DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Hồi Ký: Cuộc Chiến Chưa Tàn (17)_Trần Nhật Kim

E-mail Print

                                                                     Image result for CUỘC  CHIẾN  CHƯA  TÀN

 

 

17.

 

Hồi tưởng

 

Không khí Tết có vẻ tưng bừng hơn ngày lễ khác, tù nhân được nghỉ nhiều ngày hơn.  Về đây, anh không còn nghe thấy tiếng súng như khi còn ở trại Quyết-tiến, Hà-giang, nhưng không khí chiến tranh từ phương Bắc cũng ít nhiều ám ảnh người dân miền Bắc.  Ðược cái dân tộc Việt như đã tập quen với cuộc chiến dài ngày, người ta mau quên những sôi động, chết chóc ở xa quá tầm tay, vì phải đối diện với giặc đói trước mắt.

Ðối với tù cải tạo miền Nam, nhìn cuộc đời bên ngoài với đôi mắt dửng dưng hơn.  Cuộc chiến của họ không đơn thuần, không chỉ gói trọn trong cái đói liên miên soi mòn cơ thể.  Không hẳn là cái cực nhọc của năm tháng lao động khổ sai, kể cả tai nạn lao động, bệnh tật hiểm nghèo luôn đe doạ mạng sống.  Mà cuộc chiến ghê sợ nhất đối với họ lại ở chính nội tâm. Họ phải quên dĩ vãng, không ước vọng tới tương lai, phải xóa bỏ hủy diệt tất cả, con người phải trở thành một thứ vô tri.   Có như vậy mới đáp ứng được với chính sách "an tâm cải tạo" của nhà nước Xã-hội Chủ-nghĩa.

Nhưng khổ một nỗi, vì bản năng sinh tồn, vẫn nặng lòng với tình cảm yêu thương.  Mặc dù mục tiêu giúp con người hăm hở trong cuộc sống đang tàn lụn, vẫn mong bám lấy một chút ảo ảnh để sống.  Vì vậy nội tâm luôn xung đột giữa hy-vọng và chán chường. Đời sống tinh thần của người tù cải tạo khi vui lúc buồn bất chợt, phấn khởi lo âu lẫn lộn.  Tâm tư luôn bị giao động với ý nghĩ không có ngày về. Đang im lặng chịu đựng, bỗng chốc lòng căm hờn trỗi dậy.

Đêm 30 Tết là đêm khó ngủ.  Mọi người tưởng nhớ tới khung cảnh gia đình xum họp đầm ấm.  Sau bữa cơm chiều, khi cửa phòng đã khóa phía ngoài, từng nhóm xúm quanh ngọn đèn dầu nhỏ nhắc lại chuyện cũ, những thăng trầm trong thời gian tù đầy, những tăm tối khổ ải đã qua.  Bác Trần Duy Đôn chợt lên tiếng:

-“Bác Kim, bác Quyền ơi!  Hát cho anh em nghe đỡ buồn.  Nhớ nhà quá…”

Không riêng gì bác, vào giờ phút thiêng liêng này, ai cũng liên tưởng tới gia đình.  

Rồi chẳng cần men rượu, trên chiếu nằm sàn trên, Huỳnh Thế Hùng ngồi quay lưng ra phía cửa sổ mở rộng, cất tiếng ca bản nhạc “Việt Nam – Việt Nam”.  Mọi người trong nhóm ca theo. Có lẽ đó là bản nhạc đầu tiên được ca vang trong thời gian tù đầy. Tiếng hát trầm hùng bùng lên, gợi nhớ tất cả một dĩ vãng đau thương với mảnh đất quê hương miền Nam, mà những đứa con đã tận tụy một đời hy sinh bảo vệ, đang trầm luân khổ ải trong kiếp sống nửa vời.

Vòng người được nới rộng, như muốn đóng góp cho khí thế hào hùng, như men rượu lâng lâng thấm bầu nhiệt huyết.  Mọi người thay nhau đơn ca những bản nhạc tình cảm miền Nam, nhuộm thắm tình yêu quê hương đất nước. Rồi bất chợt lời ca uất hận, căm hờn trong các bản nhạc sáng tác trong tù, diễn tả những thân xác tả tơi trong phòng tối, quằn quại trên mặt nền nhơ nhớp vì trận đòn thù.

Nhạc bản “Đôi giầy dũng sĩ” vừa cất lên, Kim nhớ đến anh Nguyễn Văn Hồng, một sĩ quan trẻ tuổi, đã làm bài ca này.  Cả trại truyền nhau hát. Cán bộ trại bắt anh vào kỷ luật, cùm xích ngày đêm. Anh đã gục ngã trong xà lim tăm tối của phân trại Mễ, một trại kỷ luật dưới danh nghĩa trại y tế, gần Phủ Lý (thuộc trại Nam Hà, Xã Ba Sao, Hà Nam Ninh).  Khi sáng tác bài ca này, anh chỉ có ước mơ nhỏ bé, được là đôi giầy dưới chân lớp trẻ mai sau, đập tan xiềng xích, khôi phục đời sống tự do hạnh phúc của quê hương. Lời ca diễn tả:

“………

“Này em, ta không quên đâu những ngày tù tội…”

“Này em, ta không quên đâu mối thù muôn đời…”

“Cho tôi xin một lần được chết,

“Cho em tôi một trời yêu thương…

…….”

Ngoài hiên, trong không khí giá lạnh của ngày cuối năm, một cán bộ võ trang trẻ tuổi im lặng.  Thấy hắn, Kim nhớ tới lời của một cán bộ trẻ tâm sự: “Các bác được ở trong phòng ấm áp trong khi cháu phải đứng gác ngoài trời vào mùa đông giá rét.  Các bác có nơi chốn để về, còn cháu có nơi nào đâu.”

Trong phòng vẫn ồn ào, tiếng đàn ghita của anh Nguyễn Ngọc Liên chợt nổi lên,  mang theo âm hưởng dịu dàng tha thiết, hòa theo tiếng hát của anh Nguyễn Cao Quyền trong bản nhạc “Khi người yêu tôi khóc” chuyển qua lời Pháp với tựa đề “Larmes d’amour”.  Âm hưởng lời ca như những giọt nước mắt ân tình của người vợ hiền đang ngóng đợi chồng về:

“Quand tes larmes tombent, le ciel est sombre.  Ces perles d’amour froissent mes jours.   Tes beaux jeux en larmes, c’est si charmant.  Sais tu, je t’aime si doucement et si tendrement.

“Comme l’éclair qui brille dans l’ombre du soir.  Toi, pourquoi tu viens si près de moi. Puis tu me donnes tant de désespoir.  Vois tu tes larmes de bonheur ravagent mon coeur…”

 

Mọi người trong phòng có cảm giác chua xót khi nghe bản nhạc “Nước mắt mưa ngâu” của Khuân, nói lên tâm trạng người tù trong phòng kỷ luật với chân xích tay xiềng.  Tương lai thật xa vời. Mọi thứ như vuột khỏi tầm tay. Có chăng chỉ còn hình ảnh yêu thương của người vợ hiền. Lời ca diễn tả:

 

“Trời mưa hiu hắt như lệ em khóc đêm thâu.

Tiếng mưa tí tách tiếng mưa nhẹ khơi cơn sầu

Lòng ta tê tái với bao nhiêu nỗi thương đau

Bóng đêm mênh mông không gian chìm sâu

Đời cho ta biết bao ngày xa vắng âm u

Còn đem mưa bão táp trên cuộc sống lao tù….”

                                                                         (Cuồng sĩ Thanh Cẩm)

Khuân đã sáng tác nhiều bản nhạc trong tù, và khi chuyển các bản nhạc này ra ngoài bị bắt gặp, anh phải chịu thêm hơn bốn năm đầy ải trong phòng kỷ luật.

Tiếng hát có khi lên cao, có lúc trầm lắng, tắc nghẹn như tiếng thở dài.  Mọi người như bị khích động, lôi cuốn hòa nhịp với niềm vui, quên hẳn những hiểm nguy đang rình rập lúc này, sẽ tới vào ngày mai hay những ngày kế tiếp.

Người cán bộ võ trang trẻ vẫn im lặng, thỉnh thoảng dừng lại lắng nghe, không có một phản ứng nào về hành động của anh em trong phòng.  Có phải hắn đang theo rõi lời ca tình cảm, ngọt ngào, chứa đầy tình yêu thương dân tộc, khác hẳn những bản nhạc đang được truyền tụng mà hắn thuộc lòng từ khi còn nhỏ.  Hắn đang lắng nghe lời nhạc êm dịu tha thiết tình người của miền Nam, mà cả xã hội miền bắc bị nhà nước cấm đoán, cho đó là một thứ "nhạc vàng", một loại văn hóa đồi trụy.

Anh em trong phòng thấy hắn từ lâu, vẫn làm như không biết có hắn đứng ngoài, một biểu tượng của kỷ luật.  Mọi người vẫn say sưa ca hát, như cố tận hưởng những phút giây qúy báu hiếm thấy xẩy ra trong cuộc đời cải tạo.

Bây giờ đã quá nửa đêm, giờ giao thừa đã qua.  Không có lấy một tiếng pháo mừng xuân, mở đầu một năm mới với nhiều ước vọng, với những khao khát sẽ có trong cuộc đời.  Hay mọi người đang say ngủ, vì nhà nhà không có bàn thờ tổ tiên. Chỉ có hình Bác treo lơ lửng nơi vách ngăn, đè trên lá cờ ngôi sao vàng nền máu đỏ.  

Biết họ còn nhớ tới tập-quán phong-tục của cha ông để lại, hay đã phải quên vì chính sách "tam cùng", và mải miết ghi nhớ lời Bác: "Bác kính yêu, Bác vĩ đại, đã đem cơm no áo ấm cho toàn dân…" như một thứ kinh nhật tụng.  Một kiểu nói theo chân Trung Quốc, ca tụng Mao Trạch Đông trước mỗi bữa ăn.

Tiếng đàn ghita của anh Nguyễn-ngọc-Liên hòa vang, xoa dịu những tâm hồn đang ngút lửa, với thương hận tủi hờn.  Nhạc điệu bản Paloma thật quyết rũ. Anh Lâm-minh-Lê chợt đứng giữa lối đi, đưa hai tay vòng về phía trước, nhẹ bước theo tiếng nhạc.  Anh quay mình lả lướt nhún nhẩy nhịp nhàng như đang đưa dắt người tình trong mộng. Phía đầu phòng một bạn bước ra, với cùng một tư thế say mê, như chìm đắm trong tiếng nhạc đang âm vang trong phòng.                                                                                   

           Mọi người như bị khích động, lôi cuốn hòa nhịp với niềm vui, quên hẳn những hiểm nguy đang dình dập ngoài cửa trong lúc này, sẽ tới vào ngày mai hay những ngày kế tiếp…

 

© Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.
 © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam  
(Trich Hồi Ký : Cuộc Chiến Cgiả hưa Tàn Của Tác Giả Trần Nhật Kim  gửi đến BBT)

  Đọc các bài liên quan của cùng tác giả  tại đây.

 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT