DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Ngăn chặn Vạn Lý Trường Thành bất hợp pháp của Trung Cộng tại Biển Đông_Lê Thiện Phúc(Thạc sĩ Phiên dịch tại Úc).

E-mail Print

Lê Thiện Phúc - Tiến sĩ Ngôn ngữ học; Thạc sĩ Phiên dịch tại Úc

Người dịch giới thiệu: Dịch theo nguyên bản tiếng Anh “Stop China’s Unlawful ‘Great Wall’ in the South China Sea” của Raul Pedrozo.

 Tóm lược tiểu sử tác giả: 

- Cựu Đại tá Hải quân Hoa Kỳ;

- Cựu Giáo sư Luật quốc tế trường cao đẳng HQ Hoa Kỳ (US Naval War College);

- Thẩm Phán Cố Vấn Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ (Staff Judge Advocate, US Pacific Command)

- Phụ tá đặc biệt Bộ trưởng quốc phòng về chính sách (Special Assistant to the Under Secretary of Defense for Policy).

Giới thiệu: Bài viết này xứng đáng được coi như là dữ liệu lịch sử rất có giá trị về chủ quyền trên các đảo biển Đông, là đề tài sôi bỏng trong các cuộc tranh chấp hiện nay.

Là một chuyên gia ngành luật quốc tế, tác giả lần lượt dẫn chứng qua nhiều sự kiện lịch sử cho ta thấy rằng Trung cộng không có chủ quyền trên các đảo ở biển Đông, đặc biệt là trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngược lại, Việt Nam có chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa từ khi vua Gia Long chính thức chiếm đóng quần đảo này vào năm 1816.

Trong bài tác giả cho chúng ta biết “có hàng loạt các hành động của chính quyền Việt Nam và Pháp từ thế kỷ 18 cung cấp bằng chứng không thể chối cãi được là Việt Nam đã liên tục kiểm soát quần đảo Hoàng Sa một cách bình yên và có hiệu quả. Chủ quyền Việt Nam lần đầu tiên được thành lập vào thế kỷ 18 do Công ty Hoàng Sa được chính phủ tài trợ và được phê chuẩn bởi các hoàng đế Gia Long và Minh Mạng vào thế kỷ 19; được tạm thời tiếp tục thừa hành bởi người Pháp trong hậu bán thế kỷ 19 và tiền bán thế kỷ 20. Sau đó đã được công khai bình thường hóa bởi quốc gia độc lập miền Nam Việt Nam sau khi Pháp rút quân khỏi Đông Dương vào năm 1956, và nối tiếp bởi một nước Việt Nam thống nhất sau năm 1976”. --LTP.


Ngăn chặn Vạn Lý Trường Thành bất hợp pháp của Trung Cộng tại Biển Đông


Trong thời gian nửa đầu năm 2014 người ta thấy có sự gia tăng đáng kể những hành vi hung hăng của Trung cộng khi nước này tiếp tục chiến dịch cắt biển của họ ở Biển Đông. Bắc Kinh tìm cách thay đổi hiện trạng trong khu vực để củng cố việc tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như các vùng biển kề cận.

Trong tháng Hai, Trung cộng đã bắt đầu một dự án thu hồi lãnh thổ quy mô lớn tại Johnson South Reef trong quần đảo Trường Sa, trong đó có thể chứa một sân bay quân sự mới của Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) để kiểm soát các tuyến đường biển chiến lược trong khu vực xuyên qua Biển Đông. Các tháng tiếp theo, Trung cộng bắt đầu thực thi các quy định đánh cá mới đòi hỏi phải có tàu cá nước ngoài để được phê duyệt trước khi hoạt động trong hơn 2 triệu cây số vuông, cộng với không gian đại dương bao quanh bởi “đường chín đoạn” khét tiếng của Trung cộng.

Vào tháng Năm, Trung cộng đặt một giàn khoan dầu biển sâu (HD 981) tại một vị trí cách ngoài khơi bờ biển Việt Nam 120 hải lý và bắt đầu khoan dầu ở vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Tàu chiến của Hải quân Trung cộng và tàu tuần tra khác của chính phủ, cũng như một số lượng lớn tàu cá dân sự, đã được điều động và bố trí chặt chẽ để bảo vệ hoạt động khoan dầu. Trong tuần sau đó, những chiếc tàu của Cục An toàn Hàng hải Trung cộng đã ngăn cản sự tái tiếp tế của 10 đơn vị thủy quân lục chiến Philippines đồn trú trên tàu BRP Sierra Madre vùng biển đánh cá lớn thứ nhì (Thomas Shoal) trong quần đảo Trường Sa, mặc dù các đội ngũ trên tàu quân sự này của Philippines đã được thường xuyên tái tiếp tế kể từ năm 1999.

Cuối cùng, trong sự đối đáp hiển nhiên về một đề xuất của Mỹ tại Diễn đàn Khối ASEAN nhằm ngăn chận tất cả hành động khiêu khích ở Biển Đông, Bắc Kinh công bố vào tháng Tám rằng họ sẽ xây dựng các ngọn hải đăng có năm tính năng, bao gồm hai hòn đảo nhỏ trong quần đảo Hoàng Sa, mà họ tự cho là nhằm tăng cường an toàn hàng hải. Hai tuần sau, một chiến đấu cơ của Trung cộng, Su-27, tiến hành một cuộc xung kích nguy hiểm, đánh chặn chiếc phi cơ thám thính, P-8, của Hải quân Hoa Kỳ khi đang tuần tra giám sát thường xuyên qua vị trí cách đảo Hải Nam 135 dặm về phía đông. Điều này gợi nhớ biến cố EP-3 hồi năm 2001, khi máy bay chiến đấu Trung cộng thực hiện nhiều vòng bay lướt bên dưới và cạnh chiếc phi cơ thám thính P-8 của Hoa Kỳ trước khi thực hiện một cú bay lộn mèo, lăn tròn và đảo lộn trên đầu chiếc máy bay Mỹ, chỉ cách chiếc máy bay này trong khoảng từ 20 tới 30 feet, tức là từ khoảng 6m tới 9m mà thôi.

Trung cộng biện minh cho những hành động này qua tuyên bố rằng họ có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng biển kế cạnh, cũng như chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển và đáy biển có liên quan bao gồm trong “đường chín đoạn.” Tuy nhiên, qua việc xem xét kỹ các ghi chép lịch sử và pháp luật, người ta thấy rằng các tuyên bố của Trung cộng ở Biển Đông là vô căn cứ.

Trung cộng tuyên bố quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa dựa trên sự trưng bày rộng rãi và liên tục của chính quyền đối với quần đảo sau khi họ phát hiện các chứng tích trong triều đại nhà Hán. Mặc dù thủy thủ Trung cộng có thể đã biết có sự tồn tại của những hòn đảo ở Biển Đông, nhưng không có bằng chứng cụ thể cho thấy rằng Trung cộng thực sự đã “phát hiện” những hòn đảo này trước khi có sự xuất hiện của những người đi biển từ các vương quốc láng giềng của họ, bao gồm Việt Nam, Malaysia, Indonesia, và Philippines.

Hơn nữa, cho dù Trung cộng đã phát hiện ra các đảo, luật pháp quốc tế xác định rõ ràng rằng việc khám phá mà không có các hành động chiếm giữ và kiểm soát hiệu quả tiếp theo thì tự nó không cho là có chủ quyền lãnh thổ được. Hiệu quả chiếm giữ đòi hỏi phải có ý định hành động chủ quyền và một số thực hành hoặc hiển thị chủ quyền đó. Mặc dù không có bằng chứng chủ quyền đáng tin cậy, Trung cộng đã lặng lẽ và liên tục chiếm đóng quần đảo, hoặc thực hiện thẩm quyền của họ trên các đảo này.

Hầu hết Trung cộng dựa trên các dữ kiện cho thấy ngư dân Trung cộng từng sống rải rác trên một số quần đảo Trường Sa trong thời gian ngắn. Tuy nhiên theo luật pháp quốc tế thì những hành vi cá nhân không đủ điều kiện để coi là hành động của “nhà nước” trừ phi ngay sau đó được theo dõi hay bị xử phạt bởi các cơ quan chính phủ. Không có bằng chứng đáng tin cậy nào cho thấy chính phủ Trung cộng từng ủy quyền hoặc sau đó xử phạt các hành vi nêu trên.

Các hành vi có thể kiểm chứng đầu tiên về chủ quyền của Trung cộng trên quần đảo Hoàng Sa đã không xảy ra cho đến năm 1909. Tuy nhiên những hành vi này đã xảy ra gần 100 năm sau khi vua Gia Long của Việt Nam chính thức chiếm hữu các quần đảo này vào năm 1816. Việt Nam và Pháp đã quản lý hiệu quả và liên tục các hòn đảo này cho đến khi họ bị trục xuất bởi quân đội Nhật Bản trong Thế chiến II.

Hành động có thể kiểm chứng đầu tiên của Trung cộng về chủ quyền ở quần đảo Trường Sa xảy ra sau đó nữa, vào năm 1933, và cũng sau khi Pháp công khai tuyên bố chủ quyền vào năm 1929 với lý do là các đảo này vô chủ. Pháp chính thức chiếm đóng các đảo này vào năm 1933 đồng thời sáp nhập vào quần đảo Trường Sa. Sự chiếm hữu như vậy vẫn còn là một phương pháp được công nhận chủ quyền lãnh thổ theo luật quốc tế. Tính chất hợp pháp này được tiếp tục tồn tại cho đến khi Hiến chương Liên Hiệp Quốc ra đời có hiệu lực vào tháng Mười năm 1945.

Trung cộng cũng tin cậy vào một số điều trong Công ước Quốc tế về việc chứng minh chủ quyền trên các đảo ở Biển Đông. Tuy nhiên, theo các điều trong Công ước Quốc tế thì các tài liệu và báo cáo của Trung cộng muốn chứng minh chủ quyền của mình đối với các đảo ở Biển Đông hoàn toàn không hỗ trợ vị trí của Bắc Kinh. Nói một cách khác, dựa theo Công ước Quốc tế thì Trung cộng không có chủ quyền trên các đảo ở Biển Đông.

Trung cộng cho rằng nước Pháp từ bỏ tuyên bố chủ quyền của mình trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi ký kết Hiệp ước Trung-Pháp năm 1887. Tuy nhiên luận cứ này của Trung cộng không được hỗ trợ bởi nội dung đơn giản của Hiệp ước hoặc bởi các hành động tiếp theo của các bên tranh chấp. Đường ranh giới được thành lập bởi Hiệp ước năm 1887 chỉ quy định quyền sở hữu của các đảo gần bờ biển chớ không phải là các hòn đảo ở giữa đại dương trong vùng Vịnh Bắc Bộ hoặc xa hơn nữa là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sự phụ thuộc của Trung cộng vào Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam để hỗ trợ cho tuyên bố chủ quyền của mình rõ ràng được đặt không đúng chỗ. Những tài liệu này chỉ cung cấp cho rằng Trung cộng sẽ khôi phục Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ sau chiến tranh. Các câu tiếp theo tuyên bố rằng Nhật Bản sẽ bị trục xuất khỏi “vùng lãnh thổ khác” mà họ đã mua bằng vũ lực, nhưng nó không có nghĩa là những “vùng lãnh thổ khác” sẽ được trả lại cho Trung cộng. Chỉ có kết luận hợp lý là những “vùng lãnh thổ khác” bao gồm quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, đã bị thu giữ bằng bạo lực từ Pháp, chứ không phải Trung cộng. Những hòn đảo này do đó sẽ được phục hồi cho Pháp, không phải cho Trung cộng, vào lúc kết thúc cuộc chiến.

Kết luận này được hỗ trợ bởi thực tế là Tổng Tư Lệnh Tưởng Giới Thạch đã có mặt tại Hội nghị Cairo, nhưng không có tài liệu tham khảo đối với các đảo ở Biển Đông trong tuyên bố cuối cùng. Chắc chắn, nếu quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa được coi là lãnh thổ của Trung cộng trước khi chiến tranh, Tưởng Giới Thạch đã có thể khẳng định rằng quần đảo được trả lại cho Trung cộng kiểm soát tại Hội nghị; nhưng điều này đã không xảy ra.

Trung cộng bổ sung tuyên bố rằng chủ quyền của Trung cộng đối với các đảo ở Biển Đông đã được công nhận trong việc soạn thảo Hiệp ước Hòa bình năm 1951 với Nhật Bản. Tuy nhiên, văn bản cuối cùng của Hiệp ước liên quan tới sự từ bỏ chủ quyền của Nhật Bản đối với Đài Loan, quần đảo Bành Hồ, và quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trong hai tiểu mục riêng biệt của Điều 2. Như vậy, Nhật Bản có lẽ đã từ bỏ chủ quyền của mình [trên các đảo] Đài Loan và Penghu cho Trung cộng; còn quyền lợi của Nhật Bản trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thì nhường cho nước Pháp. Những người biên soạn dự thảo Hiệp ước dự định trao trả quần đảo chỉ cho một quốc gia, họ sẽ không bao gồm chúng trong hai tiểu mục riêng biệt.

Lập luận của Trung cộng cho rằng Nhật Bản đã trả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung cộng trong hai thỏa thuận riêng biệt để chính thức chấm dứt sự thù địch giữa hai quốc gia Trung cộng và Nhật Bản là không có cơ sở. Điều 2 của Hiệp ước Đài Loan-Nhật Bản 1952 chỉ đơn giản nói rằng Nhật Bản từ bỏ chủ quyền của mình đối với Đài Loan, quần đảo Bành Hồ, và các đảo ở Biển Đông. Nếu mục đích của hiệp ước để chuyển quyền sở hữu quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đến Đài Loan thì sự phân cấp rõ ràng về quyền lợi của Đài Loan đã được đưa vào Hiệp ước. Tương tự như vậy, năm 1972 Thông cáo chung Trung cộng-Nhật Bản không ủng hộ lập trường của Bắc Kinh. Các Thông cáo chỉ nói rằng Điều 8 của Tuyên Ngôn Potsdam sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, cả hai Tuyên Ngôn Potsdam và Tuyên bố Cairo đều không hỗ trợ tuyên bố chủ quyền của Trung cộng trên các đảo ở Biển Đông.

Trung cộng cũng duy trì lập trường, mặc dù không đúng đắn, rằng họ đã tái chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào năm 1946 khi các lực lượng Quốc gia chấp nhận đầu hàng quân Nhật ở Đông Dương, vùng thuộc địa Pháp phía bắc vĩ tuyến 16. Quân đội quốc gia đã được gửi đến chiếm đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa) và quần đảo Woody (đảo Hoàng Sa) theo Lệnh Số 1 của Tướng MacArthur. Tuy nhiên lệnh này không chuyển nhượng chủ quyền trên các hòn đảo ở Biển Đông cho Trung cộng. Ngược lại, sau đó, vào ngày 31 tháng Ba 1946, Trung Hoa Dân Quốc và Pháp đã đồng ý rằng quân đội Pháp sẽ giảm bớt lực lượng Quốc Dân Đảng Trung Hoa ở phía bắc Đông Dương, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Là một lực lượng chiếm đóng, quân đội [Trung Hoa Dân] Quốc đã có một nghĩa vụ pháp lý rời khỏi thuộc địa Đông Dương Pháp, nhưng họ đã không làm như vậy.

Thực tế là sự hiện diện của lực lượng Trung cộng vẫn còn bất hợp pháp trên đảo Ba Bình và quần đảo Hoàng Sa sau khi sự chiếm đóng [của] quân đồng minh Đông Dương chính thức kết thúc vào tháng 3 năm 1946. Điều này rõ ràng là một sự vi phạm Điều 2 (4) của Hiến chương LHQ, và do đó, Trung cộng không có chủ quyền trên hai quần đảo này. Tương tự như vậy, sự chiếm giữ của Đài Loan trên đảo Ba Bình vào năm 1956, và việc Trung cộng thu giữ quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và sự cưỡng chiếm một số cứ điểm quan trọng của quần đảo Trường Sa vào năm 1988 và năm 1995 bởi lực lượng vũ trang Trung cộng cũng vi phạm Hiến chương LHQ, và do đó không đưa đến chủ quyền pháp lý có hiệu lực của Trung cộng trên các đảo này.

Trung cộng cũng khẳng định rằng miền Bắc Việt Nam từ bỏ chủ quyền của mình trên các đảo ở Biển Đông trong các thập niên 1950 và 1960. Tuy nhiên, sự phụ thuộc của Trung cộng vào các báo cáo này là có vấn đề bởi nhiều lý do. Quan trọng nhất là miền Bắc Việt Nam không có gì để từ bỏ trong khoảng thời gian này. Hiệp định Geneva 1954 chia Bắc và Nam Việt Nam tại vĩ tuyến 17 mà cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm ở phía nam vĩ tuyến 17. Khi kế thừa danh hiệu của Pháp, các đảo Biển Đông do đó là dưới quyền quản lý và kiểm soát miền Nam Việt Nam, không phải Bắc Việt Nam. Do đó, miền Bắc Việt Nam không có tư cách gì để mà từ bỏ chủ quyền lãnh hải liện hệ; như vậy, bất kỳ tuyên bố nào của các quan chức Bắc Việt Nam về hai quần đảo đó đều vô nghĩa trên mặt pháp lý.

Dựa theo những bằng chứng do các bên tranh chấp và theo các nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế liên quan đến việc thu nhập lãnh thổ, rõ ràng là sự đòi chủ quyền của Việt Nam trên các đảo ở Biển Đông chiếm ưu thế hơn.

Hàng loạt các hành động của chính quyền Việt Nam và Pháp từ thế kỷ 18 cung cấp bằng chứng không thể chối cãi được là Việt Nam đã liên tục kiểm soát quần đảo Hoàng Sa một cách bình yên và có hiệu quả. Chủ quyền Việt Nam lần đầu tiên được thành lập vào thế kỷ 18 do Công ty Hoàng Sa được chính phủ tài trợ và được phê chuẩn bởi các hoàng đế Gia Long và Minh Mạng vào thế kỷ 19; được tạm thời tiếp tục thừa hành bởi người Pháp trong hậu bán thế kỷ 19 và tiền bán thế kỷ 20. Sau đó đã được công khai bình thường hóa bởi quốc gia độc lập miền Nam Việt Nam sau khi Pháp rút quân khỏi Đông Dương vào năm 1956, và nối tiếp bởi một nước Việt Nam thống nhất sau năm 1976.

Tương tự như vậy, Pháp, đại diện cho Việt Nam, đã thực hiện nhiều hoạt động khác nhau xác nhận chủ quyền của Pháp trên quần đảo Trường Sa, đặc biệt là việc sáp nhập chính thức và sự chiếm giữ một số đảo trọng yếu trong quần đảo này vào năm 1933. Vào thời điểm đó, việc sáp nhập các đảo được coi là vô chủ, như vậy của Pháp là hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế hiện hành và là việc làm thực tiễn quốc gia. Vương quốc Anh, đã kiểm soát một số quần đảo Trường Sa trong thập niên 1800, đã từ bỏ chủ quyền của mình sau sự sáp nhập của Pháp, vì vậy danh hiệu chủ quyền của Pháp trên quần đảo Trường Sa đã được thành lập hợp pháp. Sau đó, hành động của Pháp và Việt Nam thể hiện rõ ràng sự hiện diện có hiệu quả và tích cực của họ cũng như thực hiện chủ quyền của họ một cách bình yên trên quần đảo Trường Sa. Chủ quyền của Pháp trên quần đảo này được nhượng lại cho miền Nam Việt Nam vào thập niên 1950 và chính phủ miền Nam Việt Nam (và sau đó một nước Việt Nam thống nhất) kiểm soát quần đảo Trường Sa một cách hiệu quả và hòa bình cho đến khi Đài Loan chiếm đóng bất hợp pháp đảo Ba Bình vào năm 1956 và Trung cộng chiếm đóng bất hợp pháp một số đảo nhỏ trong quần đảo Trường Sa vào năm 1988.

Biển Đông là nơi có một số tuyến đường bận rộn nhất trên thế giới và là những trục giao thông có vị thế chiến lược nhất trên biển (SLOC). Về mặt thương mại xuyên qua tuyến đường biển này, mỗi năm có hơn 5 ngàn tỷ USD, trong đó có hơn một nửa số tàu chở dầu của thế giới và hơn một nửa đội tàu buôn của thế giới. Điều này bao gồm hơn 1 ngàn tỷ USD trong thương mại của Hoa Kỳ. Do đó, xung đột trong khu vực này sẽ có tác động gây ra sự bất ổn định cho kinh tế thế giới.

Mỹ phải chứng minh lập trường đối phó vững chắc của họ đối với sự hung hăng của Trung cộng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và khuyến khích bạn bè và đồng minh của mình cũng làm như vậy. Việt Nam cần được khuyến khích theo gương Philippines và tìm cách giải quyết tranh chấp bắt buộc trên diễn đàn quốc tế. Đối với Hoa Kỳ, sự tiếp tục kêu gọi các bên tranh chấp làm sáng tỏ yêu sách của họ phù hợp với luật pháp quốc tế là một điều vô ích. Có nhiều sự kiện và pháp luật khá rõ ràng cho thấy tuyên bố chủ quyền Trung cộng trên biển Đông là vô căn cứ. Hành vi đối kháng của Trung cộng đe dọa hòa bình và an ninh khu vực. Giả vờ trung lập là hành vi hiếp đáp của Bắc Kinh đối với các nước láng giềng yếu hơn, và hành vi này cho thấy Trung cộng bước gần hơn trong việc thừa nhận thái độ chiếm hữu bất hợp pháp của họ trên các hòn đảo ở Biển Đông.


Ts. Lê Thiện Phúc dịch từ Stop China’s Unlawful “Great Wall” in the South China Sea

----

Stop China’s Unlawful “Great Wall” in the South China Sea

A careful review of the historical record and law reveals that

China’s claims in the South China Sea are unfounded.
Raul Pedrozo
September 3, 2014

The first half of 2014 witnessed a significant increase in aggressive behavior by China as it continues its maritime salami-slicing campaign in the South China Sea. Beijing seeks to change the status quo in the region in order to solidify its sovereignty claims over the disputed Spratly and Paracel Islands and their adjacent waters.

In February, China began a large-scale land reclamation project at Johnson South Reef in the Spratly Islands, which could house a new PLA military airfield to control the region’s strategic sea lanes that traverse the South China Sea. The following month, Chinese authorities began enforcing new fishing regulations that require foreign fishing vessels to obtain prior approval to operate in the 2 million-plus square kilometers of ocean space encompassed by China’s notorious “nine-dash line.”

In May, China stationed a deep sea oil rig (HD 981) 120 nautical miles (nm) off the coast of Vietnam and began drilling for oil in Vietnam’s 200-nm exclusive economic zone. PLA Navy warships and other government patrol ships, as well as a large number of civilian fishing vessels, were deployed with the rig to guard its drilling operations. The following week, China Maritime Safety Administration ships prevented the resupply of 10 Filipino marines stationed on board the BRP Sierra Madre at Second Thomas Shoal in the Spratlys, even though contingents on board the grounded warship have been routinely resupplied by the Philippines since 1999.

Finally, in an obvious snub to a U.S. proposal at the ASEAN Regional Forum to freeze all provocative acts in the South China Sea, Beijing announced in August that it would build lighthouses on five features, including two islets in the Paracels, to purportedly enhance safety of navigation. Two weeks later, a Chinese Su-27 fighter conducted a dangerous intercept of a U.S. Navy P-8 patrol aircraft conducting routine surveillance 135 miles east of Hainan Island. Reminiscent of the 2001 EP-3 incident, the Chinese fighter made several passes under and alongside the P-8 before doing a barrel roll over top of the U.S. plane and flying within 20-30 feet of the Poseidon aircraft.

China justifies these actions by claiming it has “indisputable sovereignty” over the South China Sea islands and their adjacent waters, as well as sovereign rights and jurisdiction over the relevant waters and seabed included within the “nine-dash line.” A careful review of the historical record and law, however, reveals that China’s claims in the South China Sea are unfounded.

China claims the Spratlys and Paracels based on its extensive and continuous display of authority over the islands following their discovery during the Han Dynasty. Although Chinese mariners may have been aware of the existence of the South China Sea islands, there is no concrete evidence that China actually “discovered” the islands before seafarers in neighboring kingdoms in Vietnam, Malaysia, Indonesia, and the Philippines.

Moreover, even if China did discover the islands, international law is quite clear—discovery alone, without subsequent acts of effective occupation and control, does not confer title to territory. Effective occupation requires the intention and will to act as sovereign, and some actual exercise or display of such authority. There is simply no credible evidence, however, that China peacefully and continuously occupied the islands, or exercised requisite authority over them.

For the most part, China relies on records showing that Chinese fishermen sporadically lived on some of the Spratly Islands for short periods of time. Under international law, however, nonproprietary acts by private individuals do not qualify as “state” action unless they are immediately followed up or sanctioned by government authorities. There is no reliable evidence that the Chinese government ever authorized or subsequently sanctioned these acts.

The first verifiable acts of Chinese sovereignty over the Paracels did not occur until 1909. These acts occurred, however, nearly 100 years after Vietnamese Emperor Gia Long formally took possession of the archipelago in 1816. Vietnam and France effectively and continuously administered the islands until they were expelled by Japanese forces during World War II.

China’s first verifiable act of sovereignty in the Spratlys occurred even later – in 1933 – and well after France publicly announced in 1929 that it claimed the islands on the grounds that they were terra nullius. Formal French occupation took place in 1933. At the time France annexed and effectively occupied the Spratlys, conquest was still a recognized method of acquiring territory under international law. Conquest did not become illegal until the entry into force of the UN Charter in October 1945.

China also relies on a number of treaties, documents and statements to substantiate its sovereignty claims over the South China Sea islands, none of which support Beijing’s position.

China maintains that France relinquished its claims to the Paracels and Spratlys when it signed the Sino-French Treaty of 1887. China’s position is not, however, supported by a plain reading of the treaty or subsequent actions of the parties to the dispute. The 1887 boundary line established in the treaty only decided the ownership of the near coastal islands, not the mid-ocean islands in the Gulf of Tonkin or the more distant Paracel and Spratly Islands.

China’s reliance on the Cairo Declaration and Potsdam Proclamation to support its claim is likewise clearly misplaced. These documents only provide that China would recover Manchuria, Taiwan, and the Penghu Islands after the war. The next sentence states that Japan would be expelled from “other territories” that it had acquired by force, but it does not indicate that these “other territories” would be returned to China. The only logical conclusion is that these “other territories” included the Spratlys and Paracels, which were seized by violence from France, not China. These islands would, therefore, be restored to France, not China, at the conclusion of the war.

This conclusion is supported by the fact that Generalissimo Chiang Kai-shek was present at the Cairo Conference, yet there is no reference to the South China Sea islands in the final declaration. Surely, if the Spratlys and Paracels were considered to be Chinese territory prior to the war, Chiang Kai-shek would have insisted that the archipelagoes be returned to Chinese control at the Conference.

China additionally claims that Chinese sovereignty over the South China Sea islands was recognized during the drafting of the 1951 Peace Treaty with Japan. However, the final text of the treaty treats Japan’s renunciation of rights to Taiwan and the Penghu Islands, and the Spratly and Paracel Islands, in two separate subparagraphs of Article 2. Thus, Japan presumably renounced its rights to Taiwan and the Penghus in favor of China and its rights to the Spratlys and Paracels in favor of France. Had the drafters of the treaty intended to return the islands to only one nation, they would not have included them in two separate subparagraphs.

China’s argument that Japan returned the Spratlys and Paracels to China in the two separate agreements formally ending hostilities between the two Chinas and Japan is likewise unfounded. Article 2 of the 1952 Taiwan-Japan Treaty simply states that Japan renounced its rights to Taiwan, the Penghu Islands, and the South China Sea islands. If the intent of the treaty was to transfer title to the Spratlys and Paracels to Taiwan, explicit devolution of rights in Taiwan’s favor would have been included in the treaty. Similarly, the 1972 China-Japan Joint Communiqué does not support Beijing’s position. The Communiqué merely states that Article 8 of the Potsdam Proclamation would apply. However, neither the Potsdam Proclamation nor the Cairo Declaration support China’s claim to the South China Sea islands.

China also maintains, albeit incorrectly, that it retook possession of the Paracels and Spratlys in 1946 when Nationalist forces accepted the surrender of Japanese forces in French Indochina north of the 16th degree of latitude. Nationalist troops were sent to Itu Aba (Spratlys) and Woody Islands (Paracels) as an occupation force pursuant to General MacArthur’s General Order Number 1. That order did not, however, transfer title of the South China Sea islands to China. On the contrary, the Republic of China and France subsequently agreed that French troops would relieve Chinese Nationalist forces in north Indochina, including the Paracels and Spratlys, on March 31, 1946. As an occupation force, the Nationalist troops had a legal obligation to depart French Indochina, but they failed to do so.

The fact that Chinese forces illegally remained on Itu Aba and Woody Islands after the Allied occupation of Indochina formally ended in March 1946 was a clear violation of Article 2(4) of the UN Charter, and therefore, does not provide China with clear title to the two archipelagoes. Likewise, Taiwan’s occupation of Itu Aba in 1956, and China’s seizure of the Paracels in 1974 and several features in the Spratlys in 1988 and 1995 by armed force, also violated the UN Charter, and therefore do not confer a valid legal title to the islands.

China also asserts that North Vietnam renounced its rights to the South China Sea islands in the 1950s and 1960s. China’s reliance on these statements, however, is problematic for a number of reasons. Most importantly, North Vietnam had nothing to renounce during this time frame. The 1954 Geneva Accords divided North and South Vietnam at the 17th parallel—both the Paracels and the Spratlys lie south of the 17th parallel. As the successor state to France’s title, the South China Sea islands were therefore under the administration and control of South Vietnam, not North Vietnam. Consequently, North Vietnam was not in a position to relinquish the territory; any statements made by North Vietnamese officials regarding the islands were legally meaningless.

Based on the evidence submitted by the claimants and general principles of international law related to the acquisition of territory, it would appear that Vietnam clearly has a superior claim to the South China Sea islands.

A broad range of actions taken by Vietnamese and French authorities since the 18th century provides incontrovertible evidence of Vietnam’s continuous, peaceful and effective control of the Paracels. Vietnamese sovereignty was first established in the 18th century by the state-sponsored Hoang Sa Company; consecrated by Emperors Gia Long and Minh Ming in the 19th century; temporarily assumed by the French during the second half of the 19th century and first half of the 20th century; and continued in an open, peaceful and normal manner by an independent South Vietnam after the French withdrawal from Indochina in 1956, and by a unified Vietnam after 1976.

Similarly, France, on behalf of Vietnam, conducted various activities that confirmed French sovereignty over the Spratly Islands, particularly its formal annexation and occupation of a number of features in the archipelago in 1933. At the time, France’s annexation of the islands as terra nullius was strictly in compliance with existing international law and state practice. Great Britain, which had controlled some of the Spratly Islands in the 1800s, abandoned its claims following the French annexation, so French title to the Spratlys was legally and soundly established. Thereafter, French and Vietnamese actions clearly demonstrate an effective and active presence in the archipelago, as well as a peaceful exercise of sovereignty over the Spratly Islands. France’s title to the archipelago was ceded to South Vietnam in the 1950s and the South Vietnamese government (and subsequently a united Vietnam) effectively and peacefully controlled the islands until Taiwan illegally occupied Itu Aba Island in 1956 and China illegally occupied a number of islets in the archipelago in 1988.

The South China Sea is home to some of the world’s busiest and most strategic sea lines of communication (SLOC). More than $5 trillion in commerce, including over half of the world’s oil tanker traffic and more than half of the world’s merchant fleet by tonnage, flows through the region on an annual basis. This includes over $1 trillion in U.S. trade. A conflict in the region would have a destabilizing effect on the world economy.

The United States must firmly demonstrate its distain for China’s aggressiveness in the Asia-Pacific, and encourage its friends and allies to do the same. Vietnam should be encouraged to follow the Philippines’ lead and seek compulsory dispute settlement in an international forum. It is also unhelpful for the United States to continue to call on the various claimants to clarify their claims in accordance with international law. The facts and the law are quite clear—China’s claims are baseless and its antagonistic behavior threatens regional peace and security. Feigning neutrality emboldens Beijing to be more assertive against its weaker neighbors, and it puts China one step closer to realizing its illicit land-grab of the South China Sea islands.

Captain (Ret.) Raul Pedrozo was the former U.S. Pacific Command Staff Judge Advocate. The article is based on an occasional paper commissioned by the Center for Naval Analyses entitled “China versus Vietnam: An Analysis of the Competing Claims in the South China Sea” available at http://www.cna.org/research/2014/china-versus-vietnam.
http://nationalinterest.org/feature/stop-china%E2%80%99s-unlawful-great-wall%E2%80%9 D-the-south-china-sea-11182
http://lhccshtd.org/K10A72/K10A72_TT/VN/hsts/2014/K10A72_TTvn_hsts_2014_nganc hanVLTTbathophapcuatautaiBD_2014SEP13.htm

© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT