Việt Nam chân chính đồng ý với quan điểm trên đây nhưng cho rằng nếu đó là cuộc chiến “ý thức hệ” thì các thứ “hệ ý thức” đều do các thế lực lớn mạnh ngoại bang mang vào… áp đặt trên con người của đất nước mình, buộc phải theo như một cưỡng chế không chống lại nổi. Tiếc thay, thế hệ chúng tôi lắm người không hiểu hết sự vận chuyển của lịch sử thế giới và của đất nước. Hoặc có hiểu biết nhưng bất lực trước sự vận chuyển đó! Bởi vì những gì mà đại đa số những người bình thường như chúng tôi đã nghĩ và đã làm là không tự chúng tôi muốn mà bị buộc phải nghĩ và phải làm bởi các cấp lãnh đạo và các… lãnh tụ, mặc dù không ít người trong chúng tôi có thể nghĩ khác hơn. Chính cấp lãnh đạo và lãnh tụ Việt Nam –theo cách nói của từng miền– là những người không đủ tri thức lãnh hội sự vận chuyển lớn lao này nhưng có đủ… bản lãnh để dẫn dắt chúng tôi vào cuộc chiến thảm hại như nó đã diễn ra. Nhất là cán, chính, binh và quần chúng miền Bắc bị thúc bách theo từng bậc của hệ thống chính trị đảng bộ CSVN. Đứng trên tất cả là những lãnh tụ đảng.

Trong giai đoạn lịch sử đó, Việt Nam không có một tầng lớp lãnh đạo và lãnh tụ thực sự xứng đáng. Và nếu có, những vị này cũng đã nhanh chóng bị loại ra khỏi quỹ đạo vận hành của các thế lực cực mạnh của thế giới va chạm nhau vì quyền lợi của họ. Đã có những lãnh đạo và lãnh tụ tưởng mình đã tạo lịch sử trong khi vẫn biết, hay không biết.., chính những thế lực này tạo nên họ và cho họ một thế đứng trong chế độ mà các thế lực này dựng nên. Tất nhiên, trừ thế hệ trẻ trong nước sinh sau khi chiến tranh chấm dứt, và đa số những người còn quáng-gà mù mờ nào đó của bên thắng cuộc, nếu là người VN ở mọi nơi trên địa cầu ai cũng nhận ra những thế lực khuynh đảo thế giới ở thời điểm đó là những thế lực nào và thứ “hệ” ý thức mà họ đưa vào… “hấp” cấp lãnh đạo và lãnh tụ VN để những người này… “thụ” rồi thực hiện trên dải đất chiến lược của dân tộc Việt Nam là những thứ “hệ” tư tưởng nào rồi. Nếu nói rõ ràng hơn, những thế lực –thường được gọi là các cường quốc mạnh về chính trị, quân bị và kinh tế Đông, Tây, ở thời điểm đó– như là Nhật, liên quân Đồng Minh Anh-Hoa Kỳ-Quốc Dân Đảng Trung Hoa (QDĐ/TH), Liên-bang Xô-viết Nga, đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ), và thế lực thực-dân-hầu-tàn là Pháp –đã trở lại Việt Nam sau Đệ II Thế Chiến.

Cuộc chiến từ Mùa Thu năm 1945 trên đất nước Việt Nam trở đi, được những trí thức chính trị và những sử gia có uy tín thế giới cho là một cuộc chiến tranh uỷ nhiệm [a mandate war] nếu không nói nôm na là một cuộc đánh mướn [a proxy war] của lực lượng địa phương cho “Chủ nghĩa Cộng Sản Quốc tế” (CSQT) đang bành trướng giành đất đai và thị trường, va chạm mạnh vào sự che chắn quyền lợi lãnh địa và kinh tế của khối Thế Giới Tự Do (TGTD-Free World) ở Âu Châu lẫn Á Châu. Ở khắp nơi. Ở đây chúng tôi không đề cập đến Liên Xô đã chiếm lãnh thổ của các nước lận cận làm lãnh thổ của mình và nhuộm đỏ cả Đông Âu sau Thế Chiến Thứ II và tiến sang Á châu. Nhiều người gọi là Cộng Sản Quốc tế (CSQT). Một khi CSQT vào Lục địa Trung Quốc, nhất định sẽ lấn xuống Đông Dương, Đông Nam Á và mon men ra Nam Thái Bình Dương. Chiến tranh Đông Dương ở thời điểm đó là một thế chiến thu hẹp trên phạm trù “ý thức hệ” trong vùng lãnh địa chiến lược này, quan trọng nhất là Việt Nam. CSTQ thành công và lập chính quyền trên lục địa rộng lớn này, nhất thiết chiến tranh vùng đất chiến lược Việt Nam tất sẽ phải diễn ra dữ dội hơn và bản chất “proxy war” lộ diện rõ ràng hơn. Và nó đã diễn ra. Đây mới chính là bản chất chính của Chiến tranh Việt Nam.
Lãnh tụ và lãnh đạo Việt Nam của “cuộc chiến uỷ nhiệm” này là những ai theo các dấu mốc thời gian; và, chế độ họ dựng nên theo các quan thầy cộng sản và khối tự do trên các miền đất nước Việt Nam diến tiến như thế nào? Xin viết như một tham luận hay như một bài luận sử ngắn của một chứng nhân với ít kinh nghiệm và nhận định riêng.
II. Các Thế Lực Ức Chế Và Sách Động Chiến Tranh

Thứ nhất, Thế lực Thực Dân Pháp Các thập niên sau của Thế kỷ XIX ba nước Đông Dương Việt, Miên và Lào là thuộc địa của thực dân Pháp. Riêng chế độ thuộc địa Việt Nam được ấn định rõ trong Hiệp ước Patenote 1884 ký kết ngày 6/6/1884 giữa Pháp và Triều đình nhà Nguyễn.Việt Nam bị Pháp chia ra làm ba “kỳ”: Nam Kỳ tự trị, Trung và Bắc Kỳ bảo hộ. (1) Nhà Nguyễn vẫn giữ ngôi vị và chế độ quan quyền của triều đình vẫn tồn tại ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ nhưng quyền chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế và hành chính Pháp nắm toàn bộ. Thực dân Pháp đã đào tạo nên một lớp người mới trải nhiều thế hệ phục vụ cho họ. Dĩ nhiên tinh thần yêu nước dẫn đến những cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc diễn ra trong suốt tám mươi năm mất chủ quyền khởi đi từ các vua, các quan đàng cựu, các lãnh tướng, sĩ phu, các nhà cách mạng, sinh viên học sinh, binh lính và quần chúng nông dân Việt Nam từ Bắc chí Nam. Tất cả đều bị Pháp đàn áp và triệt hạ, dù là các cuộc nổi dậy công khai hay hoạt động tiềm ẩn của các hội kín. Hội kín là các đảng cách mạng của người Việt quốc gia lẫn người Việt cộng sản (do CSQT đào đạo trước và trong Đệ II Thế Chiến). Trong các thập niên đầu Thế kỷ XX, hầu hết các lãnh tụ các đảng Cánh mạng Việt Nam đều được Chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Hoa bảo trợ và cho lưu trú trong lãnh thổ. Một số nhà cách mạng khác ở Nhật và một số ít ở các nước Âu châu. Trong Đệ II Thế Chiến, thế lực thực dân Pháp ở Đông Dương bị Nhật khống chế, rồi đảo chính. Tuy nhiên chỉ ít lâu sau khi Nhật đầu hàng, lực lượng viễn chinh Pháp đã trở lại. Chiến tranh Việt Nam bắt đầu…

Thứ hai, Thế lực Nhật Bản Nước Nhật, một thế lực mới ở Thái Bình Dương, có một quân đội hùng cường, kỷ luật cao, tận trung với Nhật Hoàng, trang bị vũ khí hiện đại và các hạm đội hải quân tân tiến –với sách lược “Đại Đông Á”– chẳng những muốn làm bá chủ vùng trung và nam Thái Bình Dương rộng lớn mà còn muốn chiếm đóng và thu thập tài nguyên của cả Á Châu trù phú. Ngày 7/12/1941 Nhật đột ngột tấn công Trân Châu Cảng của Hoa Kỳ (trên đảo Oahu, quần đảo Hawaii, thuộc Hoa Kỳ) gây chiến với Hoa Kỳ, trở thành một trong ba thế lực phe “Trục”–Đức-Ý-Nhật. (2) Trong ba năm, từ tháng 1/1941 đến tháng 1/1943, Nhật chiếm một số quần đảo quan trọng ở vùng trung và nam đại dương này, đánh nhau dữ dội với lực lượng Hoa Kỳ và các đồng minh địa phương ở các vùng đó và tấn chiếm Phi Luật Tân, Nam Dương, Bornéo. Xa hơn về phía Nam, tấn công lực lượng Hoàng gia Anh ở Viễn Đông: Singapore và Mãlai; chiếm nhiều vùng đảo chiến lược khác ở nam Thái Bình Dương và tiến sang Ấn Độ Dương. Trên Lục địa đông Á Châu, đánh chiếm Mãn Châu, Đại Hàn, miền bắc Trung Hoa, quân CSTQ của Mao Trạch Đông rút sâu vào Tây An và Thiểm Tây. Quân QDĐ/TH của Tưởng Giới Thạch rút xuống Tứ Xuyên và Vân Nam. Ở Đông Nam Á, Nhật chiếm Thái Lan, ép chính quyền Pháp ở Đông Dương ký thoả ước để Nhật được tự do chuyển quân trên toàn lãnh thổ thuộc địa này, sử dụng tất cả phi, hải cảng Việt Nam, và đặt Bộ Tư lệnh “Vùng Chiến Lược Tài Nguyên Nam Á Châu” [The Strategic Southern Resources Headquarters] của Thống Chế Terauchi –Field Marshal Hisaichi Terauchi, tướng soái của tất cả lực lượng Nhật vùng Nam Thái Bình Dương, Đông Á và Đông Nam Á– tại Sài Gòn. (3) Đầu năm 1944, Nhật mở cuốc tấn công lớn thứ hai trên Lục địa Trung Hoa. Cánh quân phía đông bắc gồm hơn 820,000 quân tấn công tuyến Dương Châu và Hán Khẩu, cắt toàn bộ các tuyến tiếp vận tàu hoả miền đông bắc Trung Hoa vào Trùng Khánh. Ở phía đông nam, hai cánh quân trên 300,000 quân từ đảo Hải Nam tiến đánh Nam Kinh và từ Bắc Việt tiến đánh Quảng Đông. (4) Một cánh quân lớn khác tấn công quân Đồng Minh Anh-Ấn-Miến và Hoa Kỳ-QDĐ/TH ở Miến Điện (Burma). Cuối năm 1944, Nhật cắt đường tiếp vận của Đồng Minh từ Miến Điện vào Côn Minh, lực lượng của Tưởng Giới Thạch giữ Côn Minh đến Trùng Khánh. Tuyến phòng thủ đông nam từ Liêu Châu, Nam Ninh đến Lào Kay, biên giới Việt-Hoa. (5) Với sách lược Đại Đông Á, với tham vọng làm chủ Thái Bình Dương, Lục địa Trung Hoa– lẫn vùng Đông Nam Á, và các quốc gia khác thuộc địa của Anh, Hoa Kỳ và Hoà Lan… tất nhiên Nhật, dù hùng mạnh, cũng lâm vào thế va chạm với nhiều thế lực: Hoa Kỳ-Anh và các đồng minh ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Nguy hiểm nhất là Nhật đã đối đầu với thế lực Hoa Kỳ đang phát triển mọi mặt: một sách lược chính trị “liên minh quân sự chặt chẽ” trong thế giới tự do và một hoạch đồ tạo dựng thế hệ vũ khí mới dựa trên khoa học kỹ thuật tân tiến nhất. Liên-Xô cũng chuẩn bị tham chiến trong khối Đồng Minh Anh-Hoa Kỳ ở Mãn Châu.

Thứ Ba, Thế lực Đồng Minh Anh-Hoa Kỳ Tư lệnh Lực lượng Hoàng gia Anh ở Viễn Đông kiêm Tư lệnh Tối cao Liên quân Đồng Minh “Vùng Chiến trường Ấn Độ-Miến Điện-Trung Hoa” (Supreme Commanding General of the China-Burma-India Theater) là Đô đốc Sir Louis Mountbatten, lúc đó đặt Bộ Tư lệnh ở Ấn Độ. Tư lệnh phó vùng chiến trường này, trên danh nghĩa, là Trung tướng Hoa Kỳ (Lieutenant General) Joseph W. Stilwell, được Washington đưa sang Trung Hoa làm Tham mưu trưởng cho Thống chế Tưởng Giới Thạch từ tháng 3/1942 và là Tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ ở đó. Sau khi quân Nhật chiếm Miến Điện, Trung tướng Albert C. Wedemayer thay thế Tướng Stiwell. Wedemayer đã giúp Tưởng cải tổ lực lượng QDĐ/TH, giữ vững Trùng Khánh-Côn Minh và chận đứng sự tấn công vào tuyến của Tưởng Giới Thạch từ Hán Khẩu xuống Liêu Châu đến vùng biên giới Lào Kay, Việt Nam. (6) Đồng Minh Anh-Hoa Kỳ chia chiến trường Thái Bình Dương, Á Châu và Ấn Độ Dương ra làm hai vùng chiến lược:
A. Vùng Chiến Lược Đông Nam Á, Nam Ấn Độ Dương, Miến Điện và Ấn Độ do Lực lượng Hoàng gia Anh ở Viễn Đông trách nhiệm B. Vùng chiến lược Đông Á, Thái Bình Dương và Lục địa Trung Hoa do lực lượng Hoa Kỳ phụ trách.
Vùng chiến lược của Hoa Kỳ lại chia thành ba khu vực trách nhiệm với ba Bộ Tư lệnh do các tướng lãnh lỗi lạc của Hoa Kỳ chỉ huy. 1). Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ ở Lục địa Trung Hoa do Tướng Joseph W. Stiwell chỉ huy và kiêm nhiệm các chức vụ đồng minh như trên. Sau đó là Tướng Wedemeyer. 2). Bộ Tư Lệnh vùng Đông Nam Thái Bình Dương –Southeast Pacific Area– bao gồm các nước và quần đảo nằm trong đại dương phía nam, kể cả Úc Châu, New Guinea, Nam Dương, Sumatra và Phi Luật Tân, Đại tướng (General) MacArthur làm Tư lệnh. 3). Bộ Tư Lệnh vùng Trung và Bắc Thái Bình Dương –North and Central Pacific Area và tất cả các khu vực khác không thuộc Tướng MacArthur chỉ huy đều do Hải Quân Đô đốc (Admiral) Chester W. Nimitz, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương kiêm nhiệm. Lực lượng Hoa Kỳ, Anh và đồng minh địa phương đánh nhau dữ dội với các lực lượng Hải, Không và Lục quân Nhật hầu như khắp các nước và quần đảo lớn trong Thái Bình Dương và trên Lục địa Trung Hoa, trừ Đông Dương của Pháp, bị Đồng Minh Anh-Hoa Kỳ cô lập và bị Nhật khống chế. Cuối cùng, trong đêm rạng ngày 9/3/l945 Nhật “đảo chính” Pháp. Chính quyền thuộc địa và quân đội Pháp ở Việt, Miên và Lào hoàn toàn sụp̣ đổ, tan rã. (7) Câu hỏi được nêu lên là tại sao Hoa Kỳ và Anh kết liên minh chặt chẽ trong Đệ II Thế Chiến từ Âu Châu, Phi Châu, sang Á Châu và trên các đại dương nhưng không liên minh với thế lực Pháp ở Đông Dương? Có tài liệu cho rằng Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt có mặc cảm với chính quyền thực dân Pháp ở đó. Tuy nhiên, bên trong còn nhiều uẩn khúc. Nên tìm hiểu nguyên uỷ này mới hiểu rõ hơn về chiến tranh Đông Dương và Việt Nam sau đó.

Ở mặt trận Âu Châu, từ ngày 10/5/1940, Đức Quốc Xã tung ba Lộ quân A, B, C [Army Groups) và hai Tập đoàn Chiến xa Panzer (Armored Armies) --tất cả hơn 3,000,000 quân-- tấn công Hoà Lan, Bỉ và Pháp. Lộ quân B tấn ông chiếm Hoà Lan và phần lãnh thổ phía đông nước Bỉ. Lộ quân A lớn mạnh nhất, tấn công tuyến phòng thủ của Pháp vùng Ardennes. Lộ quân C chiếm Luxembourg và tấn công quân Pháp ở chiến luỹ Maginot vùng Alsace-Lorraine. Một cánh quân Ý tấn công quân Pháp vùng núi Alpes (Alpine Mountains) phía đông nam Pháp. Ngày 20/5/1940, tuyến phòng thủ của Pháp ở Sédan vùng rừng Ardennes, khoảng 140 dặm đông bắc Paris bị các Quân đoàn Chiến xa Đức chọc thủng. Từ đó, một Quân đoàn Panzer thuộc Lộ quân A tiến ra Pas-de-Calais vùng biển Manche tấn công liên quân Đồng Minh gồm Tập đoàn I của Pháp, Lực lượng Viễn chinh Anh và Quân lực Bỉ (French First Army, British Expeditionary Force –BEF, and Belgian Army) và phối hợp với Lộ quân B ở đông bắc bao vây cô lập Dunkerque và lãnh thổ còn lại của Bỉ. Ngày 31/5/1940, Bỉ đầu hàng. Từ ngày 4/6/1940 cả hai Lộ quân B và A của Đức và các Tập đoàn Chiến xa Panzer tấn công dữ dội tuyến phòng thủ mới của Tướng Maxime Weygand, Tổng Tư lệnh Quân lực Pháp, từ cảng Le Havre theo tả ngạn sông Seine nối với chiến luỹ Maginot ở nam Luxembourg, phòng thủ Thủ đô Paris và các tỉnh phía nam trong khi Lộ quân C Đức tiếp tục tấn công tuyến Maginot. Ngày 10/6/1940 Chính phủ Pháp dời về Bordeaux, phía nam. Ngày 13/6 Paris bỏ ngõ. Ngày 14/6 quân Đức chiếm Paris. Ngày 16/6/1940 Thủ tướng Pháp Paul Reynaud từ chức. Thống chế Henri Phillippe Pétain lập chính phủ ở Vichy và điều đình với Đức. Ngày 21/6/1940 Đức Quốc Xã và Pháp ký hoà ước: Pháp đầu hàng. Quân đội Pháp hầu như tan rã. Trước đó, trong tuẩn lễ từ 28/5 đến 4/6/1940, Thủ tướng Anh Churchill cho phép 850 tàu thuỷ Anh, đủ cỡ, cập bến cảng Dunkerque di tản 338,000 dân Pháp và Bỉ sang Anh tị nạn, trong đó có gần 140,000 quân nhân Pháp và Bỉ rã ngũ. Thiếu tướng Charles A. de Gaulle, Tư lệnh Sư đoàn 4 Chiến xa Pháp và mới được bổ nhậm Thứ trưởng Quốc phòng trong Chính phủ Reynaud, bay sang Anh trong ngày 17/6/1940. Ở đó, ngày 18/6, de Gaulle tuyên bố thành lập Lực lượng Pháp Tự do (LLPTD -Free French Forces) để giải phóng đất nước. Như vậy, thời điểm đó Pháp có hai thế lực: Trong nước là Chánh phủ Vichy của Thống chế Pétain bị Đức khống chế. Tuy nhiên hầu hết chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương và Bắc Phi theo chính phủ này. Ngược lại, LLPTD của de Gaulle ở Anh quốc chừng 10,000 người.

Tướng de Gaulle với cá tính tự hãnh và lòng yêu nước cực đoan, muốn LLPTD hoạt động độc lập và muốn LLPTD được đối xử như một đồng minh ngang hàng với Hoa Kỳ và Anh quốc. Thủ tướng Anh Winston Churchill tuy không thích de Gaulle, nhưng vẫn yểm trợ LLPTD, trong khi Tổng Thống Franklin Roosevelt không thừa nhận de Gaulle. Do những bất đồng chính kiến vớí Churchill và thiếu sự yểm trợ của Roosevelt nên sau khi lực lượng Đồng Minh đổ bộ phản công quân Đức ở Bắc Phi tháng 11/1942, de Gaulle rời Luân Đôn, dời bản doanh LLPTD sang Algiers, thủ đô Algérie, tháng 5/1943. Ở đó de Gaulle được các nhà chính trị và tướng lãnh Pháp trong nước và thuộc địa ủng hộ, trừ chính quyền thuộc địa Đông Dương. Khi Đồng Minh đổ bộ Normandie (Operation Overlord 6/6/1944), LLPTD của de Gaulle đã lên đến trên 400,000 người. Tuy nhiên trong cuộc đổ bộ này chỉ có 900 quân Nhảy Dù Pháp cùng nhảy chung với Lữ đoàn Đặc biệt của Không quân Anh (the British Special Air Service –SAS). Đó là đơn vị duy nhất của Pháp tham gia cuộc đổ bộ Normandie.(8)
Roosevelt không công nhận de Gaulle với những quyết định và hành động thấy rõ:
Thứ nhất, về kế hoạch Overlord đổ bộ Normandie của Đồng Minh, Roosevelt khuyến cáo Churchill không cho de Gaullle biết. Tuy nhiên Churchill cần sự tham chiến của LLPTD ở Âu Châu, đã mời de Gaulle sang Luân Đôn hội diện ngày 4/6/1944 và cho de Gaulle biết.
Thứ hai, Roosevelt muốn đặt “lãnh thổ Pháp giải phóng” dưới sự quản chính --hay uỷ trị-- của một Chính phủ Hành chánh Quân sự các Lãnh thổ bị Chiếm đóng (Allied Military Government of Occupied Territories) cho đến khi Pháp tổ chức bầu cử chính phủ mới. De Gaulle nổi giận. Ngày hôm sau, 5/6/1944 Ông tuyến bố LLPTD sẽ lãnh đạo một nước Pháp giải phóng. Điều bất ngờ đã diễn ra chỉ hơn một tuần sau cuộc đổ bộ Normandie làm thay đổi cục diện. Ngày 14/6/1944, khi các cánh quân Đồng Minh Anh-Hoa Kỳ đang đánh nhau dữ dội với quân Đức ở cả khu vực Normandie, de Gaulle đột ngột về Pháp với các cấp lãnh đạo LLPTD. Ông đến thành phố nhỏ Bayeux, mới tái chiếm ngày 7/6/1944, là nơi Tướng Sir Bernard Law Montgomery, Tư lệnh Lộ quân XXI (21st British Army Group), Tư lệnh Mặt trận Normandie đặt BTL/HQ, cách bãi đổ bộ chừng 5 dặm và thành phố Caen chừng 12 dặm. De Gaulle chỉ định sĩ quan tuỳ viên là Francois Coulet thành lập chính quyền “Hành Chánh Dân Vụ” --French Civil Administration-- tạm thời lấy Bayeux làm thủ đô, nên gọi là “Bayeux Administration”. Sĩ quan và đơn vị Đồng Minh trong vùng hành quân, lúc đó và sau đó, đều liên lạc với Uỷ viên Cộng hoà Coulet --“Republican Comissionner”. (9) Pháp không rơi vào tình trạng bị “uỷ trị”.
Điều quan trọng hơn là Đại tướng Dwight D. Eisenhower, Tổng Tư lệnh Lực lượng Đồng Minh ở Âu Châu, nhiều lần tiếp xúc riêng vớí de Gaulle, đã có những quyết định khác hơn Roosevelt: để Tập đoàn I (French First Army) của LLPTD, mới tái lập, do Tướng Jean de Lattre de Tassigny chỉ huy, cùng với quân Đồng Minh phản công quân Đức ở Bắc Phi năm 1942 và tái chiếm Pháp ở mặt trận phía Tây –Western Front-- cuối năm 1943. Eisenhower cũng đồng ý sẽ để cho LLPTD của de Gaulle tiến vào Thủ đô Paris trước. Sư đoàn 2 Chiến xa (2nd Armored Division) LLPTD do Tướng Philippe Leclerc de Hautelocque chỉ huy, đổ bộ lên Normandie ngày 1/8/1944 phối thuộc Tập đoàn I Hoa Kỳ của Tướng Omar Bradley tiến đánh Paris. Ngày 25/8, Tướng Đức Dietrich von Cholitz, đầu hàng. De Gaulle vào Paris với Tướng Leclerc. Hôm sau, ngày 26/8/1944, LLPTD diễn binh ở Champs Elysées. Cuối cùng, ngày 29/8/1944, Anh Quốc và Hoa Kỳ cùng thừa nhận LLPTD. Ngày 10/9/1944, LLPTD thành lập Chính phủ Lâm thời Cộng Hoà Pháp Quốc với de Gaulle là Thủ tướng.
Sau đó, liên quân Đồng Minh tiến đánh vào lãnh thổ Đức.
Ở mặt trận “phía Đông” quân Liên Xô Nga tiến nhanh hơn quân Đồng Minh ở mặt trận phía “Tây”. Nằm trong cánh quân này, Tập đoàn I Pháp hơn 320,000 quân của Tướng Jean de Lattre chiếm nhiều vùng lãnh thổ của Đức. Quân Đức khắp các mặt trận thu hẹp và tan rã dần. Chắc chắn sẽ chiến thắng, lúc đó Đồng Minh Hoa Kỳ-Anh-Liên Xô Nga dự định họp ở Yelta để quyết định chia cắt nước Đức và phân vùng ảnh hưởng và quản chính các lãnh thổ bị quân Đức Quốc Xã chiếm đóng và của chính lãnh thổ Đức cho các lực lượng Đồng Minh, đồng thời quy định cơ chế Tổ chức Liên Hiệp Quốc (United Nations).

Thứ ba, dù là Thủ tướng Pháp, de Gaulle không được Đồng Minh Hoa Kỳ-Anh-Nga mời tham dự Hội nghị Yelta tháng 2/1945. Trước đó, Roosevetl yêu cầu Churchill và Stalin không mời de Gaulle vì sự hiện diện của ông này chỉ thêm rắc rối và không thích nghi. (10) Tuy vậy, trong hội nghị này, Churchill viện nhiều lý lẽ giúp cho Pháp được chia vùng quản chính một phần lãnh thổ nước Đức và Thủ đô Berlin đồng thời trở thành một trong năm “Uỷ viên Thường trực”của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc có quyền “phủ quyết”. Nhưng không lâu sau đó, chính Churchill cho rằng de Gaulle là kẻ phản bội và là kẻ thù nguy hiểm nhất của Anh quốc. (11) Đầu tháng 5/1945, quân Đồng Minh bao vây Thủ đô Berlin của Đức Quốc Xã, Hitler tự sát. Ngày 8/5/1945 Đức đầu hàng vô điều kiện. Trước đó, ngày 12/4/1945, Tổng thống Roosevelt từ trần. Người kế vị, Tổng thống Harry S. Truman cũng gặp phải sự đối dầu cứng rắn của de Gaulle. Truman ngán ngẩm de Gaulle và dùng danh từ nặng với ông này. (12) Viện trợ cho Pháp theo kế hoạch Marshall cũng hạn chế. Vì vậy, de Gaulle căm hận Hoa Kỳ lẫn Anh, chờ dịp trả hận. Chính quyền Pháp ở Đông Dương tiếp tục bị cô lập.

Thứ tư, ba cường quốc Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô họp Hội nghị Potsdam tháng 7/1945 quyết định về lãnh thổ Việt Nam sau chiến tranh, cũng không mời de Gaulle tham dự. Trong hội nghị, Đồng Minh quyết định chia đôi Việt Nam: Lực lượng Quốc Dân Đảng Trung Hoa được uỷ nhiệm giải giới quân Nhật phía bắc Vĩ tuyển 16. Lực lượng Hoàng gia Anh ở Viễn Đông phụ trách phía nam vĩ tuyến này. Như vậy Đồng Minh quyết định chấm dứt vai trò Pháp ở Việt Nam mà không cần cho Pháp biết. Điều này là một sĩ nhục lớn cho Pháp làm de Gaulle nổi giận dữ dội. Ông này tuyên bố “Pháp đã từng đổ máu trên chiến trường Việt Nam, nhất quyết Pháp sẽ trở lại Việt Nam.” (13) Chẳng những đã thực hiện lời hứa mà nhiều dịp sau đó de Gaulle còn gián trả cho các... ân nhân Anh và Hoa Kỳ những đòn chính trị và ngoại giao đau điếng mà các thế hệ kế tiếp không thể quên. Chỉ riêng Việt Nam phải nhận chịu cuộc chiến đẫm máu sau đó. Đất nước Việt Nam nhược tiểu nhiều lần bị các thế lực cường quyền chia cắt. Dân Việt bị áp bức từ mọi phía, chia rẽ và thù hận nhau triền miên.
III. Cuộc Chiến Uỷ Nhiệm Có Từ Bao Giờ Ở Việt Nam?

Đoạn dẫn sử trên đây cho thấy, cho đến ngày 9/3/1945, Nhật đã triệt tiêu chính quyền Pháp ở Đông Dương và vì sao chính quyền này bị Đồng Minh Anh–Hoa Kỳ cô lập. Các thế lực Cộng Sản Quốc tế, Cộng Sản Trung Hoa, Lực lượng Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Lực lượng Hoàng gia Anh và Quân lực Hoa Kỳ chưa từng bước vào Việt Nam. Nhưng không lâu sau đó, tất cả đều đã trực tiếp hay gián tiếp vào và tạo nên một cuộc chiến mới không kém khốc liệt gây nên những hậu quả tang thương kéo dài trong nhiều thập niên sau đó. Riêng dân tộc Việt Nam thì cuộc chiến đó tạo ra vết thương trầm trọng trong lòng mọi người của nhiều thế hệ. Một vết thương không thể lành mà vẫn âm ỉ loang máu.
Cũng nhắc lại hôm sau ngày Nhật đảo chánh 9/3/45 Đại sứ Nhật vào triểu đình Huế diện kiến nhà Vua Bảo Đại. Ngày 11/3/1945, Nhà Vua triệu cuộc họp khẩn với Cơ Mật Viện. Triều đình Huế ra tuyên ngôn huỷ bỏ Hiệp ước Patenote 1884, và khôi phục chủ quyền Việt Nam. Học giả Trần Trọng Kim được mời lập nội các. Ngày 17/4/1945, nội các thành lập gồm những nhà trí thức yêu nước có thực tài. Nhiều sử gia cho rằng đây là nội các trí thức đầu tiên của một quốc gia thực hiện rõ nét những bước tiến dân chủ căn bản cho Việt Nam. Chính phủ Trần Trọng Kim quyết định những cải tổ quan trọng như: lập qui cho một nền hành chính chính xác, mẫu mực và áp dụng một nền giáo dục tiến bộ, khoa học, làm nền tảng cho tất cả các chính phủ Miền Nam sau này trong Đệ I và Đệ II Cộng Hoà. Đổi quốc hiệu là “Đế Quốc Việt Nam” gọi gọn là Việt Nam; tuy vẫn giữ bài “Đăng Đàn Cung” làm quốc ca, nhưng đổi quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ; sọc ở giữa khuyết một đoạn ngắn tạo cho ba sọc đó thành hình “quẻ ly” --phương Nam-- trong Bát Quái theo Kinh Dịch (ngày 2/6/1948, ở Hồng Kông, trước sự hiện diện của các nhân sĩ và trí thức mời Ông về chấp chánh, Cựu hoàng Bảo Đại vẽ nối đoạn gẫy ở sọc đỏ giữa thành ba sọc liền. Chính phủ QGVN cũng nghe theo lời khuyên của Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn chọn bài “Thanh niên Hành khúc” của Lưu Hữu Phước đổi tên thành “Quốc gia Hành khúc” làm quốc ca). Sau ngày 30/4/1975 người tị nạn cộng sản Việt Nam đưa quốc kỳ (bài quốc ca) theo khắp nơi trên thế giới với tình yêu vô bờ. Tiếc thay Chính phủ Trần Trọng Kim bị Nhật kềm chế, không có Bộ Quốc phòng, không lập quân đội, nên đánh mất thời cơ hưng quốc và kiến quốc trong tay những người Cộng sản. Nổ lực cứu đói cho miền Bắc mùa hè năm đó gặp trở ngại lớn lao là thiếu phương tiện chuyên chở gạo từ miền Nam ra Bắc; vả lại Nhật thu tóm hầu hết lúa gạo khắp các nơi, kể cả việc phá huỷ các cánh đồng lúa ở miền Bắc, lấy đất trồng loại cây đay.
Chỉ bốn tháng sau, ngày 6/8 và ngày 9/8/1945, Không lực Hoa Kỳ thả hai quả bom nguyên tử trên Hiroshima và Nagasaki. Ngày 10/8 Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Ở Việt Nam, ngày 14/8 quân Nhật bất động, chờ quân Đồng Minh vào giải giới. Ngày 17/8 nhân một cuộc biểu tình của Tổng hội Công chức và Giáo giới ở Nhà Hát lớn Hà Nội để ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim, các phần tử cộng sản (lúc đó gọi là Việt Minh) lợi dụng mang cờ đỏ sao vàng và tung hô khẩu hiệu, biến cuộc biểu tình đó thành cuộc biểu tình của Việt Minh. Chính quyền địa phương bất lực. Từ ngày 19/8 đến ngày 23/8/1945, Việt Minh cướp cơ sở hành chính của chính phủ, ở miền Bắc lẫn miền Nam. Sử ghi là “Việt Minh cướp Chính quyền”. Ngày 23/8 Chính phủ Trần Trọng Kim giải tán. Ngày 26/8 Hồ Chí Minh và đơn vị võ trang tuyên truyền của Võ Nguyên Giáp từ Tân Trào, Tuyên Quang, về Hà Nội. Ngày 28/8/1945, ở Huế, nhà Vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị với câu nói thực cảm động:“Trẫm để hạnh phúc của toàn dân trên ngai vàng của Trẫm. Trẫm thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ.”(14) Ngày 2/9/1945, ở vườn hoa Ba Đình, Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập và trình diện “Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà”.Việt Minh nhanh chóng thành lập chính quyền ở khắp nơi, từ tỉnh thành đến huyện xã, với các “uỷ ban hành chính” và đơn vị “du kích”. Nhưng chưa đầy một tuần sau, nỗi lo sợ khủng khiếp bao trùm cả nước. Tao loạn bắt đầu. Những cuộc bắt bớ và xử tử công khai hay âm thầm các phần tử mà Việt Minh gọi là “Việt Gian” trở thành nỗi lo sợ lớn lao của của mọi gia đình từ thành thị tới thôn quê, từ Bắc chí Nam. Lúc bấy giờ người dân thường chỉ biết Việt Minh là cộng sản. Sự hiểu biết đơn giản này lại rất đúng. “Việt Minh” là tên gọi tắt của một tổ chức chính trị vũ trang “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” còn gọi là “Mặt trận Việt Minh” do đảng “Cộng Sản Đông Dương” thành lập ngày 19/5/1941. Đảng Cộng Sản Đông Dương lại do Hồ Chí Minh thành lập năm 1930. Vì vậy Việt Minh là thứ vũ khí lợi hại của CSVN, nói rõ hơn là của Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo đảng CSĐD. Riêng ở Sài Gòn, Trần văn Giàu, một người cộng sản nổi tiếng, thành lập “Ủy ban Hành chánh Nam Bộ”.

Ở thời điểm đó, Quyết nghị Potsdam của Đồng Minh được thi hành. Ngày 18/8/1945, Quân đoàn Lư Hán của QDĐ/TH vào miền Bắc Việt Nam. Ngày 13/9/1945, Sư đoàn Gurka của Anh do Tướng Douglas Gracy chỉ huy vào miền Nam, có một đại đội nhảy dù Pháp vào theo. Tướng Gracey đóng quân ở Sài Gòn, ra lệnh mở cửa các trại giam thả tất cả người Pháp bị Nhật giam giữ và trang bị vũ khí cho họ. Như vậy, ở Sài Gòn Pháp đã có một lực lượng võ trang nhỏ. Ở các tỉnh, Việt Minh vẫn nắm chính quyền, tập du kích, tiếp tục bắt giữ và xữ tội “Việt Gian” và tổ chức “tuần lễ vàng” thu vàng bạc của thị dân để ủng hộ kháng chiến...
Trong giai đoạn này, từ tháng 8 đến tháng ̣9, năm 1945, Đồng Minh Anh-Hoa Kỳ có những thay đổi sách lược quan trọng về cục diện thế giới: sau khi khối trục Đức-Ý-Nhật đầu hàng và tan rã... Liên Xô Nga để lộ rõ bộ mặt “Đế quốc Mới” bành trướng lãnh thổ rộng lớn, xâm chiếm các nước Đông Âu, đồng thời chủ trương xích hoá thế giới, do đó ở Âu Châu lẫn Á Châu, Anh và Hoa Kỳ cần sự hợp tác thực sự của Pháp để cùng ngăn chặn làn sóng đỏ QTCS đang lan tràn khắp nơi. Nên “Hiến Chương Đại Tây Dương” công bố ngày 14/8/1941 của Anh và Hoa Kỳ, trong đó điều khoản đầu tiên đề cập đến quyền tự trị của mọi dân tộc, tạm thời bị bỏ quên. Ngày 24/8/1945 Tổng thống Harry Truman thay đổi thái độ, đón tiếp de Gaulle ở Washington và hứa trong mọi trường hợp không chống lại chính quyền và quân đội Pháp trở lại Đông Dương. (15) Lúc đó, Thủ tướng của Anh quốc là Clement Attlee, đảng Lao Động (Labour Party), để cho Lực lượng Hoàng gia Anh ở Viễn Đông tái lập chính quyền trên các thuộc địa cũ ở Viễn Đông. Hoa Kỳ trở lại Phi Luật Tân. Vì Hội nghị Potsdam đang được thực thi nên Anh và Hoa Kỳ ngầm giúp cho Pháp mang quân trở lại Việt Nam. Nếu Pháp đánh được cộng sản ở Việt Nam, chiếm lại được Đông Dương sẽ trở thành “lá chắn” cho Anh- Hoa Kỳ vùng Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương. Quan niệm về “chiến tranh uỷ nhiệm” hình thành. “Đế quốc Mới Cộng Sản Quốc Tế (the New International Communist Empire) và “Thế giới Tư bản Tự do” (the Capitalist Free World) va chạm nhau về tư tưởng, về thể chế chính trị, về quyền lợi kinh tế và lãnh thổ, nên các quốc gia nhược tiểu sẽ là những vùng đất bị tranh chấp. Sách lược khôn ngoan nhất của cả hai khối là gầy dựng thế lực bản điạ đánh nhau thay họ. Ngay như Pháp, từng là thế lực hùng cường trước đó nhưng sau thế chiến đất nước bị tàn phá, nghèo, và yếu kém mà tham vọng lớn, nên cũng bị đưa vào thế bất khả từ. De Gaulle, vì cần tiền để tái thiết đất nước là nhất là để thực hiện lời tuyên bố của mình nên đã trở lại Đông Dương trong vai trò của một thế lực thực dân cũ vừa là một thế lực được uỷ nhiệm đánh thuê, hiểu ngầm là sách lược mới của Đồng Minh Anh-Hoa Kỳ. Việt Nam chiếm vị trí chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á đã trở thành tiền đồn của Thế giới Tự do. Ngay khi Nhật đầu hàng, de Gaulle đã bổ nhậm Đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu làm Cao uỷ Đông Dương và Đại tướng Jacques Phillipe Leclerc de Hautecloque làm Tư lệnh Quân đoàn Viễn chinh Pháp (Corps Expéditionnaire Francais d’Extrême-Orient -CEFEO) vào Việt Nam trước tiên. Quân đoàn này được Tư lệnh Lực lượng Hoàng gia Anh ở Viễn Đông, Đô đốc Sir Mountbatten, trang bị và giúp phương tiện chuyên chở đã đổ bộ tái chiếm Sài Gòn ngày 21/9/1945.

Thời điểm đó có những sự kiện đáng lưu ý: Ở miền Bắc, khi Hồ Chí Minh và đơn vị võ trang của Võ Nguyên Giáp về Hà Nội còn có đơn vị tình báo võ trang Hoa Kỳ, Toán “Deer Team” hay “Team OSS-202” (OSS: Office of Strategic Services, tiền thân của CIA --Central Intelligence Agency) do Thiếu tá Archimedes Patti chỉ huy, cùng vào theo. Ở miền Nam, ngày 4/9/1945, một đơn vị tình báo võ trang khác, Toán OSS-404 (OSS Team-404) nhảy dù vào vùng phụ cận Sài Gòn giải thoát hơn 200 binh sĩ Hoa Kỳ bị Nhật bắt làm tù binh trước đó. Một tuần sau, Thiếu tá Peter Dewey chỉ huy toán OSS này bị du kích Việt Minh phục kích giết chết. Tháng 12/1945, cả hai Toán OSS-202 ở Hà Nội và OSS-404 ở Sài Gòn đều rút khỏi Việt Nam. Từ đó, Hoa Kỳ không tiếp xúc với Chính phủ Hồ Chí Minh. Tất nhiên Archimedes Patti chỉ huy Toán OSS-202 --và các sĩ quan khác trong toán-- từng huấn luyện cho trung đội võ trang tuyền truyền đầu tiên của Võ Nguyên Giáp ở Pác Bó và từng sống chung với Hồ Chí Minh ở đó, hiểu rõ đơn vị Việt Minh này là cộng sản và Hồ Chí Minh là lãnh tụ cộng sản.
Bảy thập niên sau, trong một bài viết nhìn lại thời điểm đó, một tiến sỉ CSVN cho rằng đáng lẽ cuộc chiến Việt Nam “không thể có” vì nhiều lần Hồ Chí Minh gởi thơ và công hàm cho Tổng thống Truman tỏ thiện chí muốn “hợp tác toàn diện” với Hoa Kỳ, nhưng không được đáp ứng... Luận điểm chính là nếu Hoa Kỳ công nhận chính phủ Hồ Chí Minh, Pháp không thể trở lại Việt Nam, sẽ không có chiến tranh. Nhận định này non nớt. Ở thời điểm đó Đồng Minh Hoa Kỳ-Anh đang thành lập các khối liên minh quân sự –như khối Bắc Đại Tây Dương (NATO, North Atlantic Treaty Organization) để ngăn cản sự bành trướng của CSQT ở Âu châu thì làm sao công nhận và yểm trợ một nước cộng sản mới hình thành... dù bất cứ ở đâu. Vả lại, làm sao mà Truman và Attlee kềm chế nổi tham vọng của de Gaulle? Chiến tranh không thể tránh. Tốt hơn lợi dụng Pháp, cung cấp tài chính, quân bị và chiến cụ để Pháp đánh CSQT ở Đông Dương... làm lá chắn cho mình ở Đông Nam Á và Nam Thái Binh Dương là thượng sách.
IV. Lãnh Tụ Và Chế Đô

Đầu tháng ̣9/1945, Anh và Pháp ký hiệp ước song phương, Anh công nhận chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ và một số tỉnh ở nam Trung Kỳ nên khi Quân đoàn Viễn chinh Pháp đổ vào Sài Gòn, quân Anh rút đi trong tháng ̣đó.
Chỉ hai ngày sau khi QĐVC của Leclerc vào Sài Gòn, Trần văn Giàu đổi tên “Uỷ ban Hành chánh Nam Bộ” thành “Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ.” Bộ đội du kích của Nguyễn Bình, phụ tá của Giàu, đụng một vài trận nhỏ với quân Pháp trong thành phố Sài Gòn. Ngày 23/9/1945, Trần văn Giàu tuyến bố “tiêu thổ kháng chiến” và rút vào An Phú Đông, gầy dựng thêm lực lượng ̣đánh du kích chiến. Các “Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến” ở các tỉnh, huyện theo gương. Nhiều nơi du kích Việt Minh đốt chợ búa, phố phường và nhà cửa dân chúng rồi rút vào vùng sâu hoang vắng --gọi là bưng biền. Sách lược này, Giàu rút kinh nghiệm từ quân đội CS Nga ở Đệ II Thế Chiến chống quân Đức. Ở trong Nam, thời kỳ đó có bài hát với câu mở đầu“Mùa Thu này, ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến...” kích động nhiều người yêu nước, nhất là thanh niên và học sinh, vào “bưng biền” kháng chiến cứu quốc. Chỉ ít lâu sau, đa số trốn chạy Việt Minh về với gia đình. Chiến tranh đã diễn ra ở miền Nam trước. Dân thường lo sợ bỏ thành thị, bỏ nhà cửa, tản cư... chạy giặc. Họ sợ Việt Minh lẫn Pháp. Đêm đêm thấp thỏm sợ du kích Việt Minh bắt cóc, ám sát hay cho “mò tôm --là thủ đoạn du kích giết người bằng cách trói tay chân nạn nhân buộc đá thả cho chìm xuống đáy sông, ngộp nước... chết dần. Ngày ngày thì trông chừng tin tức và tiếng... súng rồi chạy trốn. Tản cư, tản cư... dài dài trước những cuộc bố ráp của quân Pháp xuống các tỉnh, nhất là các tỉnh miền Tây, dân tản cư sợ nhất là bị Thổ cáp-duồn. Thổ gặp dân ở đâu chém đó bằng mã-tấu, bất kể già trẻ bé lớn. “Thổ” là lính của các đơn vị “partisans” người Miên ở các tỉnh miền tây Nam Kỳ, do Pháp thành lập. Chúng dẫn đường cho các đơn vị lính lê dương của Pháp – Légionnaires, đa số là lính Phi Châu-- hành quân, tiếng bình dân gọi là “đi ruồng” hay “đi bố ráp” sâu trong đồng quê, thôn xóm, làng mạc. Gia đình nào chạy không kịp thì đàn ông bị bắn hay chém chết, đàn bà con gái bị hảm hiếp tập thể, chết lên chết xuống; trẻ con bị... đập đầu, bẻ cổ giết chết. Khổ sở trăm bề. Dân tản cư rất sợ hai chữ-kép, một của Việt Minh là ”Việt-gian”; một của Thổ, lính Pháp, là “cáp-duồn” hay chặt đầu. Chữ nào cũng đem lại cái chết hãi hùng.
Quân đoàn Viễn chinh Pháp đánh chiếm các tỉnh miền Nam và tiến chiếm cao nguyên miền Trung. Pháp cũng đã thu phục được Cao Miên và Lào bằng thương lượng không tốn viên đạn nào. Đầu năm 1946, trong Nam, Cao uỷ Đông Dương d’Argenlieu thay đổi sách lược, kêu gọi dân chúng hồi cư, đồng thời ra nghị định cho Nam Kỳ thành lập “Chính Phủ Nam Kỳ Tự Trị”--CP/NKTT (République Autonome de Cochinchine). Từ khi ép buộc nhà Nguyễn ký Hoà ước Patenote năm 1884, thực dân Pháp vẫn coi Nam Kỳ là xứ tự trị. Đầu năm 1946, sau khi đạo quân viễn chinh trở lại Việt Nam, Pháp lập lại ý đồ cắt miền Nam trù phú ra khỏi Việt Nam. Trước hoàn cảnh ly loạn, chết chóc, phố thị tiêu điều, nhà trống người không, ruộng đồng hoang phế, có những nhà trí thức Nam Kỳ muốn đem lại sự bình yên cho xứ sở và quần chúng bằng giải pháp ôn hoà nên chấp nhận tham gia chính phủ tự trị rồi sẽ tiến dần đến những giải pháp khác. Nhân sĩ đầu tiên nhận lập nội các CP/NKTT là Bác sĩ Nguyễn văn Thinh, du học và tốt nghiệp ở Pháp. Nội các thành lập ngày 26/3/1946, Bác sĩ Thinh là thủ tướng với tám bộ trưởng, một thứ trưởng an ninh và công an Thủ đô Sài Gòn, và một cố vấn. Bên cạnh chính phủ là Hội Đồng Nam Kỳ lúc đó đã từ 12 lên đến 42 người. Bên trong hình như có sự hứa hẹn nào đó của Cao uỷ Pháp d’Argenlieu và Uỷ viên Công hoà Pháp ở Nam Kỳ Jean Cedile (“Commissaire République,” thay chức “Gouverneur”cũ --gọi là Thống đốc hay Thống sứ) với Bác sĩ Thinh. Một thời gian sau, biết mình bị lường gạt, bội tín, nhưng trước cường quyền thực dân, không thể làm được gì hơn cho đồng bào, ngày 10/11/1946 Bác sĩ Thinh tự vẫn chết. Phải chăng đây là trường hợp của một Phan Thanh Giản thứ hai? (16) Bác sĩ Lê văn Hoạch thay thể.

Trong thời gian đó, ở miền Bắc Việt Nam, từ khi Quân đoàn Lư Hán đổ vào, đã trở thành gánh nặng và sự lo lắng lớn lao cho Chính phủ VNDCCH của Hồ Chí Minh. Một là phải cung phụng lương thực cho đoàn quân 200,000 người rất phức tạp này. Sau khi bị nạn đói mùa hè năm 1945, trên 2,000,000 người chết, miền Bắc kiệt quệ. Hai là mối tâm hoạn của Hồ: lo sợ các đảng quốc gia Việt Nam từ Hoa Nam trở về, được QDĐ/TH yểm trợ, gầy dựng lực lượng sẽ gây nguy hiểm cho lực lượng Việt Minh và đảng Cộng Sản Đông Dương. Thực vậy,“Việt Nam Quốc Dân Đảng” (Việt Quốc) của Vũ Hồng Khanh và hai đảng quốc gia có uy tín khác là “Đại Việt Quốc Dân Đảng” của Trương Tử Anh và “Đại Việt Dân Chính Đảng”của Nguyễn Tường Tam, liên kết thành một mặt trận gọi là “Mặt Trận Quốc Dân Đảng Việt Nam” đã về miền Bắc Việt Nam đồng thời với “Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội” (Việt Cách) của Nguyễn Hải Thần. Một đảng quốc gia khác là “Đại Việt Duy Tân Cách Mệnh Đảng”của Lý Đông A thành lập cơ sở và lực lượng vũ trang ở Hà Nam, Nam Định và Hoà Bình. Việt Cách cũng thành lập những đơn vị đáng kể. Hồ Chí Minh và đảng CSĐD lo sợ nhất là Việt Quốc. Lực lượng của đảng này lên đến cấp sư đoàn chiếm căn cứ Lào Kay và Sa pa, kiểm soát hoàn toàn vùng biên giới Hoa–Việt trên Đường Thuộc địa # 4 từ Lai Châu, Lào Kay, Cao Bằng, Lạng Sơn và thành lập bảy “Khu Chiến” trong toàn quốc. (17) Trước tình thế đó, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD cần thay đổi chiến lược. Nên, ngày 24/2/1945, khi Tướng Tiêu Văn đại diện của Tưởng Giới Thạch tổ chức cuộc họp tất cả các đảng phái quốc, cộng Việt Nam ở Sứ quán Trung Hoa tại Hà Nội, yêu cầu Hồ Chí Minh mở rộng chính phủ cộng sản và lập chính phủ liên hiệp có sự tham gia của các đảng phái quốc gia và giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương, Hồ Chí Minh nhượng bộ; tất nhiên, Hồ sợ áp lực của cánh quân Lư Hán. Ngày 2/3/1945, Chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (CP/LHKC/VNDCCH) hình thành có sự tham gia của các lãnh tụ Nguyễn Hải Thần, Trương tử Anh, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tiến Hỹ, Nghiêm Kế Tổ, Vũ Hồng Khanh... và các uỷ viên cấp cao các đảng quốc gia cũng được đưa vào Quốc Hội (70 ghế), vào Cố Vấn Đoàn, và vào Kháng Chiến Ủy Viên Hội... Một chánh phủ liên hiệp quốc cộng bấp bênh như con thuyền gỗ rách bươm khi vận nước tròng trành. Hồ Chí Minh ôm ấp âm mưu tiêu diệt các lãnh tụ quốc gia khi tạm thời chịu giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương (thực ra chỉ đổi tên thành “Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Marx”). Ở thời điểm đó các nhà lãnh tụ các đảng quốc gia thực tâm cộng tác với đảng cộng sản để cùng chung lo cho nền độc lâp nước nhà, chưa nhìn thấy rõ mục tiêu chính tiềm ẩn của CSĐD là đấu tranh bạo lực đoạt chính quyền mở rộng đế quốc mới CSQT và trung thành theo đuổi chủ nghĩa Mác-Lê.

Ở trong Nam, Tướng Leclerc Tư lệnh QĐVC Pháp sau khi chiếm được Nam Kỳ và cao nguyên miền Trung muốn mang quân ra miền Bắc. Từ bắc Vĩ tuyến 16 trở ra miền Bắc, thực tế là vùng xôi đậu quốc cộng dù Hồ Chí Minh lãnh đạo CP/LHKC/VNDCCH. Tướng Leclerc chỉ định Jean Sainteny (một sĩ quan tình báo lỗi lạc, từng chỉ huy Toán Tình báo M-5 hay Mission-5 của Pháp ở Hoa Nam, cũng từng quan hệ với Archimedes Patti chỉ huy Toán OSS-202 Hoa Kỳ và Hồ Chí Minh trong thời kỳ hoạt động ở Côn Minh đầu năm 1945, lúc đó Hồ Chí Minh có thể được cả hai sĩ quan tình báo này tuyển chọn, nhưng cuối cùng Hồ cộng tác với Patti, trở về biên giới, lập căn cứ Tân Trào và lập lưới tình báo ở Việt Nam thu thập tin tức quân Nhật cho Hoa Kỳ) thương lượng với Hồ về chuyện Pháp để cho “Việt Nam độc lập” ngược lại Chính phủ Liên Hiệp Việt Nam đồng ý để cho lực lượng Pháp ra miền Bắc thay thế lực lượng QDĐ/TH. Trước đó, ngày 28/2/1946, Pháp đã ký với Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tướng Giới Thạch Hiệp ước Trùng Khánh với hai điều khoản quan trọng: -Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa trên lãnh thổ Trung Hoa và để cho Trung Hoa một số quyền lợi ở miền Bắc Việt Nam; - ngược lại, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc rút quân ra khỏi Bắc Việt Nam và đồng ý cho quân Pháp vào thay thế. Sainteny tạo một cơ hội bằng vàng cho Hồ Chí Minh thực hiện âm mưu tiêu diệt các đảng quốc gia. Hồ Chí Minh đồng ý đề nghị “độc lập”của Pháp và khuyến dụ Vũ Hồng Khanh, thủ lãnh VNQDĐ, cùng ký “Hiệp ước Sơ bộ” ngày 6/3/1946 với Jean Sainteny là người đại diện chính thức của Pháp. Văn bản dự thảo hiệp ước sơ bộ được chính Cao uỷ Đông Dương d’Argenlieu đọc từng chữ trước khi Sainteny ký với Hồ và Khanh. (18) Theo các điều khoản của hiệp ước, Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia độc lập trong Liên Bang Đông Dương; ngược lại Chính phủ LHKCVN để cho 15,000 quân Pháp thay thế 20 vạn quân của QDĐ/TH ở miền Bắc; thực hiện ngưng bắn ở miền Nam. Quan trọng nhất là hiệp định sơ bộ có hiệu lực thi hành ngay sau khi ký. Như vậy vấn đề “độc lập” của Viêt Nam còn phải bàn cãi thêm nhưng việc Pháp đem quân ra miền Bắc được thực hiện ngay trong ngày 6/3/1946. (19) Thực vậy, Leclerc chỉ định Tướng Jean Etienne Valluy đưa một cánh quân lớn của Quân Đoàn Viễn Chinh Pháp danh chính ngôn thuận đổ bộ lên Hải Phòng và tiến vể Hà Nội chờ quân của Lư Hán rút quân dần ra khỏi Bắc Việt. Trong khi đó thì Hồ Chí Minh cho thành lập phái đoàn của Chính Phủ Liên Hiệp Kháng Chiến đàm phán với phái đoàn Pháp ở Đà Lạt trong tháng 5/1946. Đây là phái đoàn liên hiệp duy nhất với thành phần chính gồm 12 đại biểu là những trí tuệ lớn Việt Nam thuở đó, do Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ LHKC/VNDCCH làm trưởng phái đoàn, Võ Nguyên Giáp làm phó. Ngoài ra còn có “Uỷ Ban Giám Định và Cố Vấn” gổm 12 nhà trí thức nữa tham vấn. Phái đoàn Pháp do André Max làm trưởng phái đoàn và 11 thành viên khác. Hội nghị diễn ra từ sáng ngày 19/4/1946 đến 11/5/1946, không đạt được một hiệp ước thoả đáng. Lý do dễ hiểu là Pháp chưa muốn trả độc lập cho Việt Nam, ngược lại chỉ muốn chiếm lại toàn bộ thuốc địa cũ của họ. Hội nghị kết thúc với quyết nghị Việt- Pháp sẽ đàm phán lại về độc lập của Việt Nam ở Fontainebleau Pháp, tháng 7/1946.
Lần này, Hồ Chí Minh chỉ định Phạm văn Đồng làm trưởng phái đoàn các thành viên cộng sản. Ngày 6/7/1946, Phái đoàn của Đồng sang Pháp. Hồ Chí Minh cùng đi chung. Hồ Chí Minh đi Pháp để làm gì? Phải chăng để lánh mặt sau khi ra mật lệnh cho thủ hạ tiêu diệt tất cả lãnh tụ và các đảng phái quốc gia --mối tâm hoạn của Hồ-- trong CP/LHKC. Trong số những lãnh tụ các đảng phái quốc gia có những vị mà Hồ mang ơn vì được họ che chở và cũng từng thực tâm chấp nhận để cho Hồ mang cả tổ chức theo về cộng tác với mục đích duy nhất là cùng nhau đánh thực dân thu hồi độc lập cho đất nước và dân tộc. Nhưng là lãnh tụ cộng sản được Đệ III CSQT đào tạo tại Mạc Tư Khoa, Hồ chỉ biết phục vụ cho “mặt trời lý tưởng” của ông là chủ nghĩa Công sản Mác-Lê. Dù phải thanh toán những ân nhân cũ, các lãnh tụ quốc gia thành tâm nhưng thiếu bản lĩnh, để độc quyền tiến hành sứ mệnh được các quan thầy giao phó là xích hóa đất nước, và “giải phóng giai cấp” trên quan điểm vô sản, Hồ cũng làm. Dân tộc là thứ yếu, tất nhiên Hồ phải dẹp sạch các trở lực cản ngăn bước tiến của mình. Giết lãnh tụ, tiêu diệt các đảng phái quốc gia từng bao dung Hồ khi còn trên đất Tàu từ thập niên trước, và hợp tác với Hồ trong chính phủ liên hiệp mới đó, ít ra Hồ Chí Minh không tự vấn và tự dối lương tâm: “thà phản bạn hơn là phản thầy”. Vả lại, những lãnh tụ các đảng phái quốc gia chỉ lo giành độc lập dân tộc đâu phải là bạn của Hổ Chí Minh và đảng CSĐD; họ là kẻ thù tư tưởng và giai cấp, cần thanh toán. Trong hơn hai tháng –từ tháng 7 đến tháng 9/1946-- Hổ Chí Minh lánh mặt ở Pháp thì ở Việt Nam, cuộc triệt hạ các đảng phái quốc gia đã diễn ra đẫm máu bởi các đệ tử của Hồ. Cuộc triệt hạ này đại qui mô, có kế hoạch và sự phối hợp của lực lượng viễn chinh Pháp. Ngoài Bắc, bộ đội Võ Nguyên Giáp phối hợp và dẫn đường cho lực lượng viễn chính Pháp hành quân phối hợp tiêu diệt hoàn toàn các căn cứ võ trang của các đảng phái khác ở khắp nơi – nhất là các căn cứ địa đóng quân của Việt Nam Quốc Dân Đảng trên Đường Thuộc địa # 4 ở biên giới Hoa-Việt, từ Lai Châu, Lào Kay qua Cao Bằng đến Lạng Sơn. Quân QDĐ/TH không can thiệp vì hiệp ước đã ký với Pháp tháng 2/1946.

Trong nội thành Hà Nội, CSVN vu khống các đảng phái quốc gia đã lập kế hoạch phá hoại “cuộc diễn binh của lực lượng Pháp ở Hà Nội ngày lễ Độc Lập 14/7 của Pháp”, như vậy là phá hoại tình hữu nghị của Việt–Pháp và cuộc họp ở Fontainebleau. (20) Ngày 12/7/1946, Trường Chinh Đặng Xuân Khu, Tổng bí thư đảng CSĐD và Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Nội vụ CP/LHKC, ra lệnh cho các đơn vị công an Việt Minh tạo ra “Vụ án Ôn Như Hầu” đồng loạt tấn công các trụ sở công khai của các đảng quốc gia: trụ sở Việt Nam Quốc Dân Đảng của Vũ Hồng Khanh số 7, Đường Ôn Như Hầu; trụ sở Đại Việt Quốc Dân Đảng của Trương Tử Anh, số 132 Đường Duvigneau; trụ sở Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội của Nguyễn Hải Thần, số 80 Đường Quan Thánh. Các cuộc tấn công này Việt Minh triệt hạ hầu hết đảng viên trung ương của các đảng đó. Đặc biệt là các toán hành động của Việt Minh tấn công trụ sở của VNCMĐMH Đường Quan Thánh được chiến xa và đơn vị Pháp phối hợp yểm trợ mà các tài liệu CSVN gọi là “can thiêp”. Đồng thời các trụ sở của Đại Việt Dân Chính Đảng của Nguyễn Tường Tam và Đại Việt Quốc Gia Xã Hội Đảng của Nguyễn Xuân Tiếu cũng chịu chung số phận. Những thành phần của các đảng phái quốc gia công khai tham gia chính phủ liên hiệp, trong quốc hội và trong uỷ hội kháng chiến cũng bị Việt Minh thủ tiêu hay bắt giữ. Chính phủ LHKC tất nhiên bị CSVN đập nát từng mảnh. Thủ lãnh các đảng nổi tiếng như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyền Tường Tam chạy thoát được sang Trung Hoa. Trương Tử Anh mất tích, chắc chắn bị Việt Minh thủ tiêu. Ở vùng Hoà Bình và Ninh Bình, Đại Việt Duy Tân Cách Mệnh Đảng của Lý Đông A –hay Trần Khắc Tường-- cũng bị Viêt Minh đánh tan rã. Lý Đông A bị giết chết. Ở miền Trung,Trần Huy Liệu và Tố Hữu thủ tiêu hàng loạt lãnh tụ các đảng nói trên và những nhân vật quốc gia khác. Ở miền Nam, Trần văn Giàu hạ thủ những thủ lãnh trí thức Việt Nam nhóm Đệ IV Quốc tế Cộng sản –hay nhóm “Trotskyst” (những người CSVN theo Đệ IV Quốc tế của Leiba D. Trotsky, cánh tay mặt của Lenin, tranh chấp quyền bính với Staline, bị loại trừ, lưu vong và bị ám sát chết ở Mexico năm1940) như Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Phan văn Hùm, Dương Bạch Mai, kể cả Giáo chủ giáo phái Hoà Hảo là đức Thầy Huỳnh Phú Sổ. (21)
Sau trận thanh toán thảm khốc này của Hồ Chí Minh và các lãnh tụ khác của CSVN, làn ranh quốc||cộng trở thành vết hằn sâu rộng của hận thù không bao giờ hàn gắn lại được nữa giữa những người Việt Nam thuở đó và của nhiều thế hệ kế tiếp. Đến khi đó, những lãnh tụ các đảng phái quốc gia sống sót đã nhìn rõ bản chất và hành động sắt máu của những lãnh tụ cộng sản. Chính CSVN đã đẩy những nhà cách mạng quốc gia chân chính đến cuối con đường thống nhất, vì họ hoàn toàn khác về tư tưởng chủ đạo, về lập trường chính trị, về khuynh hướng lập quyền và về hành động kiến tạo. Một bên dùng bạo lực đấu tranh đoạt chính quyền để thành lập thể chế toàn trị xã hội chủ nghĩa, kết thêm một mảng quan trọng cho mạng lưới cộng sản quốc tế to lớn hơn; họ mang thứ chủ nghĩa cộng sản tàn độc này nhồi nhét vào đầu những người thiếu tri thức thuở đó và vào đầu óc các thế hệ tương lai. Hành động đó ghê tởm gấp trăm lần tội cõng rắn cắn gà nhà. Một bên, vì nền độc lập quốc gia, vì muốn gieo mầm mống tự chủ với thể chế dân chủ rộng mở cho dân tộc phát triển, tôn trọng nhân quyền và quyền sinh sống tự do của con người, dù biết hay không biết bản chất lật lọng của người cộng sản, nhưng vì quá chân thật, quá thành tâm, nhất là thiếu bản lĩnh, mà lâm vào cảnh bị phản bội, bị tàn sát. Tất nhiên những nhà cách mạng quốc gia sống sót phải tìm con đường khác, những lãnh tụ khác có uy tín, tái lập đảng để tiếp tục công cuộc tranh đấu cho độc lập và tự do mà đồng bào mong mỏi.

Ngày 14/9/1945 sau khi Hội nghị Fontainebleau thất bại, Hồ Chí Minh ở nán lại Paris và nằn nì ký một tạm ước --không ra gì, chỉ làm lợi cho thực dân Pháp-- với Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet. Trở về Hà Nội trung tuần tháng 9/1946 sau khi các thuộc hạ từ Bắc chí Nam thanh toán gọn các đảng quốc gia, Hồ Chí Minh thành lập Chính Phủ Liên Hiệp Quốc Dân (?) ngày 3/11/1946. Về phía quân viễn chính Pháp, sau khi thiết lập hệ thống căn cứ trên Đường Thuộc địa # 4 biên giới, chiến hạm Pháp bất thần bắn phá cảng Hải Phòng ngày 23/11/1946, hơn 6,000 người chết. Trận chiến kéo vào Hà Nội. Đêm 19/12/1946, Việt Minh tấn công một vài địa điểm của Pháp ở Hà Nội. Sau đó Hồ Chí Minh và bộ đội Võ Nguyên Giáp rút lên biên giới Việt Bắc, tuyên bố trường kỳ kháng chiến. Chiến tranh Việt Nam bắt đầu.

Ở miền Nam, Thiếu tướng quân đội Pháp Nguyễn văn Xuân, Thủ tướng thứ ba của Chính Phủ Nam Kỳ Tự Trị, bay sang Hồng Kông ngày 19/12/1946 yết kiến Cựu hoàng Bảo Đại xác nhận ý định sát nhập Nam Kỳ vào một nước Việt Nam thống nhất và mời Cựu hoàng về nước chấp chánh. Lần đó Bảo Đại do dự vì biết rõ tham vọng của thực dân Pháp. Đầu năm 1946, Pháp thành lập những đơn vị Vệ Binh Nam Kỳ Tự Trị, cấp đại đội ở các tỉnh (ngày 9/6/1948 đổi tên thành Vệ Binh Nam Việt). Ngày 12/4/1947, thành lập Việt Binh Đoàn ở Trung Kỳ, và tháng 7/1948 thành lập Bảo Chính Đoàn ở Bắc Kỳ. Tất cả các đơn vị này do sĩ quan Pháp chỉ huy. Trong khi đó thì các nhân sĩ trí thức và các lãnh tụ cũ, mới, của các đảng quốc gia từng bị CSVN triệt hạ kết hợp lại trong “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất” (MTQGTN –The National United Front) ở Nam Kinh và Sài Gòn. Các đảng quốc gia cũng tái lập và ngấm ngầm hoạt động ở cả ba miền Bắc, Trung và Nam Việt Nam với những lãnh tụ trí thức mới. Tháng 3/1948, MTQGTN cử một phái đoàn gồm những nhân sĩ cách mạng như Ngô Đình Diệm, Phan Quang Đán, Nguyễn Tường Tam, Đinh Xuân Quảng, Trần văn Tuyên, Nguyễn văn Sâm sang Hồng Kông gặp và mời Cựu hoàng về nước lập chính phủ và đề xuất việc đàm phán với Pháp về độc lập và thống nhất Việt Nam. Cựu hoàng chấp nhận. Ngày 27/5/1948 Ông điện về Sài Gòn chỉ định Thiếu tướng Nguyễn văn Xuân làm Thủ tướng Chính Phủ Lâm Thời Quốc Gia Việt Nam và tiến hành việc đàm phán với Chính phủ Pháp. “Nam Kỳ Tự Trị” giải tán.

Ngày 5/6/1948, Thủ tướng Nguyễn văn Xuân và Cao uỷ Đông Dương Emile Bollaert ký Thoả ước Vịnh Hạ Long về thống nhất và độc lập cho Việt Nam. Nhưng Pháp lần lữa mãi, nên cuộc tranh chấp của phía quốc gia tiếp tục. Mãi đến ngày 8/3/1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol mới chịu ký với Cựu hoàng Bảo Đại “Hiệp ước Elysée” gồm các điều khoản quan trọng là thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, trả lại quyền nội trị và ngoại giao cho Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 13/6/1949 Bảo Đại về nước với tư cách Quốc trưởng, thành lập Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam (l’État du Việt Nam) với chính mình là Thủ tướng. Ngày 29/1/1950, Quốc Hội Pháp chuẩn thuận Hiệp ước Elysée. Đến lúc đó, khối Đồng Minh Tự do cho rằng ‘Giải pháp Bảo Đại” là giải pháp chính trị cần thiết để chính danh giải quyết vấn nạn từ bấy lâu nay là nền “độc lập của Việt Nam” mà Hồ Chí Minh và Việt Minh nêu ra làm tiền đề cho cuộc chiến mà họ theo đuổi. Chỉ hơn một tuần sau, ngày 7/2/1950 Hoa Kỳ công nhận Quốc Gia Việt Nam và Chính phủ Bảo Đại, Anh và Úc tiếp theo, và sau đó hơn bốn mươi quốc gia trong khối Tự do.Việt Nam tuần tự trở thành thành viên của 37 tổ chức chuyên biệt của Liên Hiệp Quốc. Trước đó, ngày 14/1/1950 Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc, hay Trung Cộng, chính thức thừa nhận Chính phủ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà” của Việt Minh dưới sư lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Tiếp theo, ngày 31/1/1950 là Liên Xô; sau đó là các nước cộng sản khác.
V. Làn Ranh Quốc |I| Cộng Sâu Rộng Và Đẫm Máu

Đến thời điểm đó, rõ ràng một làn ranh quốc|I|cộng đã vạch ra đậm nét và đẫm máu giữa các lãnh tụ Việt Nam, giữa các đảng phái quốc gia và đảng cộng sản Việt Nam, giữa người quốc gia và cộng sản mặc dù đất nước chưa chia cắt mà lòng người đã dị phân rồi.
Chính phủ QGVN của Quốc trưởng Bảo Đại theo khối Thế Giới Tự Do chính thức hình thành trên toàn lãnh thổ với Chính phủ Trung ương và chính quyền Bắc, Trung và Nam Phần (chữ Kỳ đã đổi thành chữ Phần) gọi là phủ Thủ Hiến. Mỗi Phần gồm nhiều tỉnh, quận và xã. Bên kia là Chính phủ VNDCCH do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, chiếm các vùng núi rừng miền Bắc, miền Trung và các vùng bưng biền miền Nam. Làn ranh này không vạch rõ trên lãnh thổ mà là vết hằn sâu hoắm trong trí não, trong tâm hồn, trong tim và mạch máu lãnh tụ của cả đôi bên, nên họ đã trở thành những kẻ thù không đội trời chung. Sau đó và sau đó nữa, cuộc đổ máu kéo dài chỉ là sự chém giết lẫn nhau lặp lại giữa hai phe cộng sản và quốc gia mà thôi. Kẻ biết mình dâng hiến đánh thuê cho một thứ chủ nghĩa tam vô ngoại lai thì đã rành rành, còn những kẻ có tấm lòng chân chính hành động cho chính lý là nền độc lập và tự do cho đất nước cũng cam phận bị gọi là người đánh thuê. Đó là sư thật. Những sự thật não nề, bất khả đối, bất khả biện. Chiến tranh Việt Nam là như thế đó. Nếu những lãnh tụ cộng sản như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Võ Nguyên Gíáp, Lê Đức Thọ biết rõ đã tận tuỵ phục vụ cho CSQT mà nhúng tay vào máu của dân tộc thì những lãnh tụ các đảng quốc gia như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Trương tử Anh, Lý Đông Á, kể cả Nguyễn Tường Tam, không đủ bản lãnh chính trị để chống lại nhóm người cộng sản nói trên. Người ta hi vọng vào giải pháp Bảo Đại. Vị Cựu hoàng này nhân hậu nhưng chứng tỏ là một lãnh tụ nhận thức sáng suốt về thời cuộc, không hành động vội vàng, không vọng động, không muốn thấy đồng bào của mình đổ máu, nên đã chọn đường lối hành xử ôn hoà và sách lược hợp lý ở thời điểm đó để thu hồi độc lập bằng tranh đấu chính trị với người Pháp theo xu thế thời đại khi các nước Hoa Kỳ, Anh, và Âu châu khác trả độc lập cho các thuộc địa. Sách lược này tuy không so được với sách lược “đấu tranh bất bạo động” của Morandas R. Gandhi (1869-1948) tranh đấu cho nền độc lập của Ấn Độ lúc đó, tuy nhiên không phải là không chính đáng. Bằng cách nào đi nữa, với Hiệp ước Elysée, Cựu hoàng trở thành Quốc trưởng của một quốc gia độc lập và tạo một thế cân bằng chính trị đối lập của thế giới tự do trên đất nước Việt Nam chống lại sự bành trướng cuả CSQT và chủ nghiã Mác-Lê vô sản, vô thần và vô tổ quốc... Chính phủ của Cựu hoàng là nền tảng cho hai nền Đệ I VNCH của Ông Ngô Đình Diệm và Đệ II VNCH của Tướng Nguyễn Văn Thiệu. Lịch sử sẽ phán đoán về vai trò của tất cả lãnh tụ cả hai bên. Bên thắng cuộc ư? Bên thua cuộc ư? Ai biết? Lịch sử sẽ nói cho thế hệ tương lai của chúng ta biết rõ tất cả. Vậy, xin ai là chứng nhân hay nạn nhân chiến tranh ngày đó hãy nói cho các thế hệ Việt Nam nghe... Lịch sử ở đâu cũng bắt đầu từ tiếng nói chân chính.
Chiến tranh ý thức hệ hình thành rõ rệt với hai phe quốc gia và phe cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, nếu nghiêm cẩn nghiệm xét và khách quan nhận định sẽ thấy cả hai bên Cộng sản Việt Nam và Cộng hoà Việt Nam là những lực lượng “đánh thuê” trong một cuộc chiến tranh uỷ nhiệm. Lãnh tụ CSVN thì tự nguyện. Lãnh tụ quốc gia ở vào thế thụ động.

Sắc thái lực lượng đánh thuê cuả CSVN thể hiện rõ nét hơn, rõ vô cùng. Đó là thứ quân tiền phong trong một “Proxy War” không hơn không kém. Biện minh thế nào khi cầm súng của người, học chiến thuật của người đánh nhau mà không có một thứ tư tưởng nào hay sách lược nào do chính mình xây dựng như tổ tiên của chúng ta ngày xưa.
Tổ tiên chúng ta giữ nước chống ngoại xâm, đấu tranh giành độc lập đã dựa trên sức mạnh dân tộc, tự lực, và có sách lược riêng đầy trí tuệ, hùng lược và nhân hậu. Một An Dương Vương giữ nước với hệ ̣thống nỏ liên châu kiến tạo khoa học, đặt trong Loa Thành bắn từng loạt tên sắc, mạnh, ra mọi hướng trên địa bàn 360 độ; gọi là “Nỏ Thần”. Hai Bà Trưng với chiến lược liên kết toàn dân, trai gái, quân dân, hợp sức mạnh các bộ lạc với sức mạnh các lạc tướng lạc hầu, các châu quận, với chiến thuật dùng kỵ mã chiến và công thành bằng voi trận, khởi binh đánh đuổi Thái thú Tô Định của nhà Hán, chiếm 65 thành từ Giao Chỉ, Cửu Chân lên tận lãnh địa phía nam Động Đình Hồ. Ngô Quyền dùng cọc nhọn bọc sắt, to, vững cắm trên sông Bạch Đằng, phục kích đánh một trận thủy bộ kích làm Hoằng Thao nhà Đông Hán khiếp vía, lập nền độc lập tự chủ đất nước một nghìn năm sau. Lý Thường Kiệt với tuyên ngôn tự chủ “Nam Quốc Sơn Hà” và sách lược “tiến là để thủ” tấn công vào nội địa nam Trung Hoa làm rúng động triều đình nhà Tống. Vua quan, quân tướng, thần dân nhà Trần với quyết tâm của Hội nghị Diên Hồng, với thao lược của Trần Hưng Đạo khi tiến khi thoái, khi khuyên vua dời đô vào kinh thành cũ Hoa Lư, khi mang quân đánh quân Thoát Hoan trên Sông Bạch Đằng, gần ba mưới năm kiên trì và dũng mãnh đánh tan giặc Mông Cổ --đoàn quân bách chiến của con cháu Thành Cát Tư Hản, từng chinh phục và san bằng nhiều nước Á, Âu, chiếm trọn Trung Hoa-- lập chiến công lừng lẫy trong Việt Sử. Bình Định Vương Lê Lợi và vị tham mưu tài trí Nguyễn Trãi với sách lược thu phục nhân tâm trước, đánh thành trì sau –“tiên dĩ công tâm, hậu dĩ công thành”--chiêu mộ nghĩa sĩ hội về Lam Sơn, sau mười năm gian khổ đánh thắng giặc Minh, thu phục hàng nghìn tù binh rồi cung cấp ngựa thuyền tha cho chúng về nước. Chính sách dũng lược và nhân hậu này tuyên cáo rõ trong Bình Ngô Đại Cáo. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ với tầm nhìn xa thấy rộng, với chiến thuật ‘tốc chiến tốc thắng” --độ quân thần tốc, tấn công thần kỳ-- chưa đầy một tuần dùng kỳ binh từ miền Trung ra đánh tan đạo quân 200,000 người của Mãn Thanh ở Hà Nội, tiêu diệt và truy quét chúng ra khỏi lãnh thổ miền Bắc; tiếc thay ông mất sớm chưa thực hiện được hoài bão tấn công Trung Hoa chiếm lại Lưỡng Quảng của tổ tiên.

Trong những đại bậc anh thư và đại anh hùng cứu quốc nêu trên, xin chỉ cho biết ai là người mượn sách lược và thế lực ngoại lai và dùng vũ khí của người đánh giặc ngoại xâm cứu nước và giữ nước? Thế hệ tương lai Việt Nam sáng suốt sẽ nhìn rõ sách lược tự lực tự cường dựa trên sức mạnh hơp quần của toàn dân của tiền nhân đánh ngoại xâm. CSVN làm ngược lại tiền nhân. Lãnh tụ CSVN giết tập thể đồng bào, đồng bạn và... đồng chí không gớm tay nên bị đa số dân lành nguyền rủa, coi như như loài dã thú, hay súc vật, ngay trong chiến tranh, sau đó và hiện nay. Rất rõ. Anh hùng cứu nước mà đến như vậy. Tội thực!..

Trong chiến tranh Việt Nam, các lãnh tụ chính trị và quân sự CSVN đã chu đáo học tập và áp dụng triệt để chiến sách CSTQ, nhất là rập khuôn sách lược “Chiến tranh Nhân dân” [“People’s War”] trong quyển “On Protracted War” của Mao Trạch Đông, còn được mệnh danh là “Chiến tranh Cách mạng” [“Revolutionary War”] trong một cuộc chiến trường kỳ bao gổm nhiều giai đoạn: 1) du kích chiến và bạo động chiến -guerrilla warfare & insurgency; 2) vận động chiến –mobile war; 3) trận địa chiến –conventional war; và 4) tổng công kích và tổng khởi nghĩa -general attack & general surprising. Suốt chiều đài cuộc chiến từ năm 1949 “Bộ Đội Nhân Dân” (the People’s Army of Vietnam –PAVN) của CSVN được Liên Xô và Trung Cộng và các nước CS Đông Âu cung cấp những chiến cụ, thiết bị, và vũ khí cá nhân và cộng đồng tối tân nhất trong từng giai đoạn của chiến cuộc. Các đơn vị bộ chiến được trang bị súng AK-47 bắn từng loạt, các loại B-40, B-41 vừa phá công sự vừa diệt tăng, các bích kích pháo 61mm, 82mm, và 120mm. Từ đầu thập niên 1970’ bộ binh còn có thêm hỏa tiễn SA-7 bắn trực thăng và phi cơ không kể các loại đại cao xạ nhiều cỡ, hiệu năng cao. Đơn vị bộ binh mà tầm tác chiến đa năng nhờ vũ khí nhẹ và gọn của khối CSQT tất nhiên dễ di động và chế ngự chiến trrường. Pháo binh với các loại trọng pháo cơ giới 85mm D-44; 122mm D-74 và D-30 canh tân; đại pháo 130mm và 152mm D-20. Đơn vị chiến xa với các loại thuỷ xa PT-76, chiến xa BTR-50, BTR85 và T-54. Ngoài ra còn thêm các loại chiến xa T-70 trang bị đại bác tự hành SU-76mm và chiến xa Joseph Staline 2 gắn đại bác tự hành ISU-122mm.

Phòng không dùng các loại pháo cao xạ cơ giới 23mm, 37mm, 80mm và 100mm, hoả tiễn địa không SA-2, SAM-7 của Liên Xô. Không quân được Trung Cộng cung cấp MIG-15 và MIG F-17, Liên Xô cung cấp MIG-19 và MIG-21. Ở thời điếm chiến tranh cao độ, Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) có hơn 2,000 hoả tiển SA-2, SAM-7 và 200 phi cơ MIG các loại. Hải quân được Trung Cộng cung cấp hàng trăm pháo hạm Swatow và Shanghai; Đông Đức yểm trợ khinh tốc đĩnh; Liên Xô viện trợ loại pháo hạm Komar và phóng lôi PT-4 và PT-6. (22) Cũng cần ghi nhận thêm “On Protracted War” của Mao Trạch Đông được CSVN –đặc biệt là Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp– áp dụng triệt để trong tấu khúc “chiến tranh trường kỳ” hung bạo và man rợ chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh giành độc lập của Việt Nam qua từng thời kỳ mà ngay những người viết sử CSVN cũng không che giấu. Nói rõ hơn, “On Protracted War” Mao viết từng mảng cho Hồng Quân CSTQ áp dụng đánh quân QDĐ/TH của Tưởng Giới Thạch thì sau đó được Việt Minh thực hiện rập khuôn. Giai đoạn sơ khai là thành lập căn cứ địa, tổ chức lực lượng, họ gọi là đấu tranh võ trang. Các đơn vị võ trang thực hiện các chủ trương Dân vận, Địch vận và Binh vận gọi là đấu tranh chính trị. Trong giai đoạn Du Kích Chiến vì sợ ba phương thức đấu tranh chính trị nói trên không thành công vì không thu phục được nhân tâm nên họ áp dụng cả Bạo Động Chiến gây khủng khiếp cho đối phương và dân lành vùng xôi đậu khiến phải đem nhân lực và tài lực cung hiến cho “cách mạng”. Như vậy là vừa tuyên truyền vừa giết chóc để phát triển lực lượng và căn cứ địa. Ai tự nguyện thì tha, ai chống trả thì giết. Đấu tranh võ trang và đấu tranh chính trị tiến hành song song. Tuy nhiên khi chuyển lên Vận động Chiến và Trận địa Chiến, CSVN vứt bỏ dân, binh và địch vận hay giết chóc thủ tiêu lẻ tẻ mà thay thế bằng sự kết hợp quân sự, chính trị, và ngoại giao trong “chiến tranh cách mạng” (“revolutionary war”, nói trên) và tàn sát đối phương hay dân chúng với qui mô tập thể. Vì vậy nên ở giai đoạn cuối cùng Tổng Công kích và Tổng Khởi nghĩa, CSVN chỉ thực hiện được một vế Tổng Công kích.Vì mất nhân tâm nên không thể có Tổng Khởi nghĩa. Ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam. CSTQ và CSVN chỉ thắng được vì… Hoa Kỳ bỏ cuộc. Nói cách khác, như Tổng thống Nguyễn văn Thiệu nói, là “phản bội.” Trong bài tham luận “Lessons from the Vietnam War”, tôi cũng ̣ viết:“Sometimes, I wonder how much the U.S. has learned from its policies of ‘supporting and abandoning its allies?’”[“Đôi khi tôi tự hỏi Hoa Kỳ đã rút tỉa kinh nghiệm được mấy về sách lược yểm trợ và bỏ rơi đồng minh của minh?”] (23) Ông Thiệu dùng chữ rõ ràng hơn “betrayal”.

Về phía quốc gia, cho đến khi Bảo Đại về chấp chính, tuy Hiệp ước Elysée đã ký và duyệt y nhưng chính quyền Pháp ở Đông Dương vẫn chưa thực sự thành lập quân đội quốc gia cho Việt Nam. Chỉ có Nghị định cuả Bộ Quốc phòng ban hành ngày 13/4/1949 thành lập lực lượng “Vệ Binh Quốc gia” [La Guarde Nationale], kỳ thực đó chỉ là tên gọi chung của Vệ Binh Nam Việt, Việt Quốc Đoàn, Bảo Chính Đoàn trước đây sát nhập lại và thêm một đơn vị nữa là Vệ Binh Sơn Cước, nhưng Pháp vẫn tiếp tục chỉ huy các đơn vị vệ binh này –tất cả khoảng 60,000 quân- và chỉ đạo chiến tranh đánh nhau với Việt Minh. Đến trước tháng 12/1949, lực lượng viễn chinh Pháp tỏ ra khó kiểm soát hết các vùng đã chiếm đóng trong Nam nên thuận để cho các lưc lượng Cao Đài thành lập ở miền đông và lực lượng Hoà Hảo ở các tỉnh ở Hậu Giang. Hai lực lượng này chống Viêt Minh cao độ, nhất là sau khi đức Thầy Huỳnh Phú Sổ bị Việt Minh ám hại. Ngay tại Sài Gòn, các tổ công tác thành của Việt Minh hoạt động ráo riết dân binh địch vận trong nội thành, nên Pháp để cho Bảy Viễn hay Lê văn Viễn thành lập đơn vị võ trang và nắm cơ quan công an.

Ở Miền Bắc Việt Nam quân viễn chinh Pháp thu được những kết quả tương đối. Cuộc hành quân tảo thanh lớn nhất “Lee Operation” do Tướng Tư lệnh Pháp Valluy tổ chức tháng 11/1947 Việt Bắc với 20 tiểu đoàn suýt bắt được Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp ở Bắc Kạn, tuy nhiên cũng làm cho Việt Minh tổn thất trên 9,000 cán binh, kể cả vài bộ trưởng của Chính phủ Kháng chiến CSVN. (24) Thời điểm từ tháng 12/1946 đến tháng 12/1949, CSVN của Hồ Chí Minh và Việt Minh còn ở trong Giai đoạn 1 “du kích và bạo động chiến” lo củng cố căn cứ địa và xây dựng lực lượng võ trang” gây bạo động rối loạn, ám sát, bắt cóc, thủ tiêu đồng thời tiến hành thầm lén tuyên truyền “dân, binh và địch vận” từ Bắc chí Nam, vì vậy quân viễn chinh Pháp chiếm thượng phong. Đối với chính phủ Quốc Gia Việt Nam việc thực thi Hiệp ước Elysée, Quốc trưởng Bảo Đai đã tìm cách và chọn nhiều chính khách có uy tín nối tiếp nhau lập nội các để tiếp tục đấu tranh trên căn bản của hiệp ước nhưng không thực hiện được các điều khoản quan trọng đã ký vì khoảng thời gian nầy lực lượng Pháp còn chiếm ưu thế ở chiến trường.

Tuy nhiên từ đầu năm 1950 trờ đi, cục diện chiến tranh ở Đông Dương đã thay đổi, sau khi Chính phủ Truman, đảng Dân Chủ Hoa Kỳ, đã tự bỏ rơi Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc và đạo quân QDĐ/TH gần hai triệu người của Tưởng Giới Thạch. Nói rõ là Hoa Kỳ bỏ Lục địa Trung Hoa cho đảng Cộng Sản Trung Quốc của Mao Trạch Đông. Đây là lỗi lầm trọng đại nhất của Hoa Kỳ. (25) Tháng 12/1945, Tổng thống Truman đưa Tướng George C. Marshall, Chủ tịch Uỷ ban Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ, sang Trung Hoa như một “Đặc sứ toàn quyền” để hoà giải hai phe Quốc, Cộng lần chót. Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch cùng ký chung hiệp ước thành lập quân đội Trung Hoa tháng 2/1946. Nhưng chỉ vài tuần sau, nội chiến tái diễn dữ dội hơn. Từ tháng 3 đến tháng 6, 1946, quân QDĐ/TH của Tưởng đánh bật quân CSTQ của Mao lên mạn Bắc Trung Hoa và Mãn Châu. Tuy nhiên, chiến thắng của Tưởng làm cho Đặc sứ Marshalll không hài lòng vì sự hợp tác giữa Quốc–Cộng Trung Hoa đã tan vỡ. Ngày 29/6/1946, Marshall ra lệnh cắt viện trợ cho lực lượng QQDĐ/TH và CSTQ. Quyết định này ảnh hưởng trực tiếp cho lực lượng QDĐ của Tưởng Giới Thạch. Tháng ̣9/1946 các đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến và các đại đơn vị khác của Hoa Kỳ được lệnh rút ra khỏi lục địa Trung Hoa. Ngày 6/1/1947, Marshall tuyên bố không hoàn thành nhiệm vụ ở Trung Hoa, trở về Hoa Kỳ. Bỏ mặc quân QDĐ cho định mệnh của họ. Quân CSTQ được Liên Xô trao toàn bộ vũ khí và trang bị, kho tàng thực phẩm của một triệu quân Nhật bỏ lại Mãn Châu cho Lâm Bưu, Tư lệnh Hồng quân CSTQ của Mao. CSTQ đã phản công toàn diện. Trong hai năm liên tục, nhiều lộ quân QDĐ/TH chiến đấu trong khốn cùng, không đạn dược và thiếu lương thực. Quân CSTQ chiếm Bắc Kinh –tại đây ngày 1/10/1949, Mao Trạch Đông thành lập nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc (The People’s Republic of China). Hồng quân CSTQ tiếp tục vượt Hoàng Hà, vượt Trường Giang, và chiếm Nam Kinh. Ngày 7/12/1949, tàn quân QDĐ/TH và Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch hoàn tất cuộc rút lui ra đảo Đài Loan. Đến lúc đó, Hoa Kỳ tái lập viện trợ cho Tưởng Giới Thạch để giữ Đài Loan. Đã trễ và đã thua. Thế giới hỏi tại sao?!. Không ai trả lời… Chính giới Hoa Kỳ nổi sóng. Chỉ ít lâu sau họ quên đi, nhưng lịch sử… không quên. Trung Cộng thay Trung Hoa Dân Quốc trở thành một trong 5 uỷ viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc [ Security Committee of the United Nations]

CSTQ chiếm Lục địa Trung Hoa, lực lượng viễn chinh Pháp không còn cơ hội để chiến thắng cuộc chiến ở Đông Dương, nhất là ở Việt Nam. Võ nguyên Giáp tuyên bố là lực lượng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (The People’s Army of Vietnam –PAVN) đã có một triệu quân. Trên thực tế, bộ đội này của CSVN –gọi là “bộ đội cụ Hồ” (bộ đội HCM)– lúc đó chính thức được Hồng quân CSTQ huấn luyện, trang bị và tổ chức thành cấp đại đoàn, sư đoàn chính quy, tại các căn cứ ở biên giới Vân Nam và Quảng Tây. Đến đầu năm 1950, CSVN có 5 sư đoàn bộ chiến 304, 308, 312, 316, 320 và một sư đoàn lớn hỗn hợp bộ, pháo, công binh cơ giới 325. Tất cả các đại đơn vị này, từ cấp tiểu đoàn trở lên đều có cố vấn trong Đoàn Cố vấn Quân sự CSTQ, gồm 281 cán bộ và cố vấn, do Tướng Vi Quốc Thanh chỉ đạo đặt cạnh Bộ TTL/QĐND của Võ Nguyên Giáp. Ở cấp chỉ đạo đảng CSVN và Chính phủ của Hồ Chí Minh có Đoàn Cố vấn Chính trị do La Quý Ba, Uỷ viên Trung ương của đảng CSTQ chỉ đạo. CSTQ còn đưa danh tướng Trần Canh sang đặt kế hoạch cho bộ đội HCM trong các chiến dịch tấn công lực lượng Pháp ở Đường # 4 biên giới Việt-Trung. Về phía Pháp, Cao uỷ d’Argenlieu và Tư lệnh quân Pháp ở Đông Dương là Tướng Marcel Carpentier chống đối việc thành lập Quân Đội Việt Nam. Như vậy, đến đầu năm 1950, bộ đội HCM có 7 đại đơn vị cấp sư đoàn và là lực lương võ trang đầu tiên có gần ba trăm cố vấn TQCS với hàng khối vũ khí và thiết bị quân sự và ba đại cố vấn CSTQ về chính trị và quân sự –chiến lược lẫn chiến thuật. Tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng CSVN khác trở thành robots mặc dù đã đến thời điểm Bắc Kinh ra lệnh triển khai giai đoạn II và III Chiến tranh Cách mạng –Revolutionary War– của Mao Trạch Đông, vận động chiến và công kiên chiến (mobile and conventional warfare). Trong khi đó Quân Đội Quốc Gia Miền Nam chỉ được thành lập hạn chế với một số Tiểu đoàn Việt Nam (Bataillons Vietnamiens) do sĩ quan Pháp chỉ huy. Số sĩ quan Việt Nam do Pháp đào tạo chỉ được vài mươi người. Nhưng về sau chính những sĩ quan này lãnh đạo Miền Nam. Trong cuộc họp cấp uỷ viên trung ương đảng CSTQ ngày 27/6/1950, Mao Trạch Đông tuyên bố:“Vì cuộc cách mạng của chúng ta hoàn thành thắng lợi, chúng ta có trách nhiệm giúp các nước khác. Đó gọi là chủ nghĩa quốc tế.”[Since our revolution has achieved victory, we have the obligation to help others. This is called internationalism]. (26) Ngày 16/9/1950, chiến dịch trên Đường # 4 khởi diễn. Trận đánh này là điển hành chiến thuật “công đồn đã viện” của Tướng Trần Canh sáng tạo và chỉ đạo, được bộ đội HCM học tập, thực hành lần đầu tiên này và áp dụng triệt để hơn hai thâp niên sau trải suốt hai cuộc chiến Việt Nam. Trần Canh chọn căn cứ đóng quân cấp tiểu đoàn Pháp (-) –khoảng dưới 300 quân– ở Đông Khê, nằm trên trục lộ # 4, cách Cao Bằng 1/3 đoạn đường xuống Lạng Sơn, cho một sư đoàn quân (10,000 người) Võ Nguyên Giáp tấn công để thu hút quân tiếp viện của Pháp từ hai tỉnh này kéo đến tiếp viện. Quả nhiên cánh quân thứ nhất từ Lạng Sơn do Trung tá Le Page kéo lên Thất Khê rồi tiến lên giải cứu Đông Khê. Cánh quân thứ hai của Trung tá Charton, cũng bỏ Cao Bằng, kéo xuống Đông Khê cùng mục đích. Cả hai cánh quân tiếp viện này đều lọt vào ổ phục kích của quân Võ Nguyên Giáp phía bắc và nam căn cứ Đông Khê –cấp sư đoàn (+) ở mỗi điểm phục kích. Hai cánh quân này bị đánh tan rã, hai trung tá Pháp bị bắt; hàng trăm người chết và hàng nghìn người bị bắt làm tù binh. Có thể Trần Canh đã sử dụng ít nhất là bốn sư đoàn bộ và ba hay bốn trung đoàn pháo của Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch biên giới tấn công Đường # 4 này, không kể các sư đoàn trừ bị, mang lại kết quả to lớn đầu tiên cho bộ đội HCM, chấn hưng cao độ tinh thần cán binh bộ đội HCM. Công kiên và phục kích chiến trở thành chiến thuật hữu dụng. Từ quan điểm chiến thuật này sinh ra thêm lối đánh “tiền pháo hậu xung”. Dội pháo dữ dội tiêu diệt cộng sự phòng thủ của địch quân trước, rồi xung phong tràn ngập căn cứ với “biển người” [human waves]. Cũng chính Trần Canh bày cho quân Võ Nguyên Giáp áp dụng ngay trong trận Đông Khê. Vì vậy tổn thất của bộ đội HCM trong chiến dịch nầy rất lớn. Sau trận này Tướng Marcel Carpentier, Tư lệnh lực lượng Pháp ở Đông Dương ra lệnh bỏ tất cả căn cứ của Pháp ở bắc, đông bắc Bắc Việt: Lào Kay, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, kể cả một phần bắc Thái Nguyên.

Tất nhiên, sau đó ông Tướng này, kể cả ông Cao uỷ Đông Dương cũng mất chức. Tướng Trần Canh được Bắc Kinh gọi về làm tư lệnh phó cho Tướng Bành Đức Hoài trong cuộc chiến Hàn quốc. (27) Địa bàn vận-động-chiến của bộ đội HCM mở rộng. Tháng 12/1950 Pháp đưa Đại tướng De Lattre de Tassigny sang làm Cao uỷ kiêm Tư lệnh quân lực Pháp ở Đông Dương. Chính Tướng De Lattre, một danh tướng Pháp trong Đệ II TC mà chúng ta chưa quên, là nhà chiến lược hiểu rõ hơn ai hết về một “cuộc chiến uỷ nhiệm”. De Lattre rất muốn chính phủ Pháp thực hiện việc thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Trong một bài diễn văn, Ông kêu gọi thanh niên Việt Nam gia nhập quân đội để bảo vệ quốc gia; Ông nói: -“Dĩ nhiên, mọi người có khuynh hướng cho rằng Việt Nam không là quốc gia độc lập vì là một thành viên của Liên Hiệp Pháp. Không đúng! Trong vũ trụ, đặc biệt là trong thế giới của chúng ta ngày nay không thể có những quốc gia độc lập tuyệt đối. Chỉ có những nền độc lập liên hợp sinh lợi và những nền độc lập nguy hiểm. Các bạn trẻ Việt Nam… đây là thời điểm để các bạn bảo vệ tổ quốc.”(28) Câu nói sâu xa này vừa là lời biện minh cho lực lượng Pháp… đang nhận tiền của Hoa Kỳ đánh CSQT ở Việt Nam [vừa thoái thác vừa công nhận một cuộc chiến “uỷ nhiệm” mà Pháp nhận lãnh] khi khôn khéo nêu rõ “không có gì gọi là độc lập tuyệt đối” mà mọi quốc gia tuỳ thuộc lẫn nhau [kêu gọi giới tuổi trẻ Việt Nam cùng tham gia “đánh giặc mướn” chống CSQT có lợi cho Pháp và thế giới tự do, mà De Lattre gọi là “bảo vệ tổ quốc”]. Sự kêu gọi nầy hùng hồn không kém lời kêu gọi gian dối của Hồ Chí Minh kích thích nhân dân Việt Nam hi sinh vì nền độc lập của đất nước mà giấu nhẹm vai trò đánh thuê để góp công bành trướng “Đế quốc Mới Đệ III CSQT”, nhưng De Lattre thành thực hơn. Ở thành thị, khá đông thanh niên, sinh viên và học sinh tình nguyện vào quân đội quốc gia, theo học Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, hoặc động viên vào Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định hay Thủ Đức, vào các trường Hạ sĩ quan…

Rồi cả một thế hệ hay đôi ba thế hệ Việt Nam yêu nước thuở đó tưởng rằng mình đã hi sinh xương máu cho độc lập, tư dọ và hạnh phúc của đồng bào và đất nước mình. Thế hệ của chúng tôi đều bị lợi dụng và đã không biết, và nếu có biết thì cũng bị guồng máy chiến tranh cuốn vào và bị nghiền nát ra. Lý do chính là vì chúng tôi chỉ là dân lành yêu nước, thấp cổ, bé miệng. Ai hiểu rõ những lý do ẩn tàng nầy, những người bên thắng hay bên thua cuộc? Ai hiểu rõ tất cả chúng ta đều là những người bị xua vào chiến cuộc bởi những thế lực ngoại bang.?
Chính phủ Bảo Đại có Bộ Quốc phòng, tuy Tướng De Lattre tuyên bố như vậy nhưng mãi đến tháng 5/1952 QĐQG/VN mới bắt đầu thành lập, trước tiên là Bộ Tổng Tham Mưu với một Đại tá Không Quân Pháp, gốc Việt, là Nguyễn văn Hinh làm Tổng Tham Mưu Trưởng, mang cấp Trung tướng; tuy nhiên quân đội này chưa có đại đơn vị mà chỉ tăng thêm số Tiểu đoàn Việt Nam vẫn do sĩ quan Pháp chỉ huy. Rất ít tiểu đoàn do các sĩ quan VN xuất thân từ Khóa 1 Nước Ngọt ở Bà Rịa và Khoá 2 Đập Đá ở Huế chỉ huy. Lúc đó, Trường Liên quân Võ bị Đà Lạt và Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức cũng đã đào tạo các khóa sĩ quan đầu tiên.

Đầu năm 1951, Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị đảng Lao Động (tên gọi này cũng do Mao Trạch Đông đặt khi đảng CSĐD, thực ra là đảng CSVN, tái thành lập) nghe theo Cố vấn Chính trị La Quý Ba và Cố vấn Quân sự Vi Quốc Thanh tán thành giai đoạn cuối cùng, TCK & TKN của “chiến tranh cách mạng” chống Pháp. Võ Nguyên Giáp đưa hơn ba sư đoàn chính quy tấn công xuống đồng bằng Sông Hồng [The Red River Delta]. Tướng De Lattre hình như tiên đoán được ý định và sách lược của CSVN, nên đã ra lệnh kiến tạo hệ thống phòng thủ vùng đồng bằng này và bảo vệ chặt chẽ Hà Nội gọi là “Tuyến De Lattre” [De Lattre Line]. Ông cũng chuẩn bị sẵn kế hoạch phản công, đồng thời ra lệnh kiện toàn hệ thống cứ điểm ở tây bắc, Sơn La, Nghĩa Lộ, Lai Châu và Cao nguyên Thái [Thai Highland] trên Đường # 6, nhằm ngăn chặn bộ đội HCM tiến sang Lào. Khi các Sư đoàn 308, 312 và 316 của Võ Nguyên Giáp tấn công vào tuyến De Lattre lần thứ nhất ở Vĩnh Yên, 40 km bắc Hà Nội ngày 13/1/1951, đã bị dội bom Napalm và quân Nhảy Dù Pháp phản kích, nên tổn thất rất nặng, trên dưới 9,000 cán binh bị giết, một số tương đương bị thương và 600 bị bắt. Hai tháng sau, ngày 23/3, lần thứ hai Võ Nguyên Giáp đem ba sư đoàn tấn công tuyến quân Pháp ở Mao Khê, vùng tây bắc Hà Nội, cũng thất bại và tổn thất không kém lần trước vì loại bom Naplam xăng đặc nầy. Như vậy cho thấy chiến thuật công kiên tấn công biển người của Trần Canh không phải không có khuyết điểm, nếu đối phương mạnh về không yểm và quân tấn công thiếu lực lượng phòng không. Tuy nhiên bộ đôi HCM cũng đã trì chân được ở vùng châu thổ Sông Hồng và Sông Đáy. Có những trận đánh khác rất lớn diễn ra và Tướng De Lattre luôn luôn ở thế thắng, trước sau gây cho bộ đội HCM những thiệt hại trên dưới 50,000 quân, tuy ông cũng trả giá bằng cái chết của đứa con trai duy nhất của ông và dòng dõi De Lattre.

Có thể nói De Lattre de Tassigny là danh tướng duy nhất của Pháp có thể chống lại bước tiến của Mao Trạch Đông đang dùng đạo quân của HCM đánh chiếm và xích hoá toàn bộ Đông Dương và nam tiến, như Mao chỉ thị cho thuộc hạ trong một cuộc họp Bộ Chính trị và Uỷ ban Trung ương đảng CSTQ: “Bằng mọi cách chúng ta phải chiếm cho được Đông Nam Á, kể cả Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Mã Lai và Singapore… Vùng (đất đai) này giàu khoáng sản, xứng đáng trả giá đắt. Sau khi chiếm xong Đông Nam Á, chúng ta có thể tăng trưởng lực lượng trong vùng. Và chúng ta tất sẽ đủ mạnh để đối đầu với Xô-Viết và khối Đông Âu; gió

Đông sẽ mạnh hơn gió Tây.”(29) Tham vọng của Mao Trạch Đông rất lớn và rõ rệt. Để thực hiện giấc mộng lớn của mình, sau khi xây dựng lực lượng của Hồ Chí Minh khá vững chãi đủ để xích hoá Đông Dương và nam tiến, Mao đưa Tướng Bành Đức Hoài và tăng cường thêm Tướng Trần Canh xua đạo quân gần 400,000 người cùng đạo quân của Kim Nhật Thành, lãnh tụ Cộng sản Hàn Quốc, tấn công chiếm Nam Hàn, gây ra chiến tranh Hàn Quốc năm 1950; đây có thể là chiến lược lớn “dương đông kích tây” lôi kéo lực lượng của Thế giới Tự Do vào hướng đông, để trống hướng nam cho lực lượng HCM dễ dàng tung hoành. Cũng tiếc cho Pháp và Thế giới Tự do, vì chỉ ít lâu sau các trận đánh ở châu thổ Sông Hồng, De Lattre bị ung thư rất nặng phải về Pháp trị bịnh và từ trần tháng 11/1951. Tướng Raoul Salan thay thế Tướng De Lattre làm Tư lệnh quân lực Pháp và Jean Letourneau sang Đông Dương với chức danh mới là Bộ trưởng Liên bang Đông Dương –Minister of the Associated Nations of Indochina– cao hơn chức Cao uỷ. Điều này chứng tỏ Pháp không muốn nhả miếng mồi ngon này.

Đến thời điểm đó, có lẽ Hoa Kỳ đã nhận thấy sai lầm đã bỏ Lục địa Trung Hoa cho CSTQ nhưng chưa nhận thấy chỉ có lực lượng QDĐ của Tướng Giới Thạch mới đủ sức đánh quân CSTQ của Mao Trạch Đông mà không phải là quân lực nước ngoài trong một cuộc chiến đặc biệt của những “kẻ nội thù”. Hoa Kỳ luôn luôn áp dụ̣ng chính sách “Giai Đoạn”. Bạn hay thù, yểm trợ hay dứt bỏ… chỉ là giai đoạn của sách lược lâu dài cố hữu: “vì sự lợi ích của Hoa Kỳ”. Điều này bất khả luận, phải nhận là đúng, nhưng sách lược này làm Hoa Kỳ mất mát nhiều sinh mạng, tài chính và uy tín, nhất là để lại hậu quả dâu biển, tang thương cho các nước một thời là đồng minh. Thực vậy, mặc dù lúc đó Hoa Kỳ, với chiến thắng của MacArthur, đã giải quyết được chiến tranh Hàn Quốc, tuy di hoạ vẫn còn… nhưng vẫn ngó về Việt Nam, và sẵn sàng mở rộng thêm hầu-bao tuôn tiền qua đó, mặc dù cái túi tiền này đã mở ra viện trợ quân sự cho Pháp năm 1950 là 10 triệu Mỹ kim và từ tháng 6/1950 Hoa Kỳ đã đưa sang Sài Gòn Phái bộ Cố vấn Viện trợ Quân sự Đông Dương, MAAG-I [the U.S. Military Assistance Advisory Group-Indochina] do Tướng Francis G. Brink chỉ huy. Đến khi Carpentier bỏ Việt Bắc, viện trợ quân sự của Hoa Kỳ cho Pháp ở Đông Dương đã quá mức 100 triệu Mỹ kim, nhưng tình hình chiến sự ở Việt Nam càng ngày càng bất lợi thêm cho lực lượng Pháp từ cuối năm 1951 khi De Lattre mất.

Tháng 2/ 1952 Cố vấn quân sự Vi Quốc Thanh trình về Bắc Kinh sơ thảo chiến dịch tấn công tây bắc Bắc Việt dự trù cho bộ đội HCM. Tháng 4, kế hoạch được duyệt xét lại. Tháng 7 kế hoạch được Quân uỷ Trung ương đảng CSTQ chấp thuận. Tháng 8/1952, Võ Nguyên Giáp ra lệnh tấn công căn cứ Pháp ở Nghĩa Lộ, Yên Bái, và chiếm toàn bộ vùng sông Đà, kể cả Sơn La, tây bắc Hà Nội, dọn đường đưa quân sang Lào. Để phản công, Tư lệnh quân Pháp Tướng Salan mở cuộc hành quân Lorraine với 30,000 quân lên Phú Thọ, Yên Bái và Tuyên Quang vào cuối tháng đó. Cuộc hành quân này chỉ trì hoãn quân của Pháp tiến sang Lào và vì Tướng Salan sợ bị cắt đường tiếp vận nên ra lệnh chấm dứt cuộc hành quân vào trung tuần tháng 11/1952. Trong tháng này, ở Hoa Kỳ, Tướng Eisenhower, ứng cử viên đảng Cộng Hoà, đắc cử Tổng thống. Đến cuối năm 1952, Hoa Kỳ đã chi phí cho Pháp ở Đông Dương đến hơn 700 triệu Mỹ kim nhưng lực lượng Pháp của Salan đã không thể ngăn cản được bộ đội HCM sang Lào.
Đầu năm 1953, khi vào Nhà Trắng, Eisenhower rất chú tâm về cuộc chiến Đông Dương và đặc biệt chú ý về tình hình ở Bắc Việt và ở Lào. Tháng 3/1953, phái đoàn Pháp, gồm Thủ tướng René Mayer, Ngoại trưởng Georges Bidault và Bộ trưởng Đông Dương Jean Letourneau sang Washington cầu viện xin thêm chiến phí và được chấp thuận 385 triệu Mỹ Kim với điều kiện Pháp phải gởi thêm sang Đông Dương hai sư đoàn bộ binh, lập kế hoạch diệt trừ quân CSVN trong hai năm và kiện toàn việc thành lập Quân Đội QGVN. Tháng 4, Phó Tổng thống Richard Nixon được cử sang thị sát chiến trường Đông Dương. Tháng 5, Chính phủ Pháp chỉ định Tướng Henri Navarre thay thế Salan. Bộ trưởng Letourneau khi trở về Đông Dương không lập được một kế hoạch thiết thực nào để đánh CSVN nhưng có lối sống như một ông hoàng cao hơn các ông hoàng thực sự của ba nước Việt, Miên và Lào. Pháp cũng không đưa thêm quân sang Việt Nam. Việc kiện toàn Quân Đội QGVN tiến hành nhanh hơn. Chính quyền QGVN ra lệnh động viên thanh niên từ 18 đến 33 tuổi. Ở trung ương, Bộ Tổng Tham Mưu, thêm một vài cơ quan. Ở địa phương, thành lập các quân khu và các bộ tư lệnh. Quân khu I gồm các tỉnh thuộc Nam Việt; Quân khu II, các tỉnh duyên hải Trung Việt; Quân khu III các tỉnh Bắc Việt; và Quân khu IV các tỉnh Cao nguyên Trung Việt, với các Tư lệnh Quân khu cấp bậc Đại tá hay Thiếu tướng Việt Nam. Về tác chiến, mỗi Quân khu thành lập một Liên đoàn Lưu động [Groupement Mobile] gồm ba tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn pháo; lập thêm một số Tiểu đoàn Việt Nam [Bataillons Vietnamiens] phụ trách lãnh thổ; và thành lập thêm một số Tiểu đoàn Khinh quân [Bataillons Légers] hành quân lưu động. Vì tình hình chiến sự nên Quân khu III và IV, mỗi nơi có hai Liên đoàn Lưu động [Goupements Mobiles]. Pháp cũng trả dần quyền chỉ huy các đơn vị tác chiến cho các sĩ quan Việt Nam. Pháp cũng chấp nhận các đơn vị vũ trang của các giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo và phong cấp tướng hay đại tá cho một số các cấp chi huy giáo phái. Lê văn Viễn, chỉ huy đoàn quân ô hợp Bình Xuyên ở Sài Gòn- Chợ Lớn cũng được phong cấp Thiếu tướng. Các sự kiện thành lập các quân khu, các đơn vị tác chiến Việt Nam, thu nhận các đơn vị võ trang giáo phái, không là chứng minh thiện chí trả độc lập và quyền “hành xử nội bộ” cho Chính phủ Quốc Gia Việt Nam theo các điều khoản chính cuả Hiệp ước Elysée mà thực ra Letourneau chỉ muốn có thêm quân bản xứ đánh CSQT ở Việt Nam, chết thay cho quân Pháp. Trong khi đó thì Bộ Tham mưu Pháp chỉ huy toàn bộ các cuộc hành quân dù nhỏ hay lớn. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội QGVN chỉ tuyển mộ, huấn luyện quân và điều hành tiếp vận cung cấp cho chiến trường là chính.

Các Bộ Tư lệnh Quân khu cũng vậy. Rõ ràng Pháp bội ước, không đưa hai sư đoàn bộ chiến sang Việt Nam. Họ sử dụng người Việt để họ đánh thuê cho thế lực giàu mạnh hơn. Các sử gia nước ngoài và Việt Nam ít người nêu rõ dã tâm này của Pháp. Pháp nhận tiền của Hoa Kỳ rồi lợi dụng gan mật của giới trẻ Việt Nam đem phơi ngoài bãi chiến…Vậy mà chúng tôi những ngỡ là đánh giặc để giữ nước vì lòng yêu tổ quốc của mình. Tất nhiên ít lâu sau đa số tỉnh thức, nhưng túng thế phải tùng quyền. Quốc trưởng Bảo Đại, dù mang tâm huyết đó cũng nhận thức được sự bất lực của mình, nên giao chính sự cho những người mà ông tin rằng có khả năng đối thoại với thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương, ra đi lần nữa. Ông không muốn nỏi gì thêm với những tên thực dân này.
Khi Navarre chính thức nhận chức ở Đông Dương là lúc sắp diễn ra những thay đổi lớn lao cục diện chiến tranh. Trong cuộc họp chóp bu ngày 22/8/1953, CSVN định bỏ kế hoạch đưa quân sang Lào, ngược lại quyết định mở chiến dịch tổng tấn công lần nữa vào tuyến De Lattre và châu thồ Sông Hồng. Cố vấn Quân sự Vi Quốc Thanh, được tham dự buổi họp, báo cáo về Bắc Kinh. Mao Trạch Đông gởi hai điện văn ngày 27 và 29/8 chỉ thị cho CSVN tấn công Lai Châu, tây bắc Việt Bắc, và tiến sang Lào. Nội dung các bức điện đó, sau này giải mật, được tác giả Qiang Zhai ghi lại phần quan trọng nhất, như sau: “Diệt địch quân vùng Lai Châu, giải phóng thượng Lào và trung Lào, và từ đó mở rộng chiến trường xuống hạ Lào và Cao Miên để khống chế Sài Gòn.”(30) Với tin tức quân CSVN tập trung vùng Lai Châu, Navarre quyết địng thiết lập căn cứ ở Điện Biên Phủ vừa ngăn cản quân CSVN tiến sang Lào vừa dẫn dụ đại quân của Giáp về đây đề tiêu diệt bằng không quân. Cứ điểm này ở thung lũng Điện Biên Phủ, biên giới Việt-Lào, ở hướng tây cách Hà Nội 188 dặm , trước sau có 15,000 quân do Đại tá De Castries chỉ huy. Theo nhiều tài liệu cho rằng Tướng Vi Quốc Thanh lập kế hoạch và giám sát chi tiết từng giai đoạn bao vây tấn công Điện Biên Phủ của bộ đội HCM với hơn bốn sư đoàn bộ chiến và hai sư đoàn pháo do Võ Nguyên Giáp chỉ huy.

Trước đó, theo Qiang Zhai, Mao Trạch Đông chỉ thị lập thêm cho bộ đội HCM hai sư đoàn pháo binh và hai trung đoàn công binh chiến đấu với kỹ sư và chuyên viên chọn lọc từng chiến đấu ở Hàn Quốc có kinh nghiệm đào giao thông hào tiến quân tiếp cận vị trí địch, tăng cường cho Võ Nguyên Giáp. (31) Cuộc tấn công diễn ra ngày 12/3/1954. Võ Nguyên Giáp, muốn chiến thắng nhanh, cho lệnh tấn công biển người, bị tổn thất nặng. Bắc Kinh ra lệnh Vi Quốc Thanh chỉ dẫn cho Giáp dùng chiến thuật “chia cắt quân địch thành từng cụm và bao vây tiêu diệt gọn chúng từng phần” [separating and encircling the enemy and then wiping them out bit by bit]. Các trung đoàn công binh, với chuyên viên CSTQ, phân tán theo các đơn vị bộ binh của Giáp, đào giao thông hào tiếp cận vào từng cụm cứ điểm của Pháp. Quân của Giáp di chuyển theo giao thông hào tiến dần đến các pháo đài Pháp, tấn công diệt từng cụm. Tiến công chậm, nhưng thành công chắc. Trong khi đó các sư đoàn pháo mới thành lập, với loại đại pháo cơ giới di động tối tân, bố trí vị trí pháo đào sâu trên các sườn núi, giập đạn pháo dữ dội vào trung tâm cứ điểm.

Lúc đó, không quân Pháp bất lực trước lối đánh độn thổ này. Tình hình nguy ngập. Tướng Paul Ely, Tổng Tư lệnh Quân đội Pháp yêu cầu Hoa Kỳ yểm trợ căn cứ ĐBP bằng không lực. TT. Eisenhower, trước tiên định cứu nguy ĐBD, đã chỉ thị lập kế hoạch không yểm qui mô “Guernica Vulture”, có thể sử dụng bom nguyên tử chiến thuật, nhưng sau vì nhiều lý do, nên thay đổi ý định, để Pháp tự liệu. Ngày 1/5/1954, cụm pháo đài chỉ huy cứ điểm bi ̣tấn công dữ dội. Ngày 7/5/1954, Navarre ra lệnh cho De Castries đầu hàng. (32) Hoa Kỳ đã chi phí cho Pháp ở Đông Dương 1 tỷ Mỹ kim và 1 tỷ khác ở chính quốc theo kế hoạch Marshall.
Hội nghị Genève từ đầu tháng 5/1954, kết thúc với Hiệp định “Chia đôi Việt Nam” ký vào nửa khuya đêm 20/7/1954 giữa Thiếu tướng Pháp Henri Delteil và Thứ trưởng Quốc phòng Tạ Quang Bửu của CSVN. Như vậy, Pháp và CSVN cắt xẻ Việt Nam ở Vĩ tuyến 17, lấy Sông Bến Hải làm ranh giới Miền Bắc và Miền Nam. Ngoại trưởng Trần văn Đỗ của Chính phủ Quốc Gia Việt Nam và đại diện Hoa Kỳ không ký. Hiệp định Genève được thi hành, trong vòng 300-ngày di tản chính thức, từ tháng 8/1954 đến tháng 5/1955, hơn 860,000 người di cư vào Miền Nam. Tham vọng của Pháp vô lượng, muốn hoà hoãn vớí CSVN ở Miền Bắc, nhưng vẫn muốn chiếm Miền Nam, không chịu buông. Tướng Paul Ely được đưa sang Miền Nam. Ely sử dụng Tướng Nguyễn văn Hinh tiếp tục nắm chặt Quân Đội Việt Nam.

Trước đó, ngày 16/6/1954 Quốc trưởng Bảo Đại chỉ định Ông Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng thay Hoàng thân Bửu Hội. Ngày 26/ 6, Ông Diệm về nước. Ngày 7/7/ 1954 nội các NĐD thành lập xong. Chính phủ của ông được Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower yểm trợ cực lực. Eisenhower chủ trương thuyết “Dominos”. Ông cho rằng một quân bài domino đầu ngã sẽ kéo theo những quân bài dominos kế tiếp lần lượt ngã theo. Ông coi Việt Nam ở thời điểm đó là quân bài domino đầu của Đông Nam Á. Khi mà CSQT –nhất là CSTQ– muốn xích hoá vùng này tất phải làm đổ sụp quân bài tiền đồn này trước tiên. CSBV tất nhiên được Bắc Kinh sử dụng để Nam Tiến. Nếu bị ràng buộc vào Hiệp định Genève, nhất thời CSBV không thể công khai vượt khu phi quân sự (demilitarized zone -DMZ) Bến Hải thì sẽ âm thầm tiến quân sang Lào. Vì vậy Lào là con đường chiến lược của Bắc Kinh và CSVN, nên Eisenhower rất quan tâm và đề cập đến nhiều lần. Còn Mao Trạch Đông thì nói rất rõ ràng khi chỉ thị cho bộ đội HCM tiến sang Lào, từ đó mới có trận chiến Điện Biên Phủ, như nói trên. Cội nguồn là ở đó; sau này lãnh thổ trung và nam Lào đã trở thành con “Đường mòn Hồ Chí Minh”, hay Đường Trường Sơn Tây của CSBV. Có nhiều nhà biên soạn sử cho rằng “Thuyết Dominos” của Eisenhower là sai lầm. Chính nhận định đó sai lầm. Eisenhower không thể để cho Pháp, trong ý nghĩa nào đó là một anh đánh mướn thua trận, tiếp tục ở Việt Nam và Đông Dương. Pháp dứt khoát phải ra khỏi địa bàn đã không còn là nơi dụng võ của họ. Hoa Kỳ dứt khoát gầy dựng lực lượng của Nam Việt Nam mạnh để đứng vững, không đổ. Quân bài domino Nam Việt Nam, lúc đó do một lãnh tụ quốc gia chống cộng sản triệt để giữ gìn. Tất nhiên Hoa Kỳ phải yểm trợ mạnh cho Ngô Đình Diệm để có một lực lượng quốc gia mạnh đối đầu với lực lượng cộng sản của Hồ Chí Minh. Trước đó mối thù quốc-cộng chỉ là làn ranh tư tưởng, dù đã đẫm máu. Đến sau Hiệp định Genève tháng 7/1954 nó là một hiện thể, là sông Bến Hải, như một vết thương rộng lớn bưng mũ, phún máu, như vết chém ngang lưng của đất nước… mà đôi bờ đều đầm đìa. Trước sau gì cũng do phe cộng sản gây ra. Cái hư là sự xung đột tư tưởng và cái thực là chia đôi dòng Bến Hải trở thành chiến tranh ý thức hệ, trở thành niềm đau dân tộc. Chỉ có kẻ sống trên xương máu đồng bào chai lì, ngu si nhưng kênh kệu, mới gọi nhau… bên thắng bên thua.

VI.  Xây Dựng Và Tàn Sát
Đảng Lao Động hay Cộng Sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do Hồ Chí Minh lãnh đạo, chính thức vào Hà Nội trung tuần tháng 10/1954, chiếm lĩnh lãnh thổ Miền Bắc Việt Nam từ bắc Vĩ tuyến 17. Từ tháng 7/1954 lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại và Nội các Ngô Đình Diệm bị thu hẹp lại từ nam vĩ tuyến đó đến mũi Cà Mau. Vùng “phi quân sự” hai bên bờ sông Bến Hải trở thành biên giới thực sự của hai nước Việt Nam, cộng sản và quốc gia. Hai chính phủ Việt Nam này có 9 năm, từ đẩu 1955 đến cuối năm 1963, để xây dựng chế độ và lực lượng. Nhưng thực ra ở cả hai miền đều có chiến tranh cục bộ. Ở miền Bắc là chiến tranh giữa đảng CSVN với nhân dân và trí thức. Ở miền Nam là chiến tranh giữa Chính quyền Ngô Đình Diệm và các thế lực cát cứ. Chúng tôi có lần cho rằng đó là cuộc chiến của đạo đức và lương tri (ethical and conscientious war). Ở Miền Bắc là cuộc chiế́n lương tri thế tận –conscientiously catastrophic war. Ở Miền Nam là thứ chiến tranh lương tri nhân vị –conscientiously personalistic war; chữ này không có trong tự điển, nó thoát ra từ chủ nghĩa mà danh từ Pháp gọi là “Personnalisme” hay chủ nghĩa “Cần lao Nhân vị”, có người gọi là chủ nghĩa vị kỷ, lúc đó rất hiếm người hiểu và đến nay thì không còn ai muốn hiểu nữa hoặc hiểu thấu đáo hơn theo định nghĩa sau. Cuộc chiến thế tận của HCM thành công vì sự tàn ác cực độ. Cuộc chiến nhân vị của NĐD thảm bại vì tự cô lập.

Miền Bắc, sau khi gần một triệu người di cư vào Miền Nam, đa số trí thức di tản vào Sài Gòn; chất xám ở Miền Nam giàu thêm. Thiểu số không di tản được bị cuốn mất vào sức nghiền của guồng máy vô sản toàn trị như lớp trí thức thành thị không theo kháng chiến kể cả trí thức kháng chiến ở mọi ngành, mọi cấp. Tất cả đều là kẻ thù của đảng. Vì theo chủ nghiã Đệ III QTCS, noi gương Staline và sau đó là Mao Trạch Đông, giết hàng triệu người, dù chỉ tình nghi là những kẻ “nội thù”, rất nhiều trí thức trong hàng ngũ của họ, bất kể đã lập công lớn, trong kháng chiến. Khi đã chiếm được miền Bắc, Hồ Chí Minh và Trường Chinh Đặng Xuân Khu, Tổng Bí thư Đảng Lao Động, hay đảng CSVN, chủ trương “Củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam”.
Về chủ trương Củng cố miền Bắc, CSVN có những bước “nhày vọt” thần tình. Trong các cơ cấu đảng và chính phủ, chính trị hay quân sự, hành chánh hay tài chánh, văn hoá hay xã hội v.v… đều phải triệt để áp dụng hệ thống cấp bộ và đảng bộ song hành (parallel hierarchy): chỉ huy nghiệp vụ chuyên sâu và chính uỷ đảng trị chuyên chế. Họp hành tố cáo đồng bạn, tự phê bình kiểm thảo, thường xuyên và trong các đợt chỉnh huấn để loại trừ các phần tử trí thức và tư sản… cho biến mất, cho đi cải tạo, cho đi canh tác ở các khu kinh tế mới trong các vùng rừng sâu nước độc, cho trở về cố lý nhưng cắt mọi nhu cầu sinh sống với chính sách “cô lập” [isolation] nghĩa là bị hoàn toàn tách rời ra khỏi mọi hoạt động xã hội, đi lại, liên lạc, mua bán, kể cả lao động, cấm cả việc canh tác dù là ngọn rau, hạt đậu, chết đói cả nhà. Trong quần chúng, đảng và chính quyền CSVN tiến hành cải tạo xã hội với tất cả các biện pháp tinh vi nhất và sâu độc nhất “bứng tận gốc bốc tận rễ” các thành phần “trí, phú, địa, hào” nổ̉i bật nhất là hai sử kiện bất hủ “Cải cách Ruộng Đất” và “Nhân Văn Giai Phẩm”. Chiến dịch “Cải cách Ruộng Đất” học được của CSTQ, chính Trường Chinh là người chủ động tố cáo và giết chết cha mẹ ruột của mình, nêu gương để đồng bào tố cáo lẫn nhau do cán bộ cải cách ruộng đất xúi bẩy bần cố nông tố cáo, hài tội “địa chủ” công khai trước các “toà án nhân dân” để xử tội chết hoặc tù đày. Bất cứ ai có một gian nhà nhỏ, mảnh vườn quanh nhà, và một con heo hay mấy con gà trở lên chúng gọi là “địa chủ”.

Đa số gia đình của các “địa chủ” nạn nhân cũng bị chết đói bởi chính sách “cô lập”[isolation] nghĩa là cấm không được mua thực phẩm của các hợp tác xã “mậu dịch quốc doanh”, cấm lao động sản xuất và cấm cửa không cho ai ra khỏi nhà. Không có ăn tất nhiên chết đói, trẻ con chết trước, rồi người già, rồi đến những người khác trong gia đình. Gia đình này chết, cùng lượt, hay kế tiếp những gia đình khác. Với chiến dịch này CSBV đã giết trên 500,000 người trong 10,000 làng xã Miền Bắc. (33) Quần chúng ở Nam Đàn và Quỳnh Lưu vũ trang gậy gộc biểu tình phản đối CCRĐ và việc cấm không cho di cư vào Miền Nam, Hồ Chí Minh ra lệnh điều động quân chính quy cấp sư đoàn đàn áp, giết chết và bỏ tù hàng vạn ngưởi. Trí thức mang tư tưởng cởi mở và tự do thuộc phong trào “Nhân Văn và Giai Phẩ̉m” [NV & GP] của nhóm nhà thơ, nhà văn, nhà báo, học giả, giáo sư và sinh viên thuộc các tổ chức hay cơ cấu đảng, chính phủ, bộ đội và học đường Miền Mắc, trước tiên là bất mãn với cấp lãnh tụ và chế độ và có lẽ nhận thức được sự chuyên chế của đảng và nhà nước CSVN đã nhúng tay thô bạo bóp chặt khối óc, mạch máu và dạ dày của mọi tầng lớp xã hội và nhất là sau chiến dịch cải cách ruộng đất của đảng gây tang chế cho cả Miền Bắc và các cuộc đàn áp lương dân dã man của bộ đội, nói trên, đã viết thành những tiểu phẩm văn học tuyệt tác trong hai tạp chí Giai Phẩm và Nhân Văn tạo nên giai thoại chống lãnh tụ và đảng bằng ngòi bút ảnh hưởng vô cùng rộng lớn trong thanh niên và sinh viên học sinh như: gọi HCM là “chiếc bình vôi”, càng già càng hẹp lượng. Hồ Chí Minh còn được ví như một người thiếu nghị lực để cho đất nước bị cắt ngang lưng, làm cho đất trời Miền Bắc rợp màu máu và bóng dáng hung thần. Những hung thần, hay những lãnh tụ cộng sản sắt máu này, là những tên khổng lồ “không có trái tim” tàn phá khủng khiếp, giết chóc kinh hoàng. NV & GP còn gọi những tay làm văn học một thời nổi danh, nhưng từ khi phục vụ cho cộng sản đã trở thành những con ngựa già kiệt sức và những người làm thơ một thời được yêu chuộng đã trở thành những con robots-thơ. Sau nữa, nhóm NV & GP kêu gọi CSVN trả tự do cho pháp luật, y khoa và văn học…

Tuy nhóm chủ đạo tuyên huấn và “văn học”cực đoan tôn thờ Staline kết tội phong trào NV & GP, Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị đảng Lao Động vẫn giả bộ làm ngơ. Nhưng khi sinh viên Hà Nội nhập cuộc với tạp chí “Đất Mới”, lập tức Hồ ra lệnh đóng cửa các tạp chí Nhân Văn, Giai Phẩm và Đất Mới, tịch thu các số đã in ấn. Họp hành đấu, tố, lung tung. Cuối cùng những ai chủ trương hay cộng tác với NV & GP như Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Văn Cao, Trần Dần, Trần Duy, Sĩ Ngọc, Như Mai, Phùng Cung, Phùng Quán, Bùi Quang Đoài, Trần Lê Văn, Hoành Tích Linh, Tạ Hữu Thiện, Hữu Loan, Quang Dũng, nhà văn giáo sư Nguyễn Bách Khoa Trương Tửu, học giả Đào Duy Anh, kể cả các trí thức khoa bảng như TS. Trần Đức Thảo và TS. Nguyễn Mạnh Tường từ Pháp về, kẻ bị lãnh án tù, kẻ bị bắt cải tạo, tước đảng tịch, bị sa thải, suốt đời mai một, cơ cực đói khổ với miếng cơm manh áo. Một ngày thoát ra khỏi bàn tay lông lá của những tên lãnh tụ không tim, đến Paris, Nguyễn Mạnh Tường cảm khái nỗi đau của mình khi cộng tác với CSVN, viết quyển sách”Un Excomuniqué”. Tấm gương trí thức cộng tác với CSVN để vứt bỏ cả một đời người này đáng để những trí thức khoa bảng hải ngoại ngày nay nhìn mà suy ngẫm… Thương tâm nhất là tất cả sinh viên nhóm Đất Mới hoặc là sinh viên hay học sinh ở Hà Nội hay ở các tỉnh chỉ là độc giả cuả NV & GP và Đất Mới cũng bị bắt cải tạo, vô số: nhiều người tự sát trong tù, nhưng đa số các cô cậu học trò này có đi tù-không-án và mãi mãi không còn ai trở về, chỉ vì họ bị nhiễm độc tư tưởng phản động và chống đảng. Mọi phong trào đều bị giập tắt, toàn Miền Bắc, quần chúng già, trẻ, trai, gái từ thành thị đến thôn quê đều bị cưỡng bách vào đội ngũ do đảng chỉ đạo. Hệ thống “mậu dịch quốc doanh” bóp chặt hầu bao của họ. Bất tuân lệnh là chết đói. Cho nên, Hồ Chí Minh và các lãnh tụ CSVN thống trị Miền Bắc không cần chinh phục khối óc và trái tim quần chúng, ngược lại… tàn sát tập thể dân lành, nếu cần, để đè đầu cưỡi cổ những người còn lại. Đó là thứ “lương tri thế tận” man rợ. Về đường lối “Chiếu cố Miền Nam”, sau chiến thắng Điện Biên Phủ và sau Hiệp ước Genevève 1954, CSBV chỉ rút bớt quân nhưng vẫn để lại 4,000 cán bộ chỉ huy bộ đội Pathet-Lào của Souphanouvong. Ông này và Sieu Heng lãnh tu ̣đảng Cộng Sản Cao Miên trước đây do Hồ Chí Minh huấn luyện ở Pác Bó, Tuyên Quang. Võ Nguyên Giáp còn để lại ở trung và hạ Lào nhiều đơn vị cấp trung đoàn, nhất là một đơn vị lớn do Đồng Sĩ Nguyên chỉ huy, thám sát con đường mòn cũ của các tay buôn lậu thời thực dân Pháp, từ đèo Mụ Già ở trung Lào. chạy xuôi vùng núi rừng, cập theo dãy Trường Sơn vào tận vùng đất đỏ Đôn Luân, Lộc Ninh và cập vùng lưỡi câu biên giới Miên xuống tận Tây Ninh. Đoàn xây dựng “Đường mòn Hổ Chí Minh” do Võ Bầm chỉ huy triển khai mở con đường mòn này thành hành lang xâm nhập không lâu sau đó. Hành lang này là con đường chiến lược “chiếm trung và nam Lào để khống chế Sài Gòn” mà Mao Trạch Đông từng chỉ thị cho Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đem quân tiến sang Lào cuối năm 1953, từ đó diễn ra trận Điện Biên Phủ. Đường mòn HCM là tai hoạ lớn cho Miền Nam sau này. Thêm vào đó, HCM cho thành lập Trung ương Cục Miền Nam và sau đó thành lập thêm Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam với nhóm “chính khách sa-lon” Nguyễn Hữu Thọ và Huỳnh Tấn Phát, Trương Như Tảng, Dương Quỳnh Hoa v.v…

Trong khi đó, ở Miền Bắc, sau khi thanh toán xong lớp thanh niên trí thức, sinh viên và học sinh bị nhiễm độc tư tưởng của phong trào NV & GP, Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đảng CSVN bắt đầu đào tạo thế hệ mới “sinh Bắc, tử Nam” để chuẩn bị tung vào chiến trường Miền Nam qua ngả Lào và Miên.
Miền Nam, Chính phủ Ngô Đình Diệm được Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower yểm trợ mạnh mẽ về chính trị, ngoại giao, quân sự và kinh tế. Dưới áp lực của Hoa Kỳ và tình hình nội bộ bất ổn, Pháp trao quyền chỉ huy Quân Đội Quốc Gia cho Chính phủ Quốc Gia Việt Nam tháng 1/1955 và rút hết quân viễn chinh về nước trong vòng một năm. Quốc trưởng Bảo Đại lần sau cùng đóng góp vào sự gầy dựng một quốc gia độc lập với một chính quyền mạnh đã can thiệp với chính quyền Pháp và chính mình ra lệnh cho Trung tướng Nguyễn văn Hinh, người chủ trương lật đổ Ông Diệm, phải rời chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng QĐVN và trở về Pháp. Tướng Hinh, quốc tịch Pháp –là con của Đốc Phủ Sứ Nguyễn văn Tâm,Thủ tướng QGVN, tiền nhiệm của Hoàng thân Bửu Hội– phục vụ trở lại cho Không Quân Pháp và lần lượt thăng đến cấp Đại tướng, Tư lệnh Lực lượng Nguyên tử Phòng không Pháp. Ông Diệm từ đó nắm trọn quân đội, khoảng chừng trên 100,000 quân và toàn quyền hành động để ổn định Miền Nam.
Về quân sự, việc thành lập một lực lượng vũ trang duy nhất và mạnh, nhờ sự yểm trợ trực tiếp của Phái bộ TRIM [The Training Relation Instruction Mission] Hoa Kỳ do Tướng John O’Daniel chỉ huy, hoàn toàn thay thế chương trình huấn luyện của Tướng Pháp Paul Ely trước đây. Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt trở thành Trường Võ bị Quốc gia [The National Military Academy], Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, và các Trường Hạ Sĩ quan Đồng Đế Nha Trang và Cây Điệp, Hóc Môn, đến đầu năm 1955, đã đào tạo được thêm khoảng 18,000 sĩ quan và hạ sĩ quan. Nhưng quân số của quân đội cũng chưa vượt quá 122,000 người. Bộ Tổng Tham Mưu với Thiếu tướng Lê văn Tỵ làm Tổng Tham Mưu Trưởng và Đại tá Trần văn Đôn làm Tham Mưu Trưởng, từ thành Ô-Ma [Camp Aux Mars] đường Galiéni chuyển lên căn cứ Chanson [Camp Chanson] ở Tân Sơn Nhứt, tổ chức thêm Phòng 3 Hành Quân, Phòng 5 Quân Huấn, Phòng Nghiên Cứu và thành lập Bộ Chỉ huy Viễn Thông. Từ tháng 8/1955 tất cả Phòng thuộc BTTM đều do sĩ quan cấp tá VN chỉ huy.

Đã có phân nhiệm rõ ràng giữa Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu. Ở cấp bộ trung ương, thành lập Liên đoàn Nhảy Dù do Trung tá Đỗ Cao Trí chỉ huy gồm các Tiểu đoàn Nhảy Dù 1, 3, 4, 5, 6, và 7. Thuỷ Quân Lục Chiến chỉ có mấy đơn vị cấp đại đội, trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải Quân. Binh chủng Thiết Giáp có 4 trung đoàn thiết giáp và 1 trung đoàn thuỷ xa. Pháo Binh có 9 tiểu đoàn biệt lập, và Công Binh thành lập Bộ Chỉ huy ở Trung ương và 3 liên đoàn công binh cơ động. Tháng 3/1955, Đại tá Dương văn Minh và Trung tá Nguyễn Khánh được chỉ định làm tư lệnh và tư lệnh phó các chiến dịch đánh dẹp lực lượng Bình Xuyên ở Chợ Lớn. Tháng 5 và 6 bình phục lực lượng Hoà Hảo Trần Quang Vinh hay Ba Cụt ở miển Tây. Trừ ông này bị tòa án quân sự xữ tử hình, và là người duy nhất, tất cả cấp chỉ huy giáo phái đều được sát nhập vào Quân Đội Quốc Gia với cấp bậc sĩ quan, cấp tá hay úy, tùy khả năng. Ông Trình Minh Thế lực lượng giáo phái Cao Đài hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm và được phong Tướng (sau đó tử trận khi đánh Bình Xuyên) nhiều sĩ quan khác được phong cấp tướng. Quân đội Quốc gia Việt Nam mạnh hơn với sự sát nhập của lực lượng giáo phái. Bộ Tư lệnh Không Quân Việt Nam [Vietnam Air Force –VNAF] được chính thức thành lập tháng 1/1955. Bộ Tư lệnh Hải Quân Việt Nam [Vietnam Navy -VNN] được thành lập tháng 8/1955. Cả hai quân chủng này chưa có thực lực hành quân.

Riêng về Bộ Binh khi Ông Diệm về chấp chánh đã có 82 tiểu đoàn lãnh thổ, 81 tiểu đoàn khinh binh, 6 tiểu đoàn ngự lâm quân và 8 tiểu đoàn sơn cước. Các đơn vị này chỉ có khả năng hoạt động riêng rẽ, trong khi đó Miền Bắc CSVB đến cuối năm 1955 đã có tất cả 18 sư đoàn bộ chiến, cơ giới, phòng không và pháo binh, kinh nghiệm công kiên chiến và vận động chiến; các sư đoàn bộ chiến 304, 308, 312, 316, 320, 325, 328, 332, 350, 305, 324, 330, 328 và 335; sư đoàn Phòng không 367; ba sư đoàn Pháo binh 45, 75 và 349. Lực lượng di động tác chiến có thể trên 350,000 chưa kể các đơn vị chiến xa, công binh và truyền tin dã chiến và những đơn vị biệt lập và phòng thủ diện địa lên đến 24 trung đoàn và 91 tiểu đoàn; không quân; hải quân; dân quân du kích điạ phương và 170,000 cán bộ hành chánh võ trang. Tổng cộng Miền Bắc có một lực lượng quân sự trên dưới 1,000,000 người, trong đó có thể sử dụng từ 35% đến 40% đánh giao thông vận động chiến hay mở cuộc tấn công diện địa ngay sau Hiệp ước Genève 1954. Quan trọng hơn, miền Bắc đã có trên 102,000 cố vấn các ngành nghề, trên 60% trong Đoàn Cố vấn Quân sự của Tướng Vi Quốc Thanh. La Quý Ba trở thành Đại sứ đẩ̀u tiên của Bắc Kinh ở Hà Nội. HCM và CSVN bị kẹp sát, nên hiểm hoạ cho Miền Nam chưa biết bùng nổ lúc nào. Vì vậy, Hoa Kỳ giúp Quân Đội Quốc Gia Miền Nam thành lập đại đơn vị cấp sư đoàn gồm: 4 Sư đoàn Dã chiến (3, 21, 31 và 32); 6 Sư đoàn Khinh chiến (11, 12, 13, 14, 15 và 16) bằng cách sát nhập các tiểu đoàn đã có từ trước và huấn luyện hành quân phối hợp. Ngoài ra QĐQG còn có 13 trung đoàn địa phương và 6 trung đoàn giáo phái. Tổng cộng chừng 170,000 quân. Hoa Kỳ ước tính là trong trường hợp Miền Nam bị tấn công qui mô trong thời điểm đó –như Bắc Hàn từng tấn công Nam Hàn 5 năm trước– thì với các đại đơn vị này Miền Nam có thể cầm cự được cho đến khi Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á [South-East Asia Treaty Organization, SEATO] can thiệp. SEATO được Đồng Minh Hoa Kỳ và Anh tổ chức tháng 2/1955 gồm có Anh, Úc, Hoa Kỳ, Nam Dương, Pháp, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, và Thái Lan.

Về chính trị, trong bức thư ngày 1/10/1954 gởi Thủ tướng Ngô Đình Diệm, Tổng thống Eisenhower giải thích rõ sự yểm trợ về chính trị, quân sự và kinh tế lớn lao của Hoa Kỳ: “Mục đích của sự yểm trợ này là giúp Chính phủ Việt Nam phát triển và trở thành một quốc gia mạnh, đủ sức chống lại mọi âm mưu lật đổ hay bành trướng bằng mô thức quân sự…” (34) Eisenhower sợ quân bài domino Việt Nam bị… đổ. ông Diệm gặt được những bước thành công đẩu tiên khi chấp chánh với toàn quyền hành xử là được sự ủng hộ của các đảng phái quốc gia, quân đội và quần chúng vì sự tận tâm giúp đỡ của Ông cho việc an cư lạc nghiệp của đồng bào di cư miền Bắc và ổn định trật tự xã hội với vật giá thị trường thấp. Việc sinh sống của dân chúng dễ dàng. Đồng bào miền Bắc vào không hối hận về việc định cư trong Miền Nam và đa số yêu mảnh đất lành trù phú và cởi mở này. Sau khi ổn định xong các giáo phái tháng 7/1955 Ông triệu tập “Ủy ban Cách mạng” gồm 200 đại biểu của 18 đảng phái và đoàn ngũ. Tháng 10, Uỷ ban nầy trở thành Quốc Hội và biểu quyết tổ chức “trưng cầu dân ý” ngày 23/10/1955 [October-23 Plebiscite] truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, lập ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống của nền Đệ I Cộng Hoà Việt Nam. Tháng 3/1956, tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến với 123 dân biểu soạn thảo Hiến pháp thiết lập cơ chế căn bản cho nền Cộng Hoà Miền Nam. Quân Đội Quốc Gia đổi tên thành Quân Đội Cộng Hoà Việt Nam. Giả sử ông Diệm không tổ chức “trưng cầu dân ý” để truất phế Bảo Đạo và thiết lập Đệ I Cộng Hoà, thì vị cựu hoàng này cũng không bao giờ trở lại cầm quyền, vì Ông là bậc trí giả, hiểu rõ sự hưng phế của các triều đại trong lịch sử và cũng tự biết vai trò của Ông đã chấm dứt và Triều đại nhà Nguyễn cũng đã chấm dứt từ mươi năm trước rồi. Và, chúng tôi cũng không tin rằng một người tuy là công giáo nhưng rất thủ cựu, vẫn giữ nề nếp sống theo luân lý Khổng, Mạnh, rất đạo đức, lại từng là Thượng thư bộ Lại của Hoàng triều Bảo Đại –nhất trụ đại thần– như ông Ngô Đình Diệm, dù không đồng quan điểm về sách lược trị nước an dân với nhà vua, một lần đã từ chức ra đi, nhưng chắc không nở làm cái chuyện thay quân tiếm vị…

Thiển nghĩ, sở dĩ có chuyện phế lập cuối năm 1955 chắc chắn vì Hoa Kỳ, trong thời kỳ muốn chận đứng làn sóng đỏ tràn xuống Đông Nam Á, không thể để một tiền đồn quan trọng như Việt Nam có một thể chế chính trị không rõ ràng và một quân đội yếu kém nên… chuyện tất phải diễn ra đã diễn ra như chính sử đã ghi, mà ông Ngô Đình Diệm, nếu muốn cho đất nước mạnh, tất phải theo cái lý hợp lý (logic) nhất. Thành lập một thể chế chính trị mạnh và một quân đội mạnh để chống CSVN. Có thể đây cũng là một trong những điều bất khả cưỡng mà các nhà lãnh đạo Miền Nam trước thế lực chỉ đạo Thế giới Tự do. Tổng thống Diệm và ông em, Cố vấn Ngô Đình Nhu, với chính sách “Ấp Chiến Lược” thành công tiêu diệt gần như toàn bộ 16,000 CSVN để lại miền Nam từ năm 1954-1955 không tập kết, tiếp tục khuấy động giai đoan I du kích chiến ở thôn quê Miền Nam. Trên bình diện rộng lớn hơn, ông Cố vấn Ngô Đình Nhu –một học giả và chiến lược gia– đã đem thuyết ‘Cần lao Nhân vị” (Personnalisme, theo Pháp ngữ, không có chữ này trong tự điển Anh ngữ) áp dụng như chủ thuyết căn bản tôn trọng phẩm cách và quyền sống của con người để chống lại thuyết cộng sản vô thần. Tuy nhiên, thay vì tuyên truyền công khai trong quần chúng và giải thích nguyên lý tinh thần cao đẹp của thuyết này cho chính giới Hoa Kỳ hiểu, đem áp dụng rộng rãi hầu thu phục nhân tâm, ngược lại chỉ âm thầm tiệm tiến như một hội kín, thu nhận những phần tử và sĩ quan tín cấ̉n rất hạn chế và sử dụng những thành phần này điểu khiển chính quyền và quân đội tạo nên sự thưởng phạt bất công, nên sự đoàn kết không còn chặt chẽ nữa. Các đảng phái quốc gia mất tin tưởng vào chính quyền. Thí dụ như nhà cách mạng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam cao ẩn ở một gốc núi yên tĩnh ở Đà Lạt và nhiều nhà cách mạng khác như Phan Khắc Sửu, Phan Quang Đán, Trần văn Ân, Hồ Hữu Tường v.v… bị bắt đày đi Côn Đảo. Ở miền Trung, có chính quyền các có quân đội nhưng quyền xử lý thực sự ở trong tay ông Ngô Đình Cần. Từ đầu năm 1960, người ta nghe rất nhiều về chữ “chính quyền gia đình trị, độc tài và tham nhũng.” Quyền lực quốc gia nằm trong tay của mốt số ít người… Nhóm chính trị trí thức “Caravelle” ra tuyên ngôn ngày 26/4/1960 chỉ trích chính quyền Tổng thống Diệm. Phật giáo miền Trung âm ỉ. Các giới chức chính trị và quân sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn không hiểu “cần lao nhân vị” là gì, nhưng CIA và Toà Đại sứ Hoa Kỳ đã để mắt quan sát. Sự bất mãn trong quân đội bộc phát khi Lữ đoàn Nhảy Dù do Đại tá Nguyễn Chánh Thi chỉ huy cuộc đảo chánh, tấn công dinh Độc Lập ngày 11/11/1960. SĐ21BB ở miền tây do Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm tiến lên Sài Gòn cứu viện. Một bí ẩn là, trong ngày đó, Thiếu tướng Nguyễn Khánh liên lạc được với Trung tá Lâm Quang Thơ, Tỉnh trưởng Mỹ Tho, mang một đơn vị thiết giáp đến trước dinh Độc Lập và gặp em là Trung úy Lâm Quang Thới đang chỉ huy một đại đội thuộc Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù tấn công cổng chính và mặt tiền dinh. Chính sự dàn xếp của anh em Lâm Quang và các cánh quân cứu ứng của Tướng Trần Thiện Khiêm và Tôn Thất Đính đến nên cuộc đảo chính của Nguyễn Chánh Thi thất bại. Ông Diệm được cứu thoát.

Cũng tháng này, ở Hoa Kỳ, trong cuộc cuộc bầu cử tổng quát, ứng cử viên trẻ của đảng Dân Chủ John F. Kennedy đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 1961-1965. Lúc đó, các nhà bình luận chính trị và quân sự quốc tế, khi quan sát cục diện thế giới, cho rằng sẽ có những thay đổi lớn ở Việt Nam. Nhiều vị ghi nhận, Tổng thống Eisenhower –một chiến lược gia, một nhà chính trị lão luyện– đã thực hiện được chính sách của Roosevelt là đẩy Pháp ra khỏi Đông Dương, đồng thời thừa kế được sách lược của Truman lập các liên minh quân sự ở các đại dương và các châu lục, trước tiên tung tiền cho Pháp đánh thuê, nhưng khi Pháp bất lực, đã quyết định xây dựng lực lượng của Chính phủ Ngô Đình Diệm để giữ quân bài domino Việt Nam đứng vững. Tuy nhiên, có thể Eisenhower đã không thực hiện được sách lược của mình ở Việt Nam vì dù ông Diệm là một lãnh tụ đạo đức, nhưng thủ cựu –ngay cả như ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, một lý thuyết gia thâm trầm– cũng không biết có nhận thức được rõ ràng “Chiến tranh Cách mạng” [Revolutionary War] mà CSVN đang áp dụng, không chỉ là du kích và bạo động chiến mà là một một cuộc chiến toàn diện quy mô rộng lớn nhằm đoạt chính quyền và chiếm lãnh thổ hay không? Có lẽ vì vậy, khi bàn giao chức vụ, Eisenhower khuyên cáo Kennedy nên chú trọng đặc biệt về lãnh thổ Lào mà CSVN đang lợi dụng để nam tiến và nếu Kennedy định mang quân vào Lào, Ông sẽ yểm trợ. Tuy nhiên Chính phủ Kennedy đã làm khác hơn.

Thứ nhất, các cố vấn chính trị của Kennedy cho rằng Chính quyền Ngô Đình Diệm đã bị ông bà Cố vấn Ngô Đình Nhu thao túng, nên càng ngày càng bị các đảng phái và các tôn giáo chống đối cho là độc tài, gia đình trị, phân biệt tôn giáo, nên trước tiên họ muốn loại ông bà Nhu. Bị từ chối, họ tiến thêm một mức nữa là đặt vấn đề “thay hay không thay” ông Ngô Đình Diệm?

Thứ nhì, chính khách “diều hâu” trong Chính phủ Kennedy chẳng những huỷ bỏ quan niệm chiến tranh uỷ nhiệm, muốn đem quân Hoa Kỳ vào Nam Việt Nam để trực tiếp điều khiển tiền đồn tự do này chống CSQT mà còn đưa chiến tranh đặc biệt ra miền Bắc Việt Nam. Kennedy cho thành lập Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ và thành lập ở Ngũ Giác Đài cơ quan gọi là “Phòng Phụ tá Đặc biệt Chống Chiến tranh Phiếm loạn và Hoạt động Đặc biệt” [The Office of the Special Assistant for Counter-Insurgency and Special Activities”]; đổi tên MAAG ở Miền Nam thành MACV [Military Assistance Command–Vietnam] và đặt một cơ quan gọi là MACV/SOG [MACV’s Studies and Observation Group] để điểu khiển các đơn vị thi hành kế hoạch hành quân mật “Operation Plan 34A” phá hoại và tuyên truyền gây rối loạn ở Miền Bắc, trong đó có đài phát thanh mật “Gươm Thiêng Ái Quốc”[Secred Sword Patriot’s League] của Cục Tâm Lý Chiến QĐVNCH. MACV/SOG nhận chỉ thị và báo cáo trực tiếp cho Phòng Phụ tá Đặc Biệt nói trên không phải thông qua Tướng Paul Harkin bấy giờ là Tư lệnh MACV. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất của Washington vẫn là sách lược đưa quân tác chiến [combat troops] Hoa Kỳ vào Việt Nam, sử dụng Miền Nam như mảnh đất thí nghiệm sách lược “chống chiến tranh phiến loạn” –counter-insurgency strategy– mà Kennedy cho rằng sẽ phải áp dụng trong tương lai ở nhiều nơi trên thế giới, khi mà chiến tranh lạnh giữa Liên Xô Nga và Hoa Kỳ đã bắt đầu và một cuộc chiến quy mô chưa thể diễn ra. Chính Kennedy tuyên bố trong một cuộc hội thảo ngày 5/5/1961:“Hoa Kỳ sẽ coi trọng việc sử dụng lực lượng Hoa Kỳ để giúp Miền Nam chống áp lực cộng sản, nếu cần.”(35) Tổng thống Diệm thông báo cho Đại sứ Hoa Kỳ Nolting biết là dân chúng miền Nam không chấp nhận quân lực Hoa Kỳ vào Miền Nam.

Thứ Ba, thay vì định đưa lực lượng Hoa Kỳ vào Nam Việt Nam, tốt hơn nên đưa sang Lào như tầm nhìn chiến lược của Eisenhower, để chiếm thượng phong và nếu phải đánh nhau với bộ đội Hồ Chí Minh ở đó thì cũng vạch được bộ mặt xâm lăng của CSVN trước dư luận quốc tế. Chính phủ Kennedy chấp thuận giải pháp chính trị lừng khừng của Phụ tá Ngoại giao Averell Hariman và phụ tá của ông này là William Sullivan lập thêm thế lực thứ ba giữa hai thế lực quốc gia Phoumi Nosavan và cộng sản Souphanouvong là biến một ông đại uý thành tướng hai sao –Khong Le hay Kong Le– rồi triệu tập Hội nghị lần hai ở Genève tháng 5/1962 gồm 14 quốc gia ký “Hiệp ước Trung lập Lào” bỏ vùng Sầm Nứa xuống tận nam Lào cho Pathet-Lào kiểm soát. Trên thực tế là giao vùng lãnh thổ này cho bộ đội Võ Nguyên Giáp khai thác. Đoàn 559 Đặc biệt với hơn 35,000 cán binh bộ đội và thanh niên xung phong Miền Bắc do Võ Bầm chỉ huy lợi dung cơ hội đình chiến và trung lập ở Lào công khai xây dựng và mở rộng “Đường mòn Hồ Chí Minh” mà binh sĩ Hoa Kỳ sau nầy gọi là “Đại lộ Sullivan”vì chính ông Sullivan khi đó được bổ nhậm làm Đại sứ ở Lào cấm tuyệt mọi hoạt động quân sự của các lực lượng Hoa Kỳ khác, trừ cuộc chiến mật [the tacit war] mà ông ta lãnh đạo ở đó. Ông này còn yểm trợ cho Vang Pao thành lập lực lượng gần 20,000 quân người Nùng ở thượng Lào để chống quân Bắc Việt và Pathet-Lào. Các tay chính trị này tự gây tai hoạ lớn lao cho Hoa Kỳ sau đó.

Thứ tư, Washington lập Đoàn “Đặc nhiệm Quân sự Sài Gòn” [Saigon Military Mission -MSS] nhưng do CIA Sài Gòn chỉ đạo, vừa thành lập và huấn luyện những đơn vị đặc biệt của QĐCHVN và Cảnh Sát Quốc Gia, vừa theo sát hoạt động quân sự lẫn chính trị của Chính quyền Sài Gòn. Phật giáo miền Trung gây rối loạn, viện lý do chính quyền Huế cấm treo cờ Phật giáo trong buổi lễ Phật Đản ở Chùa Từ Đàm, các lãnh tụ Phật giáo điều động Phật tử biểu tình cướp đài phát thanh Huế ngày 8/5/1963 đả kích chính quyền, bị giập tắt với một ít người chết. Phong trào Phật giáo xuống đường lan rộng. Dàn dựng cả tu sĩ tự thiêu ở ngay thủ đô Sài Gòn; bị bà Ngô Đình Nhu lật tẩy.Sau khi chính quyền dùng Lực Lượng Đặc Biệt và Cảnh Sát Dã chiến mạnh bạo giải tán các cuộc biểu tình và báo chí Sai Gòn chỉ trích chính sách can thiệp thô bạo của Hoa Kỳ vào Nam Việt Nam, ngày 22/8/1963 Kennedy chỉ định Henry Cabot Lodge đột ngột thay thế Frederic Nolting làm Đại sứ ở Sài Gòn. Lodge tức khắc nắm lấy Đoàn “Đặc nhiệm Quân sự Sài Gòn” để tổ chức đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm.
Đảo chính 1/11/1963 giết Tổng thống Ngô Đình Điệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu. Chỉ hai ngày sau, ngày 24/8, Lodge điện về Bạch Ố́́c, qua Phụ tá Bộ Ngoại giao Roger Hilsman, phụ trách Viễn Đông Sự Vụ, cho biết là Toà Đại sứ Sài Gòn đã tiếp xúc với vài tướng lãnh QĐCHVN và họ sẵn sàng làm cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ở Washington, một số tay chính trị thân cận Tổng thống Kennedy và ở bộ Ngoại giao yểm trợ Lodge. Lodge dùng Trung tá Lucien Conein, nhân viên CIA và là thành viên của “Saigon Military Mission”, một điệp viên cừ khôi, tiếp xúc với một vài tướng lãnh như Dương văn Minh, Trần văn Đôn và Lê văn Kim đặt kế hoạch đảo chính. Dù Tướng Paul Harkin, Tư lệnh MACV phản đối, nhưng cuộc đão chính vẫn được tiến hành. Ngày 1/11/1963, Tướng Tôn Thất Đính chỉ huy tổng quát lực lượng đảo chính cho đơn vị chiến xa và Thuỷ Quân Lục Chiến tấn công Bộ Chỉ huy Liên đoàn Phòng vệ Tổng thống ở Thành Cộng Hoà và SĐ5BB của Đại tá Nguyễn văn Thiệu bao vây dinh Gia Long –là nơi làm việc tạm của Tống Thống Diệm– vì dinh Độc Lập bị hai sĩ quan KQVN Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử ném bom năm trước, ngày 27/2 1962, hư hại nặng (đang san bằng xây dựng lại một dinh thự quy mô khác). Trong khi đó, Tướng Dương văn Minh triệu tập cuộc họp tất cả tướng lãnh và các tư lệnh quân, binh chủng đồn trú ở Sài Gòn và phụ cận ở Phòng họp BTTM/QĐCHVN. Trung tá CIA Lucien Conein ở trong một phòng riêng gần đó, với hệ thống truyền tin nối được với Toà Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn và cả với Washington, và một chiếc cặp đầy dollars. Dưới họng súng của Quân Cảnh do các cận vệ của Tướng Minh chỉ huy, tất cả các ông tư lệnh này điều ký tên vào tuyên ngôn đảo chính của Dương văn Minh. Đại tá Lê Quang Tung, Tư lệnh Lực Lượng Đặc Biệt và em là Thiếu tá Lê Quang Triệu bị bắn chết. Đại tá Hồ Tấn Quyền, Tư lệnh Hải Quân, bị giết trước đó ở Thủ Đức. Đại tá Cao văn Viên Tư lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù nhờ được Tướng Trần Thiện Khiêm giúp che chở nên thoát chết. Tổng thống Diệm và Cố vấn Nhu thoát ra khỏi dinh Gia Long và trong đêm 1/11 liên lạc được với Cabot Lodge. Trong cuộc đàm thoại này Lodge hứa giúp phương tiện cho hai anh em ông Diệm ra nước ngoài. Nhưng đến sáng hôm sau, không có thứ phương tiện nào và không có sự tiếp xúc nào nữa của Lodge với TT. Diệm. Khoảng 10 sáng ngày 2/11/1963, dân chúng Sài Gòn đều biết tin Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu bị giết chết trong một thiết vận xa M-113. Một phóng viên chụp được ảnh hai ông chết trong tư thế hai tay bị trói quặp sau lưng, trên thân thể mang nhiều vết đâm đẫm máu… (Ít lâu sau, ông Ngô Đình Cẩn ở Huế bị bắt đưa vào Sài Gòn và bị xử bắn). Hai nhà lãnh đạo VN này đã từ chối không để lãnh thổ bị sử dụng như một thí điểm của một chiến thuật chiến tranh mới, hay nói rõ hơn là chống lại thế lực Washington trong việc chỉ đạo cuộc chiến Việt Nam. ông Diệm mất đi, Miền Nam mất một lãnh tụ yêu nước, đức độ và có khả năng lãnh đạo quân dân miền Nam chống CSVN. Chính quyền Nam Việt Nam rơi vào tay những ông tướng nhiều tham vọng nhưng kém khả năng, sau đó tranh giành quyền bính, chia chác địa vị, đấm đá lẫn nhau, mặc dù tri thức chính trị kém cỏi và kém khả năng lãnh đạo. Cuộc chiến thua từ quan niệm sai lầm của Chính quyền Kennedy với những chính trị gia thiếu hiểu biết về đất nước và dân tộc Việt Nam. Có thể Tổng thống Kennedy hối hận về cuộc đảo chính 1/11/1963 làm Miền Nam mất một lãnh tụ mà không dự trù người đủ khả năng thay thế. Chỉ ba tuần sau, ngày 22/11/1963 vị tổng thống trẻ tuổi và quyết đoán này bị ám sát chết ở Dallas, Texas. Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên thệ nhậm chức kế vị trên chiếc Không lực Một [Airforce One] từ Dallas về Washington. Ông thừa kế di sản do vị tiền nhiệm để lại là cuộc chiến tranh lạnh với Liên Xô đua nhau đi vào không gian và trên địa hạt phát triển tiềm năng vũ khí hạt nhân. Ông cũng thừa hưởng hậu quả của một cuộc đảo chánh thảm hại ở Nam Việt Nam, ngoài sự xáo trộn trong xã hội sau cái chết của Tổng thống Kennedy. Có thể Ông đã đưa lên bàn cân để thận trọng cân nhắc về kế hoạch xây dựng an sinh xã hội [to build a Great Society for the American people] hay là theo đuổi cuộc chiến đang lâm nguy bởi các ông tướng ở Nam Việt Nam. Tiền đồn này bỏ trống sẽ gây ảnh hưởng lớn lao đến sự an nguy của Hoa Kỳ trên thế giới, nói chung. Thời điểm đó nếu lép vế CSQT là thua cuộc ở Việt Nam, các đệ tam quốc gia sẽ trở cờ theo chủ nghĩa cộng sản. Hoa Kỳ sẽ suy sụp trên mọi bình diện. Chỉ trong vòng một ngày và một đêm, tân Tồng thống Johnson tuyên bố tiếp tục yểm trợ các tướng lãnh Nam Việt Nam chống CSVN. Đồng thời Ông tiến hành cải tổ an sinh xã hội với một hệ thống bao cấp lớn lao đúng với nghĩa “A Great Society”. Chiến cuộc Việt Nam các năm sau làm cho Hoa Kỳ suy thoái trầm trọng.
 

(Mời xem tiếp Phần 2)

Văn Nguyên Dưỡng

© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam

 

 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT