DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Tuyên Ngôn Của Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu_Nguyễn Anh Tuấn .

E-mail Print
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  
Trước tình thế cực kỳ sôi bỏng hiện nay đang diễn ra trong quốc nội; trước tinh thần quật khởi truyền thống rất dũng mãnh của toàn dân Việt ba miền Bắc- Trung- Nam qua những cuộc biểu tình của hàng triệu người dân xuống đường chống Cộng Sản Việt Nam phản quốc đan tiến hành bán ba Đặc Khu có giá trị chiến lược của đất nước cho Tàu cộng là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc; trước tình trạng vô cùng nguy hiểm là Tàu cộng đang từng bước xâm lăng đất nước thân yêu của chúng ta nhờ sự tiếp tay đắc lực của đảng CSVN;
 
Trước những đột biến dồn dập và nóng bỏng đó, đất nước Việt Nam sẽ đi về đâu? Trước những tử lộ ấy, chúng ta tìm đâu ra sinh lộ cho Dân Tộc này? Làm sao và làm thế nào để đương đầu với thù trong giặc ngoài, chúng độc ác gian manh như ma quỉ? và làm sao để thay đổi và chuyển hóa vận mạng quá đau thương của gần 100 triệu dân đang đứng trước làn sóng xâm lăng dồn dập của giặc Tàu ngoại xâm? Gần 100 triệu con người sống trong đường hầm tăm tối của dòng sử mệnh Việt tìm đâu ra ánh sáng cuối đường hầm?
 
Trước tình thế nóng bỏ và sôi động đó…
 
 Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm, với Đại Hội Song Thất, có những nhận định như sau:
 
Nhóm Tùng Phong, đứng đầu là ông Ngô Đình Nhu, đã nghiên cứu viết ra cuốn Chính Đề Việt Nam để làm kim chỉ nam cho việc xây dựng nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam ngay trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng của chiến tranh chống cộng sản xâm lăng. Với kim chỉ nam của cuốn Chính Đề, với sự lãnh đạo anh minh của Tổng thống Ngô Đình Diệm và sự hợp tác của dân quân Miền Nam, Miền Nam Việt Nam đã trở thành hòn ngọc Viễn đông chỉ trong vòng 9 năm (1954-1963). Từ cuốn Chính Đề, chúng ta có thể rút ra những bài học lịch sử rất cần thiết cho cuộc tranh đấu chống thù trong giặc ngoài đang vây hãm toàn dân Việt. Sự thật lịch sử cho thấy, chủ thuyết của Karl Marx và Cách Mạng Cộng sản đã chết, không chỉ tại Miền Bắc Việt Nam mà chết trên toàn thế giới. Cách mạng Dân Chủ tại Miền Nam do Tổng thống Diệm chủ trương đã thành công rực rỡ với Hòn Ngọc Viễn Đông, nhưng cuộc Cách Mạng Dân Chủ ấy vẫn còn đang dang dở. Vì thế, ngày nay, thế hệ hậu duệ trong cộng đồng dân tộc phải tiếp nối cuộc CÁCH MẠNG DÂN CHỦ MIỀN NAM ấy để thách đố với những kẻ phản quốc và giặc ngoại xâm là Tàu cộng đang xâm lăng đất nước thân yêu.
 
Giả sử nếu Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu không bị lật đổ và bị thảm sát vào 1963, thì một tương lai tươi sáng đầy hứa hẹn đã phát triển mạnh mẽ tại Miền Nam, tương tự như nước Nhật đã phát triển đất nước của họ về mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, canh nông, điền địa, khoa học kỹ thuật, quân sự, thương mại và giáo dục; Đất nước đã được phát triển toàn diện. Và chỉ 10 năm sau (1963-1973), thì Miền Nam chắc chắn đã trở thành một cường quốc kinh tế tại Á Châu, vì vào thời đó, Việt Nam chỉ đứng sau Nhật Bản và hơn hẳn cả Trung Hoa Lục Địa lẫn Ấn độ.
 
Quan trọng hơn, nếu Miền Nam vẫn tồn tại với đà phát triển như trên thì chỉ trong 10 năm kế tiếp (1973-1983), chắc chắn Miền Nam không chỉ là một cường quốc kinh tế mà còn là một cường quốc quân sự có bom nguyên tử tại Á Châu mà nước Tàu lúc đó khó sánh kịp. Khi Việt Nam trở thành cường quốc quân sự có nguyên tử, thì kể từ đó, Việt Nam đã chấm dứt được họa xâm lăng của nước Tàu.
 
Sự an nguy của vận mạng Việt Nam là sự an nguy của cả vùng Đông Nam Á. Việc lật đổ và sát hại Tổng thống Diệm đã đưa đến cái chết cho Miền Nam Việt Nam vào 1975. Mất Miền Nam Việt Nam vào tay cộng sản, và mất Việt Nam vào tay Tàu cộng, đã và sẽ đẩy cả vùng Đông Nam Á vào bàn tay khuynh đảo của Tàu cộng, và cảnh hỗn loạn đã xảy ra như mọi người đều thấy hiện nay tại Biển Đông.
 
Lật đổ và sát hại Tổng thống Diệm, nhóm tướng lãnh và những người đội lốt Phật giáo Ấn Quang phản loạn cũng như nước bạn đồng minh Hoa Kỳ đã ngây thơ dại khờ không biết phân biệt bạn thù, nên họ không chỉ giết hại những bậc sĩ phu khả kính và những nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc Việt nam, những người suốt đời vì nước vì dân quên thân mình đề lèo lái con thuyền Việt Nam đang lên đênh trên sóng dữ của chiến tranh chống xâm lăng, mà người ta còn giết luôn 14 triệu dân vô tội của Miền Nam Việt Nam, giết luôn nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam như giết một quốc gia vừa mở mắt chào đời tại Á Châu, cũng như phá sập cả Tiền đồn của Thế Giới Tự Do. Vì thế, nền an ninh, hòa bình và ổn định tại Á Châu bị đe dọa từ đó đến nay.
 
Thực tế lịch sử cho thấy: vào những thập niên 40, 50 và 60, đa số lãnh tụ các đảng phái thuộc phe Quốc Gia và đại đa số dân Việt Nam chưa hiểu và không hiểu cộng sản là gì, thì Tổng thống Diệm và nhóm Tùng Phong đã nhìn thấu tim đen những tên cộng sản đang phát động chiến tranh xâm lăng Miền Nam là Mao Trạch Đông và cộng sản Hoa Lục, và những kẻ xâm lăng đã đẻ ra Cộng sản Bắc Việt để họ làm tay sai cho Mao thực hiện âm mưu quỷ quyệt là mượn tay người Việt giết người Việt. Sinh lực và tiềm lực của một dân tộc quật cường, đã phải nhỏ máu từng giờ suốt 70 năm qua, bây giờ làm sao đứng dậy được trước nanh vuốt hãi hùng của thù trong giặc ngoài đang gieo họa diệt vong cho dân tộc này?
 
Cuốn Chính Đề Việt Nam vào những thập niên đó đã đưa ra những tiên đoán có giá trị như lời tiên tri sau:
 
“Chủ trương cộng sản chẳng những không giải quyết được những vấn đề quốc gia trong thời kỳ này, mà còn đưa Dân Tộc Việt Nam vào con đường đen tối cho nhiều thế hệ tương lai… Vì sự lệ thuộc vào chủ nghĩa cộng sản… sự lệ thuộc đã chia đôi đất nước, đã tạo hoàn cảnh cho sự chi phối và âm mưu thống trị của nước Tàu đối với Dân Tộc Việt Nam, đã khơi lại tham vọng bành trướng sôi sục của nước Tàu sau một thế kỷ bị gián đoạn. Ký ức về sự thống trị tàn khốc của nước Tàu còn ghi trong những trang sử, và trong tế bào của mỗi chúng ta. 
 
“Cộng Sản Bắc Việt, khi tự đặt mình vào sự chi phối của Tàu cộng, đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh kinh khủng. Hành động của Cộng sản Bắc Việt nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển, mà còn đe dọa cả Dân Tộc Việt Nam. 
 
“Sở dĩ đến nay, sự thống trị của Tàu cộng đối với Việt Nam chưa thành hình, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của Miền Nam dưới ảnh hưởng của Mỹ là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử Miền Nam Việt Nam bị Cộng sản Bắc Việt thôn tính, thì sự thôn tính Việt Nam của Tàu cộng chỉ còn là vấn đề thời gian. 
 
“Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của Miền Nam là sự bảo đảm cho Dân Tộc thoát khỏi ách thống trị của Tàu cộng, vừa bảo đảm cho cơ hội phát triển của chúng ta, vừa bảo đảm một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt khi họ ý thức được nguy cơ mà Tàu cộng đang đến với Dân Tộc Việt Nam. Nhưng ngày nào họ vẫn giữ ý định xâm chiếm Miền Nam, thì họ vẫn nằm trong sự chi phối chính sách chiến tranh xâm lăng của Tàu cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình như Nga hiện nay. 
 
“Vì vậy, sự mất còn của Miền Nam ngày nay trở thành sự kiện quyết định sự mất còn cho tương lai của Dân Tộc Việt Nam. Do đó, tất cả những nỗ lực của chúng ta trong giai đoạn này là phải dồn vào sự bảo vệ tự do và độc lập, vào sự phát triển của Miền Nam để duy trì lối thoát cho cả Miền Bắc, và cứu Dân Tộc thoát khỏi sự thống trị của Tàu cộng một lần nữa” (trích từ cuốn Chính Đề Việt Nam trang 301-302)
 
Những nhận định trên của nhóm Tùng Phong cho thấy: họ là những người duy nhất trong cộng đồng Dân Tộc Việt thời ấy có được những viễn kiến như những bậc tiên tri trong Thánh Kinh Cựu Ước. Những người Việt Nam chống đối Tổng thống Diệm của cả hai miền Nam-Bắc đã không những không thèm nghe những lời cảnh giác cực kỳ nghiêm trọng có tính cách sinh-tử của cả Dân Tộc, mà họ còn giết cả những bậc tiên tri tiên giác đó để sau đó mang đại họa cho chính dân tộc của họ. Đúng là vì oan khiên nghiệp chướng vĩ đại này mà ngày nay Dân Tộc Việt Nam phải gánh chịu đại họa của giặc ngoại xâm, vì không ai trong những người chống đối Tổng thống Diệm chú ý tới những cảnh giác nghiêm trọng đó. Những con người này chỉ chú tâm tới quyền hành và quyền lợi ích kỷ của riêng họ hay của đảng phái, phe nhóm của họ. Tại sao lúc ấy không mấy ai nghĩ đến nỗi an nguy của cả một dân tộc? Vì nước mất thì nhà tan, rồi sau đó họ sống với ai đây? Hay rồi họ cũng chết trong tủi nhục vì lầm lạc trước những kẻ xâm lăng?
 
Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, những đảng phái chính trị Miền Nam, những tướng lãnh Miền nam, những vị trí thức khoa bảng, những tổ chức đội lốt Phật giáo Ấn Quang hay 17.000 sinh viên các đại học Miền Nam đều lầm tưởng Tổng thống Diệm, Cố vấn Nhu và các nhà ái quốc trong hệ thống chính quyền Miền nam là những kẻ thù của họ chỉ vì họ không nhìn thấy những âm mưu vô cùng độc ác và quỷ quyệt của Tàu Cộng và Cộng sản Bắc Việt đang mượn tay chính người Việt để xâm lăng Việt Nam. Đau thương hơn nữa là những thành phần kể trên không mấy ai chú tâm tới để tìm hiểu xem VẬN MANG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM thực sự là gì. Hàng ngũ đông đảo những con người này cũng chẳng mấy ai thấu hiểu được NHỮNG VẤN ĐỀ TRỌNG ĐẠI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM hiện nay cần phải giải quyết là những gì, và làm sao giải quyết, nếu muốn sống còn trước thảm nạn ngoại xâm đang đe dọa sinh mệnh Việt Nam từng giờ? 
 
Ngược lại, Tổng thống Diệm, ông Nhu và các bậc sĩ phu và các nhà ái quốc của thời Đệ I Cộng Hòa khi viết ra cuốn Chính Đề Việt Nam đã nhận ra VẬN MẠNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM đang phải đối mặt với những thử thách kinh hoàng và cực kỳ đen tối. Vận mạng đó được cuốn Chính Đề viết như sau:
 
“Nước Việt Nam là một nước nhỏ, nhỏ về dân số, nhỏ về lãnh thổ, yếu kém về phát triển kinh tế, luôn luôn sống trong phong ba bão táp do những nước lớn gây ra, và luôn luôn sống trước những đe dọa liên tục của giặc ngoại xâm suốt 8 thế kỷ qua.”
 
Trước những thực tế thảm thiết của lịch sử, cuốn Chính Đề Việt Nam không chỉ nhận ra được VẬN MẠNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, mà Tổng thống Diệm và các nhà ái quốc thời Đệ I Cộng Hòa còn đưa ra được NHỮNG GIẢI PHÁP THIẾT THỰC ĐỂ THAY ĐỔI VẬN MẠNG ĐEN TỐI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM. Kết quả hiển nhiên mà 14 triệu dân Miến Nam đều thấy rõ, ĐÓ LÀ CHỈ TRONG 9 NĂM (1954-1963), quân dân Miền Nam đã cùng Tổng thống Diệm, không những chiến thắng giặc cộng sản xâm lăng từ Miền Bắc, mà dân quân Miền Nam còn xây nên được Hòn Ngọc Viễn Đông. Nhưng hỡi ôi! thời hoàng kim của Miền Nam Việt Nam nay còn đâu! Lỗi thuộc về ai?
 
Tại sao và vì lý do nào mà Tổng thống Diệm đạt được những thành quả vĩ đại đến nỗi Giáo sư Buttinger phải nói: “Thành quả chính trị đạt được như một phép lạ”. Về vai trò lãnh đạo, cuốn Chính Đề đã viết như sau:
 
Thiểu số lãnh đạo đáng tin cậy nhất gồm những con người có đạo đức, sáng suốt, thấu hiểu những vần đề cần giải quyết, có khả năng vật chất, có trí tuệ sáng láng và tinh thần sung mãn để đương đầu và ứng phó với mọi tình thế. Quan trọng nhất và thiết yếu nhất là phải thấu triệt những vấn đề cần giải quyết của cộng đồng quốc gia”. 
 
Xét về những giá trị cốt lõi và nền tảng của những ai đứng ra lãnh đạo quốc gia cần phải có, thì những tướng lãnh cầm đầu cuộc Đảo Chánh và sát hại Tổng thống Diệm và ông Nhu để lên nắm quyền hành lãnh đạo quốc gia Miền Nam từ 1963-1975, có ai là người đạo đức, sáng suốt, thấu hiểu những vấn đề cần giải quyết không? có ai có khả năng vật chất, có trí tuệ sáng láng và có tinh thần sung mãn để đương đầu với mọi tinh thế không? Quan trọng nhất và thiết yếu nhất là có ai thấu triệt được những vấn đề cần giải quyết của cộng đồng quốc gia không?
 
Nếu câu trả lời là “có”, thì Miền Nam không bao giờ rơi vào tay cộng sản để họ đem bán đất nước Việt Nam cho kẻ thù truyền kiếp như hiện nay. Nếu câu trả lời là “không có” hay “không mấy ai”, thì Miền Nam có mất vào tay những người cộng sản phản quốc để họ rước kẻ thù truyền kiếp vào hầu xích hóa quê hương Việt Nam, thì đó cũng là điều dễ hiểu. Những sự thật lịch sử đau lòng đó còn cho thấy một sự thật khủng khiếp nữa mà cũng không mấy ai chú tâm tới, ĐÓ LÀ THẾ GIỚI CHÍNH TRỊ VIỆT NAM LÀ THẾ GIỚI CHÍNH TRỊ PHE NHÓM (political factionism), trong đó không có hay chưa có thứ chính trị mang tầm vóc quốc gia như Tổng thống Diệm dưới thời Đệ I Cộng Hòa Việt Nam. Trong đó, các đảng phái và các phe nhóm chính trị tranh đấu là để dành quyền lực và quyền lợi cho đảng hay cho phe phái riêng của họ. Những phe phái này thường không chú ý tới quyền lợi của quốc gia và quyền lợi của toàn dân. Vì họ thường hy sinh quyền lợi quốc gia và quyền lợi của toàn dân cho quyền lợi riêng của đảng hay phe phái họ. Vì thế, các đảng hay phe phái rất xa lạ với toàn bộ đời sống quốc gia, và đời sống chính trị tại Việt Nam thường xuyên là những cơn ác mộng hãi hùng liên tục. 
 
Trên đây là tất cả những lý do khiến các đảng phái và phe phái có thái độ thù nghịch với Tổng thống Diệm nên đã tiếp tay lật đổ Tổng thống Diệm chỉ vì ông bảo vệ mạnh mẽ quyền lợi quốc gia và quyền lợi của toàn dân Miến Nam. Việc bảo vệ này va chạm mạnh mẽ quyền lợi của đảng phái và phe nhóm (interest conflict) nên tất cả đã thù ghét Tổng thống Diệm. Tổng thống Diệm và chính quyền của ông không hề phủ nhận quyền hành và quyền lợi của các đảng phái và phe nhóm, mà chỉ muốn tạo nên một sự thăng bằng đồng tiến giữa quyền lợi của dân và quyền lợi của phe nhóm với quyền lợi của quốc gia, nhưng rất tiếc không có đảng phái nào chịu hiểu. Đây là một vấn nạn lớn nhất đã kềm giữ đời sống chính trị quốc gia Việt Nam trong non kém và lạc hậu. Do đó, cần phải chấm dứt vấn nạn này bằng một ý thức chính trị tự do dân chủ pháp trị thật công minh và nghiêm minh, thì đời sống chính trị quốc gia mới trở nên chín chắn và trưởng thành được. 
 
Những thực tế trong xã hội chính trị quốc gia cho thấy, đâu là chủ trương chính trị quốc gia và đâu là đường lối chính trị phe nhóm, cũng như hậu quả của hai khuynh hướng chính trị này. Khuynh hướng chính trị phe nhóm thường xuyên tạo ra những xung đột với cảnh tranh danh đoạt lợi liên tục làm cho sự đoàn kết quốc gia không bao giờ đạt được. Khi phải đối đầu với những thử thách mang tầm mức rộng lớn của quốc gia như vấn nạn xâm lăng hay phát triển quốc gia, chính trị phe phái thường bất lực vì chia rẽ. Đây mới là lý do chính yếu đã đưa đến những thất bại liên tục cho hàng ngũ Quốc Gia từ một thế kỷ nay. Càng duy trì, bảo vệ và củng cố tinh thần phe nhóm thì càng chia rẽ. Đây là một sự thật rất đau lòng mà cũng chẳng có mấy ai chú ý để tìm ra một sự ĐỒNG THUẬN và ĐOÀN KẾT.
 
Những câu hỏi được đặt ra cho cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện nay là: Đời sống chính trị quốc gia có cần Đạo Lý không? có cần hiến pháp và luật pháp thật công minh và nghiêm minh không? Tầng lớp lãnh đạo các cấp chính quyền có cần đạo đức, sáng suốt và thấu hiểu những vấn đề thiết yếu của quốc gia cần phải giải quyết không? Trí tuệ của người lãnh đạo có cần sáng suốt không? Tinh thần của người lãnh đạo có cần sung mãn không? Quan trọng và thiết yếu hơn hết là tầng lớp lãnh đạo có cần nắm vững toàn bộ đời sống của quốc gia không? Tầng lớp lãnh đạo có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của quốc gia và quyền lợi của toàn dân không, hay họ chỉ bảo vệ quyền lợi ích kỷ cho riêng mình?
 
Nếu câu trả lời là “cần thiết phải có” thì thử nhìn lại xem dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Diệm trong chế độ Đệ I Cộng Hòa Việt Nam, có những tiêu chuẩn giá trị lãnh đạo đó không? Từ những giá trị tiêu chuẩn vững chắc đó, người ta thấy sau khi lật đổ Tổng thống Diệm và sát hại ông thì không còn ai xứng đáng và có đủ sức mạnh để đứng ra bảo vệ quyền lợi quốc gia và quyền lợi của toàn dân Việt Nam nữa. Phải chăng Tổng thống Diệm đã gục chết vì tinh thần chính trị phe phái khi ông muốn bảo vệ mạnh mẽ quyền lợi quốc gia và quyền lợi của toàn dân Việt Nam?
 
Sự thật lịch sử đau đớn nhất, cay đắng nhất, buồn bã nhất, tủi hổ nhất và đáng nguyền rủa nhất là gì? Đó là lật đổ và sát hại Tổng thống Diệm cũng chính là sát hại cả Miền Nam Việt Nam và tạo luôn cơ hội cho Tàu cộng chiếm đoạt cả nước Việt Nam như hiện nay; sự lầm lạc mù quáng mê sảng của một số người tại Miền Nam cũng như tại Miền Bắc đã vô tình tiếp tay với Cộng sản Bắc Việt, khiến gần 100 triệu dân Việt Nam ngày nay phải đối đầu với họa diệt vong của giặc phương Bắc là Tầu cộng. Đây có phải là một sự thật của lịch sử không? 
 
Di ngôn của Tổng thống Ngô Đình Diệm, của Cố vấn Ngô Đình Nhu và các nhà ái quốc thời Đệ I Cộng Hòa để lại cho toàn dân Miền Nam như sau:
 
“Trách nhiệm ứng phó với thử thách hiện bây giờ đang đè nặng lên vai của Miền Nam Việt Nam. Và chưa bao giờ cộng đồng Dân Tộc đòi hỏi mỗi phần tử phải tham gia vào công cuộc đầy kích thích như ngày hôm nay. 
 
“Không có sự ước mong nào tha thiết hơn là ước mong thấy Dân Tộc lại vượt qua được thử thách, lần này cũng như những lần đã qua trong lịch sử. 
 
“Thử thách quân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa cũng như xã hội… . . 
 
“Vấn đề của giới lãnh đạo quốc gia là phải đào đến đá, đặt nền móng cho một ngôi nhà với quan niệm rõ rệt và thích hợp với Dân Tộc Việt Nam. Chỉ có cách đó khối Quốc Gia mới thay thế và loại trừ hẳn được ngôi nhà cộng sản độc tài”. 
 
Theo đó, xây dựng một chế độ dân chủ đáy tầng pháp trị (legal grass-root democracy) là một nhu cầu tất yếu của lịch sử Việt Nam.
 
Ngày nay, trước những di ngôn mà Tổng thống Diệm đã viết ra để dặn dò các thế hệ hậu duệ vì biết mình sẽ nằm xuống, KHỐI TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM TOÀN CẦU đứng ra để tổ chức Đại Hội Song Thất hôm nay với mục đích gì? Ý nghĩa gì và tiêu chuẩn giá trị nào? Đây không phải một tổ chức chính trị để tranh đấu nắm quyền hành và quyền lực quốc gia cho riêng mình như một đảng phái chính trị thông thường, mà KHỐI TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM TOÀN CẦU chỉ khao khát và mơ ước góp những bàn tay bé nhỏ và tiếng nói để phát huy TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM. Tinh thần này là tinh thần cách mạng dân chủ Miền Nam Việt Nam còn đang dang dở và bị gián đoạn kể từ khi Tổng thống Diệm bị bức tử. Những thế hệ hiện nay và sau này cần tiếp nối con đường cách mạng dân chủ đó. Tinh thần này cũng đồng nghĩa với tinh thần:
 
1) Phát huy Đạo lý, sự thật, đạo đức và công lý trong chính trị quốc gia.
 
2) Đề cao và cổ súy tinh thần tranh đấu liên tục để bảo đảm cho quyền tối thượng của toàn dân Việt.
 
3) Dấn thân tranh đấu cách mạng để giúp dân xây dựng những chính quyền của dân do dân và vì dân từ các chính quyền địa phương đến chính quyền quốc gia. Vì để bảo vệ và bảo đảm cho nhân quyền của dân thì phải giới hạn quyền hành của chính quyền, phải phân chia quyền hành và kiểm soát hữu hiệu những người nắm giữ quyền hành quốc gia các cấp.
 
4) Phát huy và cổ súy tinh thần bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của mỗi cá nhân người công dân và toàn thể người dân.
 
5) Xây dựng hệ thống chính quyền để phân phối quyền hành và quyền lợi làm sao cho công lý và công bằng được bảo đảm vững chắc để quyền hành và quyền lợi của dân, của các phe phái, và của quốc gia luôn luôn được duy trì trên trạng thái thăng bằng đồng tiến. Khi làm được như thế thì những xung đột và sâu xé vì quyền hành và quyền lợi giữa người dân và chính quyền, giữa quyền lợi phe phái và quyền lợi quốc gia sẽ giảm thiểu tối đa. Có thăng bằng đồng tiến thì đời sống chính trị quốc gia mới có trật tự, hòa bình và ổn định để bảo đảm quyền lợi của từng người dân, bảo vệ quyền lợi của những đảng phái và bảo vệ quyền lợi của quốc gia. Cứu cánh tối hậu của chính quyền là bảo vệ và bảo đảm quyền lợi của toàn dân và quyền lợi quốc gia. Nếu không bảo vệ được quyền lợi quốc gia thì nước sẽ mất. Nước mất thì nhà nhà sẽ tan. Lúc đó các phe phái và đảng phái lấy gì để tồn tại? Vì lẽ đó, đã đến lúc các đảng phái chính trị phải có chủ trương ưu tiên bảo vệ quyền lợi quốc gia cũng như bảo vệ quyền lợi của từng người dân và tất cả người dân, nếu muốn được người dân tin cậy để trao quyền đại diện cho dân trong các cấp chính quyền. Phải hiểu rằng quyền làm chủ quốc gia chính là quyền của người dân, nên bảo vệ quyền lợi của toàn dân chính là bảo vệ quyền lợi quốc gia. Nếu người dân chưa có ý thức quyền làm chủ đất nước, thì hãy giúp dân thấu hiểu vị trí là chủ đất nước của họ.
 
6) Xây dựng một hệ thống giá trị cho một xã hội đang tan rã để hồi sinh lại sức sống cho dân tộc và đoàn kết quốc gia với một nền văn hóa tổng hợp tinh thần chung của các tôn giáo, của Thánh Kinh Cựu Ước và Tân Ước cũng như của các kinh điển Phật giáo, Cao Đài và Hòa hảo. 
 
7) Làm sáng tỏ vai trò, trách nhiệm, bổn phận và chức năng của các tôn giáo trong đời sống chính trị quốc gia cũng như trong đời sống cộng đồng và đời sống quốc gia trên những giá trị vô hạn của tôn giáo.
 
Trong Tu Chính Án số 1 của Hiến Pháp Hoa Kỳ có ghi rõ ràng: “Separation of Church and State”, tức là “tách giáo hội ra khỏi nhà nước”, chứ không bao giờ nói “tách tôn giáo ra khỏi chính trị”. Điều khoản này của Tu Chính Án số 1 cũng có nghĩa là giáo hội hay các tu sĩ tuyệt đối không nắm quyền lực và quyền hành quốc gia hay tham gia vào các chức vụ trong chính quyền. Tuy nhiên chính trị cần có luật lệ, đạo đức và công lý; chỉ có tôn giáo mới có luật lệ và đạo đức và công lý để giúp cho chính trị trở thành một thế giới chính trị có luật lệ thiên nhiên của Trời Cao, có đạo đức và công lý theo đúng luật lệ và lời dạy của Thiên Chúa trong Thánh Kinh hay trong giáo lý của các tôn giáo khác.
 
Chính trị cần tôn giáo là vì vậy. Tôn giáo có luật thiên nhiên, có đạo đức và công lý, nhưng xã hội muốn áp dụng luật thiên nhiên, áp dụng đạo đức và áp dụng công lý vào đời sống xã hội và quốc gia thì phải có chính trị mới thực hành được. Tôn giáo cần có chính trị là vì thế. Muốn” ĐEM ĐẠO VÀO ĐỜI” thì phải đem Đạo Lý vào chính trị. Vì thế vai trò, trách nhiệm, bổn phận và chức năng của chính trị chính là “thế Thiên hành đạo” trong xã hội con người, và tôn giáo phải giúp chính trị đóng đúng vai trò và chức năng cao quý của chính trị. Như thế mới đúng là ĐEM ĐẠO VÀO ĐỜI… tức đem đạo vào thế giới chính trị như nước Mỹ đã làm được gần 300 năm qua. 
 
8) Cổ súy và thúc đẩy toàn dân xây dựng một nền móng vững chắc cho căn nhà dân chủ đáy tầng pháp trị (legal grass-root democracy) để toàn dân thực thi quyền làm chủ đất nước của họ. Quan trọng và thiết yếu hơn cả là người dân phải tìm hiểu và thấu triệt những những vấn đề cần giải quyết của cộng đồng quốc gia để tham gia trực tiếp vào việc điều hành guồng máy quốc gia.
 
9) Liên tục nhắc nhở người dân muốn làm chủ đất nước và muốn có tự do và công lý thì phải có trách nhiệm với quốc gia; đặc biệt là người dân phải hết sức thận trọng khi xử dụng quyến tối thượng của dân để xử dụng lá phiếu chọn người đại diện cho họ trong các cấp chính quyền. Phải làm sao chọn được những con người thật xứng đáng − những người đại diện dân phải là những người đáng tin cậy − họ phải là những con người đạo đức, sáng suốt và lo bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của dân và lo bảo vệ hiến pháp. Người dân cần hiểu và sống với đạo đức của công dân nếu họ muốn sống trong tự do và công lý.
 
Trên đây là tất cả mục đích, ý nghĩa và giá trị tiêu chuẩn mà KHỐI TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM TOÀN CẦU muốn dâng hiến cho quốc dân Việt để chúng ta lấy cả một hệ thống giá trị thực tiễn đó tạo nên đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc gia, từ đó mới có đủ sức mạnh để đương đầu với những tên phản quốc cộng sản và kẻ thù truyền kiếp đang xâm lăng quê hương thân yêu của chúng ta, đồng thời để bảo vệ quyền tự chủ, tự quyết, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
 
Trong suốt 900 năm qua, theo nghiên cứu lịch sử của nhóm Tùng Phong thì nước Tàu đã xâm lăng Việt Nam 7 lần, trong đó có 6 lần những kẻ xâm lăng đã thảm bại trước ý chí quật cường của Dân Tộc Việt. Tại sao chúng ta đã liên tục thắng được giặc ngoại xâm? nhờ đâu? và do đâu? Cuốn Chính Đề Việt Nam giải thích như sau:
 
“Chúng ta đã từng đánh bại quân xâm lược và đạp đổ ách thống trị của chúng vì chúng ta có người lãnh đạo và ý thức quốc gia dân tộc được hun đúc và nuôi dưỡng, cũng như những vấn đề của quốc gia được giải thích sâu rộng trong đa số quần chúng. Như vậy quần chúng có ý thức cộng đồng quốc gia và hiểu biết vấn đề cần giải quyết của cộng đồng là lợi khí sắc bén nhất để một quốc gia nhỏ và yếu kém như chúng ta có thể chống lại nạn ngoại xâm…”
 
Hành trang lên đường của KHỐI TINH THẦN NGÔ ĐÌNG DIỆM TOÀN CẦU hôm nay là di sản tinh thần vô giá của Tổng thống Diệm và Đệ I Công Hòa Việt Nam để lại sau khi gục chết bởi chính nhóm tướng lãnh phản loạn và những kẻ đội lốt Phật giáo Ấn Quang tại Miền Nam. Chỉ vì một chút hư danh, hư lợi phù phiếm ích kỷ cho riêng mình, mà họ đang tâm sát hại, không chỉ một vị anh hùng khả kính nhất của dân tộc Việt Nam, mà giết hại cả nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam, tạo cơ hội thuận tiện cho những kẻ phản quốc Cộng sản Bắc Việt chiếm Miền Nam, để sau đó đem bán đất nước cho Tàu cộng xâm lăng như ngày nay mọi người đều thấy. Di sản tinh thần thiêng liêng đó ngày nay trở thành ĐUỐC THIÊNG ÁI QUỐC cho các thế hệ hậu duệ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. ĐUỐC THIÊNG ÁI QUỐC này rất cần thiết trên dòng tiến hóa của dân tộc, nhất là sau khi Miền Nam Việt Nam đã chết trong tay những người cộng sản Việt Nam phản quốc, sẵn sàng hạ mình làm thân trâu ngựa cho kẻ thù truyền kiếp là bọn xâm lăng Hán Tộc để có chút lợi danh phù phiếm ích kỷ cho riêng mình.
 
Những người Việt tỵ nạn cộng sản đến Hoa Kỳ đã sống 43 năm trong vòng tay nhân từ và độ lượng của Hoa Kỳ, nhờ đó mới có cơ duyên để tìm tòi học hỏi về cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ vào 1776, từ đó mới khám phá ra BỐN LUỒNG ÁNH SÁNG NHIỆM MẦU CỦA NỀN VĂN MINH DÂN CHỦ HOA KỲ, là:
 
1) CUỐN THÁNH KINH CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC, 
 
2) TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA HOA KỲ NĂM 1776, 
 
3) HIẾN PHÁP HOA KỲ NĂM 1787, 
 
4) VÀ DỰ LUẬT NHÂN QUYỀN NĂM 1688. 
 
Nhờ bốn luồng ánh sáng thiêng liêng này, không những Hoa Kỳ đã trở nên một quốc gia vĩ đại nhất, mà theo như nhận xét của Alexis de Tocqueville khi đến thăm Hoa Kỳ vào 1831, Hoa Kỳ còn là một quốc gia minh triết nhất trên mặt đất này. Đây là một bí mật sâu thẳm nhất của một quốc gia non trẻ nhất trong cộng đồng nhân loại, NHỜ TÍN NGƯỠNG VÀ ĐỨC TIN MÃNH LIỆT VÀO THIÊN CHÚA TOÀN NĂNG, VÀ NHỜ CUỐN THÁNH KINH MÀ QUỐC GIA NON TRẺ NÀY ĐÃ TRỞ THÀNH MỘT QUỐC GIA VĨ ĐẠI NHẤT VÀ MINH TRIẾT NHẤT TRÊN MẶT ĐẤT NÀY. 
 
Và quốc gia vĩ đại và minh triết nhất trên mặt đất này đã xuất hiện trước một thế giới chính trị chỉ thấy ác mộng hãi hùng trong thế giới con người từ bao ngàn năm qua như một luồng ánh sánh nhiệm mầu cuối đường hầm của lịch sử văn minh nhân loại. Và Hoa Kỳ đã xuất hiện trước lịch sử văn minh nhân loại như một “Đô Thị Trên Đồi Cao” (the City upon the Hill) để mang BỐN LUỒNG ÁNH SÁNH THIÊNG LIÊNG VÀ NHIỆM MẦU ĐÓ soi sáng và hướng dẫn 111 quốc gia trong cộng đồng nhân loại xây dựng nên 111 quốc gia tự do dân chủ sau khi Hoa Kỳ giải phóng cho gần 70 quốc gia đang bị các Đế Quốc Thực Dân Âu Châu chiếm đóng và đô hộ.
 
Sự thành công của Cách Mạng Dân Chủ Miền Nam là xây nên được Hòn Ngọc Viễn Đông. Và sự thành công của Cách Mạng Hoa Kỳ là xây nên được một quốc gia vĩ đại nhất trong suốt 6000 năm lịch sử của văn minh nhân loại, và là quốc gia minh triết nhất trên mặt đất đã cứu Âu Châu thoát khỏi thảm họa trong Đệ I và Đệ II Thế Chiến, giải phóng các thuộc địa, phá sập thành trì của Quốc tế Cộng Sản để giải phóng 25 quốc gia thoát khỏi nanh vuốt man rợ của cộng sản vô thần. 
 
Cuộc Cách mạng Dân Chủ tại Miền Nam Việt Nam đang để lại di sản tinh thần vô giá của Tổng thống Diệm là ĐUỐC THIÊNG ÁI QUỐC của thời Đệ I Cộng Hòa, và Cách Mạng Hoa Kỳ đang để lại di sản tinh thần là sống theo sự soi sáng của (1) cuốn Thánh Kinh Cựu Ước và Tân Ước, (2) Tuyên Ngôn Độc Lập, (3) bản Hiến Pháp của Hoa Kỳ 1787 và (4) Dự Luật Nhân Quyền 1688 (the Bill of Rights). Đó là BỐN LUỒNG ÁNH SÁNG NHIỆM MẦU CỦA ĐÔ THỊ TRÊN ĐỒI CAO sẽ soi sáng và hướng dẫn, không chỉ Việt Nam, mà cả Trung Hoa Lục Địa và các nước Á Châu. Đã đến lúc toàn dân của những quốc gia đó tự động đứng lên để làm cách mạng dân chủ hầu lật đổ các chế độ cộng sản độc tài đảng trị, đòi lại quyền tối thượng cho toàn dân hầu xây dựng nên những chính quyền của dân, do dân và vì dân. 
 
Chính vì những lý tưởng cao đẹp của cách mạng dân chủ mà mọi người đã chứng kiến tại Miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ trong cuộc cách mạng dân chủ này. 
 
Khối TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM TOÀN CẦU, khi viết lên bản Tuyên Ngôn này, chỉ ước mơ sao cho Dân Tộc Việt Nam, Trung Hoa hay các nước Á Châu quật khởi vùng lên để phá tan tành xiềng xích nô lệ của các chế độ độc tài đảng trị và những kẻ xâm lăng, để đòi quyền tự chủ và độc lập cũng như quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc cho chính mình, cho dân tộc và cho quốc gia thân yêu của mình. 
 
Muốn được như thế, chúng ta cần có Đuốc Thiêng Ái Quốc của Tinh thần Ngô Đình Diệm và Bốn Luồng Ánh Sáng Nhiệm Mầu đã giúp cho nước Mỹ trở thành, không chỉ một quốc gia vĩ đại nhất, mà còn là một quốc gia minh triết nhất trên mặt đất này. 
 
Chúng tôi xin cúi đầu cảm tạ với lòng biết ơn vô hạn đối với Cố Tổng thống Diệm, ông Cố vấn Ngô Đình Nhu cùng các bậc sĩ phu khả kính và các nhà ái quốc của Đệ I Cộng Hòa Việt Nam, cũng như xin cúi đầu cảm tạ với lòng biết ơn vô hạn đối với các Founding Fathers của Hoa Kỳ đã soi sáng và dẫn dắt các dân tộc khổ đau trên toàn thế giới tìm được tự do và dân chủ khi họ luôn luôn bị tước đoạt quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của họ. 
 
Cuối cùng vẫn còn rớt lại một tra vấn trước đêm tăm tối của dòng sử mệnh Việt hôm nay: Phải chăng Đuốc Thiêng Ái Quốc của Tinh thần Ngô Đình Diệm và Bốn Luồng Ánh Sáng Nhiệm Mầu của Cách Mạng Hoa Kỳ chính là những luồng ánh sáng vừa lóe lên chói lọi cuối đường hầm trên dòng sử mệnhcủa Dân Tộc Việt Nam, Trung Hoa và các nước Á Châu? 
 
SO, HELP ALL OF US, GOD!
 
KHỐI TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM TOÀN CẦU.
 
     NGUYỄN ANH TUẤN

     © Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.

      © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam  

** Phụ Chú :

Mời Quý Vị Xem Đây là những hình ảnh ghi lại nhân dịp Lễ Khánh Thành

Tượng Đài Tưởng Niệm Cố Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM

Người đã có công xây dựng Nền Đệ Nhất CỘNG HÒA và QLVNCH ngày 14/7/2018 tai Montreal PQ Canada
 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT