DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Hồi Ký: Cuộc Chiến Chưa Tàn (10)_Trần Nhật Kịm

E-mail Print

                                                             Image result for CUỘC  CHIẾN  CHƯA  TÀN

10.

Vùng cuối chân trời

(Trại Quyết-tiến, Hà-giang)

           Kim thức giấc từ lâu, cái lạnh buốt xương như lôi anh ra khỏi tấm mền quá mỏng.  Trời chưa sáng, qua khe cửa hình ảnh bên ngoài vẫn chìm trong mầu xám lợt.  Anh đã nghe thấy tiếng gà gáy sáng xa xa.  Cái lạnh ở ngoài như thấm sâu vào phòng.  Ðôi dớ mền không đủ giữ ấm  bàn chân.  Anh khoác chiếc mền đắp phủ ngoài chiếc áo mền mà vẫn thấy lạnh.  Dù chỉ cách xa có một ngày xe chạy, cái lạnh của  Nam-Hà mới chỉ làm xe da,  còn ở đây, cái lạnh đã thấm  sâu, len lỏi  tận cùng các thớ thịt.                                  

            Tám giờ sáng cửa phòng mới mở, khí lạnh lùa vào phòng.  Kim bước ra sân, bầu trời một mầu trắng đục trông thật thấp.  Sương xuống nhiều nên không nhìn rõ cảnh vật phía trước ngoài chục thước.  Sau vài cử động hít thở, anh có cảm giác hơi lạnh len vào tận buồng phổi, hơi nóng đã đọng thành sương mỗi khi há miệng.  Các bạn anh co ro trong chiếc mền cuốn quanh người.  Kim đang ở trên vùng đất gía lạnh mà ánh sáng mặt trời thật hiếm muộn.

            Chín giờ sáng anh em tới trình diện cán bộ trại.  Một cán bộ gọi Kim và chỉ anh ngồi ghế trước bàn hắn, vui vẻ với nụ cười trên môi:

            -"Anh Kim đi đường có mệt không.  Ðêm qua anh ngủ có ngon giấc không?"

            Kim ngạc nhiên khi hắn gọi tên anh như quen biết đã lâu.  Giọng nói Hà-nội thứ thiệt thật hòa nhã, không pha trộn một chút âm thanh miền quê.  Anh chợt nhớ tới Hai-Tiến của trại Phan-đăng-Lưu.  Cũng giọng nói thật nhẹ nhàng, nhưng không hiểu sao vẫn không thấy âm hưởng vui tươi, một sắc thái hài hoà làm người nghe có một chút cảm tình.  Không ai đoán hiểu được trong lòng hắn đang nghĩ gì, để biết hắn đang vui hay giận.  Anh trả lời:

            -"Ði đường xa cũng hơi mệt, đêm qua được ngủ một giấc nên tôi thấy khỏe hơn."

            Hắn chậm rãi mở tập hồ sơ cá nhân của anh để trên bàn.  Vẫn cái bìa mầu vàng đi theo anh từ trại Ty, qua các trại ở miền Nam rồi ra Bắc và bây giờ lên tận vùng rừng thiêng nước độc này.  Hắn mở trang bìa, ngón tay đưa từ trên xuống dưới theo hàng có ghi tên cán bộ chấp pháp và ngày tháng hỏi cung.  Trang trong, phần ghi chú ngoài lề với dấu hỏi viết lớn bằng bút chì mầu đỏ vẫn còn đó.  Hắn dừng lại ở phần nhận xét của trại Nam-Hà và nói:  

            -"Trại Nam-Hà ghi thành tích lao động của anh rất xấu.  Nào là chống lại lệnh của cán bộ quản-giáo đội, tự ý cho đội nghỉ giải lao.  Không đôn đốc anh em lao động, năng xuất lao động kém.  Và gần đây nhất là đầu não tổ chức tuyệt thực…"                  

            Kim nghe hắn đọc, đôi lúc nhấn mạnh như muốn tăng mức quan trọng của vấn đề.  Lại một lần nữa anh được nghe nhắc lại hai chữ "đầu não," không hiểu chúng có thành kiến gì mà luôn luôn khoác cho anh hành động cầm đầu.  Anh trả lời khi hắn ngưng nói:

            -"Cán bộ vừa đọc thành tích của tôi ở trại Nam-Hà, tôi không hiểu trại Nam-Hà có ghi rõ sự việc không, nhưng có điều khi ghi" đầu não tổ chức tuyệt thực" đã không sát với thực tế.  Chúng tôi không tuyệt thực, nhưng khi thấy phần ăn không đúng tiêu chuẩn, tôi có yêu cầu cán bộ trực trại tới kiểm soát. 

            Nếu đó là sự sai trái của nhà bếp, cần phải sửa đổi, vì phần ăn bị cắt xén sẽ ảnh hưởng tới sức lao động của anh em.  Còn nếu bảo tôi là đầu não lại càng không đúng, vì ở địa vị buồng phó tôi phải đại diện anh em liên hệ với cán bộ trại.  Ngay khi đó cán bộ trực trại có tới kiểm tra, có sự hiện diện của cán bộ nhà bếp.  Sự việc đã được giải quyết là nhà bếp phải bồi hoàn phần cơm thiếu."

            Mặt hắn bỗng đanh lại, nụ cười vừa nở trên môi vụt tắt.

            -"Thế hành động các anh hô đả đảo cộng-sản, gây ảnh hưởng xấu trong trại?"

            Câu hỏi khó trả lời, tuy vậy anh vẫn phải nói:

            -"Thực ra sự việc này phải bắt đầu từ hành động đánh đập tàn nhẫn anh em bệnh của cán bộ trực trại, mặc dầu họ đã được cán bộ y-sĩ trại cho phép nghỉ lao động.  Vì tình người, cán bộ cũng như chúng tôi, khó có thể cầm lòng trước sự việc xẩy ra.  Chúng tôi lên tiếng phản đối cán bộ trực trại với mục đích ngăn chặn hành động có thể gây thiệt hại đến sinh mạng người bệnh, khi sức khỏe của họ không chịu nổi trận đòn."

            -"Còn vụ các anh ngồi ngoài sân không chịu vào phòng theo lệnh cán bộ, anh ở thành phần nào?"

            Kim nhớ khi sự việc xẩy ra, anh và các bạn đã đồng ý là tập thể khu B ngồi lại cho đến khi cán bộ trại giải quyết tình trạng anh em bệnh đang bị giam kỷ luật.  Mặc dù các anh hiểu đó là một việc khó khăn khi đòi hỏi cán bộ trại phải chiều theo ý của tập thể cải tạo.

            -"Vì tình trạng sức khỏe anh em bệnh không được chữa trị, lại bị giam kỷ luật cùm xích, chúng tôi đưa đề nghị cán bộ trại giải quyết, để anh em bệnh trở về với tập thể hầu chữa trị kịp thời."

            -"Anh nghĩ thế nào về hành động các anh gây mất trật tự, náo loạn nơi nhà bếp?"

            -"Khi lãnh phần ăn cho buồng, chúng tôi phát hiện bánh mì đã mốc xanh, có nhiều chiếc đã nặng mùi.  Chúng tôi yêu cầu nhà bếp đổi cho bánh mới, vì bánh hư mốc gây nguy hiểm cho sức khỏe anh em."

            Kim không hiểu trong đó có ghi hành động thách đố cán bộ nhà bếp của Phong trước sự chứng kiến của anh, cũng như anh em phòng 7 dùng xẻng xúc than gây náo loạn khu nhà bếp.

            Hắn im lặng nhìn Kim trong giây lát như muốn tìm biết ý nghĩ của anh trong lúc này.  Ðôi mắt hắn soi mói người đối diện.  Hắn thong thả nói:

            -"Không phải bây giờ tôi mới biết anh.  Khi chúng tôi được trại Nam-Hà thông báo các anh không chịu ăn cơm, Bộ đã điều tôi và một toán cán bộ tới trại theo rõi để nắm vững tình hình.  Tôi đã đọc những lời phát biểu của các anh trong buổi sinh hoạt học tập nội quy tại phòng.  Tôi đã đọc kỹ bản khai của anh, đã nắm vững tư tưởng của các anh.  Bộ đã quyết định đưa các anh lên đây, anh hãy an tâm cải tạo, vì đây là nơi thuận tiện nhất."

            Kim hiểu đây là trạm chót của cuộc hành trình, là “quê hương” sau cùng của anh, nhưng lại là bước đầu của những chông gai gian khổ hơn những gì anh đã trải qua.  Phải, anh đã tới trại "Cổng Trời", lên tận đỉnh cao, đỉnh cao của tủi nhục và cơ cực.

            Hai mươi người trại Nam-Hà được ở riêng một căn nhà nhỏ, tường xây mái ngói cũ kỹ.  Thời tiết ngày cành lạnh hơn, chiếc áo may từ một phần tấm mền cắt ra không đủ ấm, thêm chiếc mền quấn quanh người vẫn còn lạnh.  Anh trở dậy nhiều lần mỗi đêm, làm nóng người bằng những động tác thể dục, rồi vào ngủ tiếp.  

            Các anh vẫn được nghỉ lao động.  Ngày hai bữa ngô xay nấu chín, món ăn chính của người miền núi vùng này.  Các anh không được rời khỏi khuôn viên phòng mình ở, cơm nước do nhà bếp gánh lên tận phòng.

            Sáng ngày thứ ba, trại Trưởng tới phòng, sau khi hỏi thăm sức khỏe anh em, hắn nói:

            -"Các anh mới tới vùng này, chưa quen khí hậu, nhớ xuống nhà bếp lấy nước nóng về tắm…"

            Khi gặp trại trưởng, Kim không còn ngạc nhiên về cử chỉ và lời nói của cán bộ an-ninh.  Vẻ hoà nhã thân thiết bên ngoài liệu có che dấu được dã tâm tàn ác.

            Nghe nói trại trưởng là một đại-úy, đã ở trại này hơn hai mươi năm từ khi còn là trung-sĩ.  Hắn và đám nhân viên dưới quyền phải như thế nào, trại này mới có danh xưng là "trại kỷ-luật số 1 của Bộ", với thành-tích nhiều năm cầm cờ đỏ.  Ðã qua mặt các trại nổi tiếng khác của miền Bắc, một thời làm mọi người khiếp sợ như Ðầm Ðùn của Hà-Nam-Ninh, Lý-bá-Sơ của Thanh-Hóa.  Kim nhận biết các anh đã rơi vào ổ kiến lửa, với bàn tay thép bọc nhung, mà thực tế còn khiếp đảm hơn những gì viên trại phó trại Nam-Hà đã cho hay trước khi các anh đi.

            Người thứ ba mà các anh gặp là cán bộ giáo dục, cũng  lại Bắc Kỳ chính gốc. Có lẽ hắn sinh trưởng ở Hà-nội nên nói rõ từng chữ, không có một chút âm thanh địa phương nặng chịch hay ngang phè.  Hắn xưng tên là Thiếu-úy Tố, phụ trách văn-hóa giáo-dục.  Hắn còn trẻ, dỏng cao, trắng trẻo mang nét thư sinh.  Ðứng trên bục cao, hắn nói:

            -"Các anh được viết thư về nhà, nói rõ cho gia đình biết các anh ở đâu để thư không lạc. Tôi nhấn mạnh các anh phải ghi địa-chỉ rõ rệt.  Các anh đang ở trại Quyết-Tiến thuộc huyện Quản-bạ tỉnh Hà-Tuyên."

            Hắn im lặng đi lại trên bục như để anh em có nhiều thì giờ ghi nhận.  Anh em nhìn hắn theo dõi.  Bất chợt hắn dừng lại nói tiếp:

            "Còn về sinh-hoạt ở đây, các anh hãy an-tâm cải-tạo.  Còn nếu muốn trốn trại thì tùy ý, nhưng tôi nói để các anh rõ, từ trước tới nay chưa ai trốn thoát khỏi trại này.  Ðể các anh rõ hơn, tôi cho hay trại có hai con đường, đường thứ nhất là đường các anh vào đây, còn đường thư hai đi về phía sau trại, sẽ đưa lên đồi Bà Then…"

            Lại thêm một lần ngạc nhiên.  Trại đã không che dấu địa danh như các trại anh đã đi qua, mặc dù anh hiểu nơi đây có ai tới thăm nuôi mà hòng nhắn tin như khi còn ở miền Nam.  Còn thư có viết chắc gì đã được gửi, nên cho biết tên trại cũng chẳng mấy quan trọng.  Nhưng về điểm thách đố tù nhân trốn trại qủa là đặc biệt, hắn đã dựa vào điểm nào để có hành động này.  Khi tới đây anh đã bỡ ngỡ với "Cổng Trời", và bây giờ lại thêm thắc mắc về “Đồi Bà Then."

            Bây giờ đang mùa đông, bầu trời một mầu trắng đục, không khí lạnh buốt.  Trại ở trên đỉnh cao, từng đám mây trắng thoáng qua phủ mờ mặt đất như tấm thảm bông mầu sữa.  Hiếm thấy những cánh bướm bóng chim bay qua, chỉ trừ những cánh vạc ăn đêm lạc lõng.

            Ðã 3 ngày nay bầu trời một mầu sương trắng, không có lấy một chút ánh nắng sưởi ấm nhân gian.  Không hiểu còn bao nhiêu ngày vẩn mây như lúc này, hay sẽ kéo dài suốt mùa đông âm-u ảm-đạm.

            Từ trại xuống Thị-xã Hà-giang độ chừng 36 cây số.  Ngược lên phía Bắc, huyện Quản Bạ nằm sát biên giới, chỉ cách trại khoảng 10 cây số.  Qua đỉnh núi, phía bên kia là biên giới Việt-Trung.

            Xe chở khách từ Hà-Giang lên Quản-bạ không chạy mỗi ngày.  Ða phần là các chuyến xe chở hàng và khách buôn lên xuống Hà-giang Quản-bạ.

            Mặt trước trại hướng về đường lộ, hai bên là vách núi thẳng đứng tiếp xúc với những cánh rừng gìa trải rộng dưới chân.  Phía sau trại dựa vào sườn đồi tiếp nối với rặng núi cao.  Một vùng đất rộng sau trại được dùng làm nghĩa trang mang tên "đồi Bà Then", nơi vùi lấp xác thân những người xấu số của trại.

            Tự nhiên anh có cảm nghĩ thật chua xót.  Người ta đã nói trước và nhấn mạnh nhiều lần với các anh là, đã đến đây sẽ ở lại đây suốt đời.  Các anh chót bước chân vào cửa trước, và chỉ còn lại con đường duy nhất là đi ra cửa sau, lối lên đồi Bà Then.  Các anh phải ổn định tâm tư mình đừng vọng động, yên lặng âm thầm mà sống những năm tháng còn lại trong đời.

            Ðộc đạo được canh giữ phía dưới chân dốc.  Nếu đi theo đường hai bên hông trại cũng khó thực hiện.  Sức lực nào vượt hết cánh rừng hoang kia, cho dù có qua được vách núi này.

            Xuống được phía dưới kia sẽ đi về đâu.  Nếu đi về phía biên giới, ai sẽ dẫn đường vượt qua rào cản quân đội hai bên.  Còn nếu xuống miền xuôi, liệu có thể hòa đồng với lớp dân chúng đã sống lâu ngày trong vòng tay cộng-sản.  Liệu có thể che dấu được bộ dạng, nét ngây ngô như chú mán vào thành.  Còn sự khác biệt về giọng nói, đôi lúc pha một chút âm hưởng của miền Nam.  Về quần áo, liệu anh có thể che dấu được bộ quần áo tù mầu xanh duy nhất dành cho cải tạo miền Nam.

            Vào ngày cuối tuần các đội nghỉ lao động, trại tổ chức một buổi chiếu bóng ngoài trời.  Cuốn phim trình chiếu có tựa đề “Vùng Trời”, tả cảnh người vợ đi thăm chồng khi hay tin phi cơ anh lái là một chiếc Mig, sản xuất tại Nga Sô, gặp hư hỏng sau một thời gian quần thảo với máy bay “Con Ma” của Mỹ trên vùng trời miền Bắc.  Người vợ đã vào trong rừng gặp chồng.  Khi gặp chồng, câu đầu tiên người vợ hỏi:

            -“ Máy bay có sao không anh?”

            -“ Không sao hết.  Anh đáp an toàn trong rừng cây…”

            Mặc dù thời tiết cuối năm thật lạnh, cuốn phim đen trắng dùng làm tài liệu không dài, nhưng là cơ hội cho anh em gặp gỡ các bạn trong khu O, và biết thêm về tình cảm gia đình của xã hội miền Bắc.

            Mấy ngày sau Tiên và Vang đi kỷ luật, rồi đến Thiện.  Không ai ngạc nhiên vì biết trước sau gì cũng đến lượt mình.  Kim tự hỏi đây có phải là hậu quả của hành động Tiên không đi trình diện ban giám thị trại, hay từng người sẽ lần lượt nếm mùi kỷ-luật vì hành động chống đối vừa qua.  

            Chính khi xẩy ra cuộc chống đối anh cũng ngạc nhiên, tại sao cán bộ trại Nam-Hà không có hành động nào khi anh em chống lại lệnh ban quản giáo.  Hay trại không muốn làm công việc thổi bùng ngọn lửa chống đối của tập thể khu B trở thành phức tạp hơn. 

            Còn về phía anh em cải tạo, có phải đã tới đường cùng nên bất chấp mọi hiểm nguy, và trước mắt không thể có thêm một người bạn bị hành hạ, ngược đãi.  Không cần phải có một lời khích động, mọi người đã liên kết cùng gánh chịu mọi bất hạnh xẩy ra.

            Nhưng ở trong hoàn cảnh đơn lẻ này, chỉ còn một điều quan tâm, bây giờ là mùa đông gía rét, người bị kỷ-luật chỉ được mặc một bộ bà ba trại phát, mang theo một chăn một chiếu một màn.  Không được mặc áo ấm, mà nền xi-măng lạnh buốt.  Khẩu phần ăn vốn khiêm nhượng nay lại bị cắt giảm.

            Phía trước mặt phòng anh ở là khu kỷ luật, chỉ cách hai dẫy tường cao và một con ngõ hẹp.  Anh nghe rõ tiếng đập phá chửi bới của người bị kỷ luật.  Nhưng đám cán bộ trại chẳng quan tâm tới, vì tù nhân phải đối diện với cái đói, cái gía lạnh, gông cùm còn kinh hoàng hơn là những trận đòn rách da chẩy máu.  Rồi thời gian sẽ làm hao mòn cả thể lực lẫn ý-chí, và một ngày không xa sẽ bị khuất phục. 

            Thiện còn trẻ, mới 20 tuổi, khi còn ở trại Gia-rai vác bao gạo 100 ký coi nhẹ như không.  Sau hai tuần vào kỷ-luật, nghe nói khi ra em phải bò khỏi phòng, vì hai chân đã bị tê dại.

            Dù sao ở khu kỷ-luật này vẫn còn coi là may mắn, vì là những căn nhà trên mặt đất, như phòng giam của các trại anh đã đi qua, gồm đủ còng tay với xích chân.  Chỉ có một điểm khác là thời tiết quá khắc nghiệt vào mùa đông.  Và trại còn có một đặc điểm là, ngoại trừ thành phần bị kiên giam lâu ngày trong khu biệt giam, đa phần đi kỷ luật vào mùa đông, vì mùa hè vẫn là thời gian sản xuất lương thực nuôi tù.

            Còn một loại phòng giam khác là những hầm đá, vào mùa đông hầm càng lạnh hơn.  Khẩu phần ăn quá ít, mỗi bữa cơm nắm lại chỉ lớn bằng trái trứng vịt với muối.  Không có lấy một chút chất ngọt, chất béo.  Trong hoàn cảnh ngược đãi, thể xác sẽ bị hao mòn theo thời gian.  Có nhiều người đã qua đời ở đây.

            Chính tại căn hầm đặc biệt này, cùm xích và cai ngục cũng khác thường.  Vòng sắt dẹp ôm cổ chân lâu ngày sét rỉ, đường kính khoảng 4 phân tây, nhỏ hơn cổ chân bình thường.  Khi cùm, tù nhân để cổ chân trên nửa vòng sắt dưới, cán bộ úp nửa vòng sắt trên xuống không vào khớp vì thịt cổ chân thừa ra ngoài.  Cai ngục dùng gót giầy đạp xuống phần sắt trên để vòng sắt vào ngàm.  Họ làm như một thói quen trong khi tù nhân đau đớn.  Phần thịt nơi cổ chân đã dập nát, vết thương chẩy máu dễ làm độc vì vòng sắt xét rỉ, dơ bẩn. 

            Không được chữa trị kịp thời và hình phạt kỷ luật vẫn tiếp diễn trong nhiều ngày, vết thương lở loét sau mỗi cử động.  Cổ chân sưng lên khiến vòng sắt như nhỏ lại lún sâu vào thịt, vòng sắt nhám như mặt dũa cọ vào vết thương.  Cái đau nơi cổ chân bóp thắt trái tim, các bộ phận trong người như bị cắt ra từng mảnh.

            Tù nhân có cảm giác vết thương ngứa ngáy khó chịu, như đang bị những dòi bọ gậm nhấm.  Muốn cử động cho bớt ngứa lại sợ vòng sắt làm vết thương chẩy máu.  Lâu ngày nằm một chỗ, bàn chân như nặng hơn, mất dần cảm giác nơi gan bàn chân.  Cảm giác nặng nề lên dần tới hông, như không còn chịu sự điều khiển của trí óc.  Rồi chẳng bao lâu, chân bị còng thấy nhẹ tênh, như không còn là một phần của cơ thể.  Không lúc nào bằng lúc này, tù nhân thấy chua xót cho số phận hẩm hiu của mình.

            Những ngày cuối năm dương lịch qua thật mau.  Bầu trời vẫn u ám đọng mây như tấm khăn xô ướt đầm nước mắt.  Cảnh vật trở lên tiêu điều ủ dột, như tâm tư buồn nản không ngày mai của người “cải tạo."

            Ngày đầu năm dương lịch là ngày lễ được nghỉ lao động, tù nhân được "ăn tươi" cả ngày.  Hai bữa cơm không độn, mỗi người vài miếng thịt trâu kho, một chén canh rau hầm xương. Khẩu phần thật khiêm nhượng nhưng là một ngày vui, vì khẩu vị được thay đổi, có một chút chất béo trong người.

            Ðể hội nhập với sinh hoạt lao động, anh em trại Nam-Hà được chuyển vào khu 0.  Không hiểu danh từ khu 0 có từ bao giờ, nhưng với phong thái bình dân mà cuộc cách mạng mệnh danh giải phóng dân tộc đã "giải phóng" luôn cả nền văn hóa có từ mấy ngàn năm, bắt đầu làm lại từ khởi điểm cổ xưa.  Người dân Sài-gon ngỡ ngàng khi thấy tấm bảng "xưởng đẻ" thay thế cho "bảo sanh viện," lấy cớ danh từ mới có vẻ gợi hình và giản đơn hơn danh từ cũ. 

            Thành thử khi bước chân vào khu O, anh biết là mình đã bước chân vào trong một vòng tròn khép kín, đã tới con đường cùng, một ý nghĩ luôn ám ảnh từ ngày vào tù.  Ðó là một vùng đất riêng biệt, một khu nhà giam trong trại tù.  Anh như cá nằm trong giỏ, không có hy vọng vượt thoát ra ngoài.  Anh ít có dịp gặp người khác ngoại trừ những người sống trong vòng tường này.

            Một vòng tường tròn hình chữ O xây cao trên 10 thước, đầu tường có giăng kẽm gai được chiếu sáng bằng những ngọn đèn cao thế.  Lối ra vào duy nhất là khung cửa bằng gỗ lim dầy luôn khóa kín phía ngoài.  Từ ngoài nhìn vào khu O, Kim không thấy  được gì vì vòng tường quá cao, im lìm như một ốc đảo.  Trên đầu tường rải rác nhiều vọng gác, có cán bộ võ trang trực gác ngày đêm.  Mức độ an-ninh trong khu O căng thẳng hơn bên ngoài.

            Qua khỏi ô cửa nhỏ vừa lọt một người đi nằm về bên phải của khung cửa lớn, phía trong là khu đất rộng.  Một căn nhà ngủ lợp ngói tường xây nằm cách xa khu trại mộc và cưa.  Phần đất còn lại biến thành vườn bắp cải, có cả vài ngàn gốc do tù trong khu gieo trồng, phần hoa mầu thuộc quỹ của trại.

            Kim nhìn quanh, tầm mắt bị ngăn lại bỏi vòng tường xây cao phẳng lì, chỉ thấy bầu trời một mầu trắng đục.  Anh có cảm giác đang ngồi sâu dưới đáy giếng, vùng trời phía trên thu nhỏ lại, không thấy được gì ở phía xa, ngoại trừ bóng cây lờ mờ trên đỉnh núi.

            Với nhân số hơn 70 người chen chúc nhau trong căn nhà nhỏ.  Mặc dầu có sàn nằm trên thành hai tầng, nhưng chỗ nằm chia nhau nằm rất hạn hẹp, vẫn vai chấm vai.      

            Ngoài 20 người trại Nam-Hà, còn có các anh: Nguyễn-văn-Phước (Sì-quan Hải quân), Nguyễn-văn-Trình (Sĩ-quan Truyền tin) đến từ trại Vĩnh-Phú. 

            Các anh: Ðặng-văn-Tiếp (Sĩ-quan Không quân, Dân biểu), Nguyễn-thái-Quân (Sĩ-quan binh chủng Dù) và Hoàng-trọng-Hanh (Sĩ-quan Cảnh-sát) đến từ trại Hà-Tây. 

            Một số anh em từ trại Thanh-cẩm lên đây sau nhóm Kim mấy ngày có các anh: Trịnh-Tiếu (Ðại-tá), Trang-minh-Hải (Thiếu Tá), Nguyễn-ngọc-Xuân (Thiếu Tá), Phạm-dương-Ðạt (Thiếu tá), Lê-văn-Khương (Phó quản đốc trại Côn-Sơn), Nguyễn-Vạn-Thọ (Bộ Tư Pháp), Trần-trung-Chi và Lê-văn-Mười (can tội chống Cộng).

            Một số qúy vị Linh-mục, Tuyên-úy Công giáo chưa hẳn đã có hành động chống đối trực diện tại các trại cũng bị đưa lên đây, vì vốn là thành phần mà cộng-sản không thể sống chung gồm có các Linh Mục đến từ các trại:  LM Ðinh-Cao-Thuấn (Nha Tuyên úy Công giáo), LM Nguyễn-thiện-Thuật (Tuyên úy Binh chủng Hải quân), LM Trần-công-Ðịnh (Tuyên úy, Cần Thơ), LM Nguyễn-hữu-Chương, LM Cao Đức Thuận (Nha Tuyên úy Công giáo), LM Nguyễn Văn Nguyễn Văn Thành (Tuyên úy, Thủy quân Lục chiến), LM Nghị, LM Chu Văn Oanh (Mỹ Tho), LM Phan Hữu Nam (Dòng Chúa Cứu Thế, Sài sòn), LM Phạm Văn Hùng (Tuyên úy, Gia Định), LM nguyễn Văn Hòa (Địa phận Phú Cường), LM Phạm Ngọc Lan (Tiểu Chủng viện Ban Mê Thuột)

            Thành phần tù nhân của miền Nam sau ngày 30/4/75 từ các trại tới đây cộng chung là 48 người.  Kim gặp lại một số anh em Biệt kích ra đây từ thập niên 60 và trải dài những năm sau đó. 

            Thời gian từ năm 1972 trở về trước, đời sống của họ rất thê thảm.  Những người may mắn sống sót sau nhiều năm kỷ-luật tra tấn đến kiên giam cũng chẳng mấy lành lặn.  Họ được hưởng tiêu chuẩn như một tù hình sự miền Bắc.

            Ðang trong tình trạng kiên giam hay kỷ-luật cùm xích trong phòng tối, họ được đưa ra khỏi nơi đây, tháo bỏ sợi xích tay và vòng sắt niềng cổ chân. Ăn tiêu chuẩn cao hơn, được ra lao động ngoài trời để nắng gió hàn lành các vết thương trên cơ thể. Ðể nhuộm thẫm mầu da, vì thiếu ánh sáng lâu ngày trong các căn hầm tối, đã trở thành trắng bệch mốc meo như những xác chết.  Ðược ngủ thoải mái hơn trên vuông chiếu cá nhân trong khu tập thể.  Ðược ăn no hơn trước dù chỉ với ngô khoai sắn nằm trong tiêu chuẩn.  Như vỗ béo cho ra vẻ một con người mập mạp, dù chỉ là mập bột béo nước.  Nhưng có lẽ vì "kiêng cữ" lâu ngày trong phòng kỷ luật nên làn da vẫn thâm xám, nét mặt vẫn nặng nề.  Vết đầu ngón tay ấn vào da vẫn còn in sâu.

            Anh em có ngạc nhiên về sự đổi thay trong cuộc sống, nhưng chẳng ai quan tâm vì khó đoán được ý định của người cộng-sản, vốn thay nay đổi mai. 

            Cũng vào thời gian này, số quân cán miền Bắc vào đánh phá miền Nam bị bắt làm tù binh khá đông, Phú-Quốc như không còn chỗ chứa.  Nhiều hội đoàn tại miền Nam đã chỉ trích chính quyền về tình trạng giam tù cộng-sản.  Họ đòi tới tận nơi quan sát đời sống tù nhân, đòi hỏi chính quyền phải cho tù nhân ngày 3 bữa ăn no, đầy dủ chất bổ dưỡng cho một cơ thể, cân lượng thực phẩm cho mỗi người phải được kiểm tra.  Các nhu cầu cho cá nhân nhất là vệ sinh y-tế phải đặt lên hàng đầu . Một anh bạn cùng phòng ở trại Nam-Hà nguyên là một sĩ-quan tại trại Phú-quốc nhắc lại sinh hoạt trại Phú-quốc trước năm 75 bằng câu nói:  "Nhất tù, nhì quân khuyển, thứ ba mới tới nhân viên an-ninh trại."

            Một vài nhật báo tại miền Nam đã đăng hình khu "chuồng cọp," cộng thêm những lời phản đối về hình thức vô nhân đạo của phòng giam này.

            Còn bây giờ, sau bao nhiêu năm tù đầy trong Xã hội cộng-sản, chuyển từ Nam ra Bắc, hết trại này đến trại khác, anh chưa thấy một hội đoàn, một cơ quan thiện nguyện hay một hội bảo vệ nhân quyền nào tới thăm các trại tù cộng sản giam giữ những người miền Nam, để thấy tận mắt đời sống tù nhân "cải tạo," một đời sống phải có làm mới có ăn.  Làm ra nhiều hoa mầu vẫn không được ăn no, mà miếng ăn đó có đáng là thứ để nuôi sống con người ở thế kỷ này.  Vì vậy anh nhận ra một điều là chính sách tù đầy của Cộng-sản rất khoa học, tù nhân tự nuôi sống và số lương thực tù làm ra đã nuôi cả đám cán bộ coi tù.  Do đó thời gian giam tù có kéo dài bao lâu cũng không ảnh hưởng gì tới ngân sách của nhà nước Cộng-sản.   

            Chưa thấy báo chí hay các hội đoàn quốc-tế tới thăm các hầm giam này.  Hay họ đã yên lòng tin tưởng vào danh từ "nhân đạo khoan hồng," vào "tình anh em ruột thịt máu chẩy ruột mềm."  Liệu chuồng cọp của côn sơn Phú-quốc có sánh đước với hầm giam ở đây không?  

            Ðến ngày trao trả tù binh, nhiều quân cán cộng-sản  xin ở lại miền Nam trong chương trình Chiêu hồi.  Anh  khâm phục những người này, họ có một nhận thức đúng về hai phía xã hội họ đã sống.  Họ ở lại vì hai chữ Tự-Do, mà khi trở về quê hương miền Bắc tự do chỉ còn là ảo tưởng.

            Gặp lại các anh Biệt-kích ở đây Kim mới chưng hửng.  Lại thêm một bài học kinh nghiệm về sự thành thật, thẳng thắn của người cộng-sản.  Vậy tỉ số trao đổi ngày xưa là bao nhiêu.  Vì lực lượng cộng-sản khi tiến đánh miền Nam họ không có cơ sở để giữ tù, nên đối tượng gây trở ngại cho cuộc tiến quân của họ đã được giải quyết số phận tại chỗ.  Hình ảnh mồ chôn tập thể của quân dân miền Nam  từ Tết Mậu Thân đến mùa hè đỏ lửa vẫn còn là một dấu tích khó quên.

            Vậy tại sao những người Biệt-kích dự trù cho cuộc trao trả vẫn còn đây.  Có phải cộng-sản miền Bắc muốn giữ họ làm con tin cho các mục đích sau này.  Hay họ sợ những người Biệt-kích sẽ là chứng nhân cụ thể về hành-động tàn ác, đi ngược lại tinh thần nhân đạo của cộng đồng quốc tế một khi câu chuyện này được phơi bầy.  Hay họ vẫn che dấu, bưng bít những hành động vô nhân đạo hầu lấy được phần nào lòng tin của những người nhẹ dạ vì những lời tuyên truyền mật ngọt.

            Ðợt trao đổi tù binh năm 1973 qua đi, anh em Biệt-kích lại trở về nếp sống cũ.  Nhận lại sợi xích tay cái niềng chân trong các căn phòng ẩm thấp thiếu ánh sáng và phương tiện vệ sinh.  Hay họ phải lao động cực khổ hơn trước, như để trả lại công lao "vỗ béo" vừa qua, với tiêu chuẩn 11 ký chất bột mỗi tháng gồm ngô khoai sắn, tiêu chuẩn của một tù hình sự miền Bắc.

            Họ mang tội danh khá đặc biệt, "gián điệp hoạt động tại miền Bắc". Có như vậy mới danh chính ngôn thuận khoác cho một cái án mà chẳng qua một cơ chế pháp lý nào xét xử.  Nếu không kêu án tử hình, thì với "lệnh tập trung cải tạo" cũng suốt đời an cư tại các vùng núi rừng biên giới Hoa-Việt.

            Có người đã trải qua 20 năm tù ở đây vẫn chưa được về.  Nhà nước bảo các anh Biệt-kích cải tạo chưa tốt, chưa rửa sạch đầu óc còn nặng tính tư-bản đế-quốc.  Như vậy chẳng cần án trung thân khổ sai, các anh vẫn vĩnh viễn ở đây, nhận mảnh đất này là nơi an nghỉ cuối cùng.

            Nhiều khi anh tự hỏi, tại sao có cuộc huynh đệ tương tàn.  Vì định kiến chính trị hay tham vọng cá nhân.  Khởi đầu một cuộc cách mạng chống ngoại xâm, nhưng lại khơi dậy lòng căm thù đấu tranh giai cấp, nồi da xáo thịt. Nêu cao chính nghĩa chống thực dân đô hộ áp bức, lại đi làm tay sai cho một đế quốc thực dân khác, nấp dưới danh xưng là các nước anh em vĩ đại.  Nêu cao mỹ danh "Anh hùng dân tộc, đỉnh cao nhân loại" như một lớp vỏ hào nhoáng, che đậy sự dốt nát nghèo đói và chậm tiến.

            Có người đặt ra câu hỏi :"Sau khi đánh chiếm miền Nam, cộng sản không bắt quân cán miền nam đi cải tạo, không đuổi dân thành phố tới vùng kinh tế mới, không chiếm đoạt tài sản của nhân dân miền nam, thực tâm thống nhất hòa đồng dân tộc, tiếp tục phát triển đất nước…"

            Theo lẽ thường tự ngàn xưa, đó là con đường phải làm để thu phục nhân tâm, để phục hưng đất nước sau nhiều thập niên chiến tranh.  Nhưng tiếc thay, vì bản chất, người cộng sản đã đi ngược lại.  Ðã biến cuộc Nam tiến thành xâm lăng, tự đào huyệt chôn hai chữ "chính nghĩa" mà họ từng nêu cao như một nghĩa cử, và hiện nguyên hình của một tập đoàn thực dân mới.  

            Họ đã nhúng tay vào máu của người miền Bắc qua những đợt đấu tố.  Dành đất của địa chủ để dân cầy làm chủ nhưng nhà nước quản lý.  Giết hại những người có tinh thần quốc gia dân tộc vì không đi theo con đường phản bội quê hương.  Phát động cách mạng văn-hóa phá hủy truyền- thống để du nhập một thứ văn-hoá vay mượn.

            Và một lần nữa lại nhúng tay vào máu của người miền Nam.  Nêu cao chính nghĩa giải phóng dân tộc như một thứ hỏa mù hầu thực hiện ý đồ bá quyền.  Ðã đẩy hàng triệu người vào các trại tập trung để ngăn ngừa mầm mống chống đối, khả dĩ làm lung lay chế độ cộng-sản.  Biến xã hội thành một nhà tù khổng lồ.  Liệu người dân có thể sống hạnh phúc trong một quốc gia ngày đêm lo sợ vì chính-sách công-an trị, trong một xã hội mà quyền tự do con người bị tước đoạt.

            Bức màn sắt vén mở, người dân có dịp nhìn thấy tận mắt đời sống hai miền, hiểu rõ thực chất chế độ cộng-sản.  Cuộc thống nhất Nam Bắc đã gia tăng sự chia rẽ nội bộ.  Lá bài "Giải phóng miền nam" trở thành mối lo cho cộng-sản miền Bắc.  Ðể người miền Nam trở lại miền Nam, dù là người miền Nam có máu cộng-sản, nhưng vì tính kỳ thị vẫn chỉ là thả cọp về rừng.

            Ðịa phương nặng tính tự trị.  Mỗi vùng mỗi tỉnh nằm trong tay một lãnh chúa.  Mà lãnh chúa xuất thân từ giới công nông, được phong thưởng vì trung thành với chế độ, có nhiều thành tích sắt máu với nhân dân.  Tạo dựng uy quyền tối thượng, phép vua thua lệ làng, mạnh tay vơ vét tài sản đồng bào.

            Nhà nước có cả một chính sách để miền Nam tiến nhanh tiến mạnh bằng miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa. 

            Anh cũng chẳng ngạc nhiên về hành động của một số quân cán trẻ tuổi miền Bắc khi vào thành phố Sài-gon. Anh thương bọn trẻ, cái gì cũng thấy lạ mắt trong khi khoe ngoài Bắc cái gì cũng có, ti-vi tủ lạnh chạy đầy đường …Anh  thông  cảm, vì đám trẻ miệt mài trên đường tiến đánh miền Nam, chưa được học tập lại nên không bắt kịp sự thay đổi chính-sách qúa nhanh của nhà nước.  Thay vì khoe khoang như trước đây, đường lối học tập thay đổi khi họ nắm chắc phần thắng trong tay, họ nhận miền Bắc nghèo đói hơn miền Nam, nhưng tự hào là kẻ chiến thắng.

            Nhưng anh vẫn phải suy nghĩ về câu chuyện xẩy ra tại Hà-nội, thủ phủ của vương quốc cộng-sản miền Bắc.  Vì hệ thống chuyển vận nước uống qua các đường ống tới từng nhà chưa thoả đáng, nhiều khu dân chúng vẫn phải lấy nước xử dụng hàng ngày tại các vòi nước công cộng.  Các địa điểm lấy nước lại không có nhiều, đa phần lưu lại từ thời chưa chiến tranh.  Ðường ống hư cũ, mạch nước chẩy chậm, hàng xếp dài cả năm bẩy chục thước.  Tình trạng tranh cãi kẻ trước người sau xẩy ra luôn. 

            Tại một vòi nước, hàng xếp đã dài, cả trăm cặp mắt nhìn vòi nước mong cho tới lượt mình.  Bất chợt, một thanh niên áo thung, dép râu, quần xanh bộ đội đi tới đẩy cặp thùng đang hứng nước ra ngoài và để cặp thùng của hắn vào.  Mọi người phản đối hành vi thiếu kỷ luật và yêu cầu hắn xếp hàng như mọi người.  Hắn đã không làm theo ý kiến chung, lại tức giận hai tay chống nạnh nói lớn trước đám đông toàn đàn bà và trẻ nhỏ:  "...vì có những người như hắn chiến đấu nên mới có hòa bình như ngày hôm nay.  Hắn có quyền hưởng phần ưu tiên vì công lao của hắn đã bỏ ra…"

            Chắc hắn muốn nói với mọi người trước mặt là vì họ hắn phải chiến đấu, đã hy sinh hạnh phúc của tuổi trẻ.  Hắn cũng mong muốn được hưởng một chút ân huệ, biến đổi cuộc sống từ nghèo nàn đến no ấm.  Hắn không dám nhìn cao, không dám sánh với Sư Trưởng, Trung Trưởng, với những người có đảng tịch trong đơn vị.  Họ được cấp phát nhà cả ngoài Bắc lẫn trong Nam.  Ðã hoá gía nhà đến mấy lần, không kể cắm dùi bán đất công cho người khác. 

            Hắn rất hiểu nghĩa chữ "quyền lợi."  Ðã có quyền trong tay thì lợi nhuận phải tới.  Còn lũ lính như hắn, tháng ngày lặn lội, nhịn đói nhịn khát trên đường mòn Hồ-chí-Minh, phải chống chỏi với bệnh tật hiểm nguy.  Vào sinh ra tử trên khắp chiến trường miền Nam, với những vắt cơm lạt, những hạt gạo rang dằn bụng.  Khi chiến thắng miền Nam, hắn may mắn hơn các bạn không bị vùi thây nơi góc rừng hẻm núi, có cơ hội trở về.

            Miếng mồi miền Nam thật béo bở, đã bị cắt xén chia chác bởi đám người quyền thế, như kẻ khát nước đói ăn lâu ngày, lòng tham của họ thật vô cùng.

            Khi cuộc chiến tàn lụn, đám lính tốt như hắn được hưởng những gì ngoài đặc ân "giải ngũ tập thể."  Mang sức lao động hoàn thành con đường sắt nối liền Nam Bắc.

            Hắn trở về gia-đình, vẫn căn nhà cũ xiêu vẹo, mái tôn nhìn thấy bầu trời.  Hắn và đồng đội đã ồ ạt tiến vào miền Nam, nhưng khi chiến thắng lại âm thầm rút khỏi.  Danh hiệu anh hùng chỉ là hư ảo.  Hắn cần phải sống, và đang sống lây lất ngoài lề xã hội.

            Nhìn sự tức giận của hắn lộ ra ngoài, đám người trước mặt nghĩ gì.  Có phải vì lòng mẹ bao dung, vốn nặng tình thương xót.  Ðã theo tuân theo khuyến cáo của nhà nước, một thời thắt lưng buộc bụng, hạt gạo xẻ làm tư để cứu trợ nhân dân miền Nam đói khổ.  Ðã từng thấm khô bao nhiêu giòng lệ khi những đứa con yêu có đi không trở về.  Lòng mẹ vì tình yêu thương trở thành ích kỷ, bà không muốn con cái mình vào nơi nguy hiểm ở một phương trời xa lắc.  Bà đã dấu con không cho ra đi.  Bà chấp nhận cả gia đình thiếu thốn, bữa rau bữa cháo khi tiêu chuẩn bị cắt xén, vì không khuyến khích con em nhập ngũ.  Nhưng cuối cùng vì sự thúc bách, bà đành chịu đựng đau khổ để hoàn thành xứ mạng do Bác và Ðảng đề ra.

            Kim vẫn tự hỏi, những người lãnh đạo có hành động này với mục đích gì.  Ðã bần cùng hoá đời sống miền Bắc, đảo lộn cuộc sống miền Nam.  Có phải để tạo dựng một lớp tư bản mới nằm trong tay giới lãnh đạo và các cán bộ cao cấp của đảng, trong khi thành phần công nông vẫn đói khổ.  Hay vì con cái họ không phải đi lính, không chết trên chiến trường vì đã xuất dương du học hầu nối nghiệp ông cha sau này, nên không hiểu được sự đau khổ mất con.  Hay vì ở địa vị ăn trên ngồi trước, lên xe xuống ngựa, không biết tới củ khoai mẩu sắn nên không hiểu được cái đói khổ hàng ngày.

            Ngoài số cải tạo miền Nam vào trại sau ngày 30/4/75, còn một số anh em biệt-kích, số còn lại là hình sự miền Bắc, có án từ 10 năm đến khổ sai trung thân, đa phần can tội cướp của giết người.

            Kim và các bạn Khuân, Hướng, Lợi chuyển qua tổ đan mây tre.  Tổ đan gồm có 10 người, hầu hết là anh em Biệt-kích.  Ngày hai buổi anh và các bạn tổ đan rời khu O tới chỗ lao động.

            Chỉ còn hơn tháng nữa là Tết Nguyên đán.  Tiết trời càng lạnh hơn.  Ðã mấy tuần không có lấy một chút nắng, bóng mặt trời chỉ còn là một vầng sáng mờ sau màn mây dầy đặc.  Cảnh vật trở lên ủ rũ, buồn nản.

            Căn nhà tranh thấp nhỏ, không cánh cửa ra vào cũng như các khung cửa sổ trống trơn, nên không cản được những luồng gió lạnh lùa vào.  Anh em ngồi làm việc quanh đống lửa đốt bằng những khúc giang còn thừa.  Ngọn lửa bốc cao, hơi nóng làm rát mặt nhưng sau lưng vẫn lạnh buốt.

            Kim chưa biết đan rổ rá nên lãnh phần chẻ lạt gói bánh chưng và đũa tre cho bếp cán bộ.  Số lượng yêu cầu thật nhiều, vì ngoài số cung cấp cho cơ quan, các cán bộ còn cần riêng cho gia đình. 

            Sau nhiều ngày làm chung, anh càng kính phục anh em Biệt-kích.  Mặc dù đã trải qua bao nhiêu năm cùm xích kỷ-luật và kiên giam, hàng chục năm trời chỉ biết tới đói và rét, nhưng vẫn giữ được nghĩa khí của một quân nhân miền Nam.  Anh Luyện là sĩ quan cấp bậc cao nhất trong toán ở đây, được anh em kính trọng như con chim đầu đàn.  Anh kín đáo hòa nhã nhưng rất kỷ luật với chính mình.

            Kim thường trò chuyện với anh trong giờ lao động, vì chỉ nơi đây mới có thể tâm sự, khi về phòng ai cũng cẩn trọng, nhất là trong một tập thể hỗn độn chen lẫn đám hình sự miền Bắc.

            Ðược biết toán anh ra đây từ năm 65, anh đã ở miền Bắc 13 năm.  Có lần tâm sự…

            Kim trả lời câu anh hỏi:

            -"Khi anh nhẩy toán tôi đã về Bộ chỉ huy vùng 2."     

              -"Anh theo toán lập trại?"

            -"Vâng, trôi nổi ở các trại An-Khê, Kannack, Thu-thủy lên Plateau GI Kon-tum sau đó mới về Pleiku."

            -"Anh có nhận được thư của gia đình không?"

            -"Sau hơn một năm bị bắt tôi có gặp nhà tôi và các cháu một lần ở trại Gia-rai Long-khánh.  Khi chuyển trại ra Bắc đến Nam-Hà tôi có nhận được thư nhà.  Theo thư viết, nhà tôi vẫi tin tôi đang bị giam tại trại Chí-hòa.  Còn anh, anh có liên lạc với gia đình không?"

            -"Từ ngày đi đến bây giờ tôi không có tin của gia đình…"   

            Kim hiểu, các anh Biệt kích thuộc thành phần mà cộng sản tận tình khai thác, được khoác danh hiệu là "gián điệp nằm vùng" cực kỳ nguy hiểm.  Các anh còn sống đến bây giờ qủa là điều may mắn.  Kim thông cảm với suy tư của các anh, dù sao gia đình vẫn là một nguồn an ủi, một  hy vọng để bám lấy mà sống.  Kim khó có thể nói ra những điều mình biết.

            Thực tế các anh được ghi nhận là mất tích sau lần công-tác.  Một thời gian sau, gia đình được lãnh tiền tử tuất, người vợ trẻ được gọi là qủa phụ, đàn con dại trở thành cô nhi.  Tấm hình bán thân với gương mặt rạng rỡ, tươi cười được đóng khung đặt trên bàn thờ, những tấm huy chương gắn thẳng hàng trên mặt gối bọc mầu nhung đỏ.  Ngày các anh ra đi đã trở thành ngày tưởng nhớ, lệ đã thấm ướt nhiều tấm khăn xô.  Tháng ngày qua chỉ còn là kỷ niệm đau thương cho người ở lại.  Hơn chục năm qua các anh vẫn sống ở đây, như đang sống trong một thế giới riêng biệt mà mọi người tưởng chừng đã chết.  Kim tiếp lời:

            -"Trước năm 75, khu cư-xá Lữ-Gia phát triển rất đẹp.  Nhà cửa khang trang hơn, đường xá mở rộng, không khí sầm uất rất nhiều.  Nhưng trước ngày miền Nam bị chiếm đoạt, Saì-gon trở thành tan hoang.  Mọi người ai nấy tìm đường thoát hiểm ra nước ngoài, khó mà lường được ai ở ai đi.  Và sau khi miền Nam mất hẳn vào tay cộng-sản, Sài-gon như mất hết sinh lực, quân Cán miền Nam đi cải tạo, gia đình trở thành chia ly tan tác."

            -"Không hiểu nhà tôi và các cháu ra sao?"

            Kim thoáng nhận ra nét ưu tư trên gương mặt anh.  Các anh cũng mong mỏi có một ngày trở lại khung cảnh cũ.  Liệu những gì đã thay đổi.  Cũng có thể người vợ trẻ lại một lần sang ngang vì mỏi mòn đợi chờ.   Còn những đứa con ngoan thơ dại ngày nào cũng có thể trở thành một thứ rác rến sống vật vờ bên lề xã hội. 

            -"Chỉ trừ trường hợp chị và các cháu ra nước ngoài trước giờ Sài-gon mất, nếu còn ở lại tôi nghĩ chắc cũng chẳng ảnh hưởng gì vì anh xa nhà đã lâu.  Sau khi Sài-gon bị chiếm đoạt, những căn nhà chủ bỏ đi nước ngoài đều bị tịch thu, một số căn nhà có chủ nhà đi cải tạo thường bị chính quyền địa phương trưng dụng, lấy cớ người đi cải tạo có nợ máu với nhân dân.  Hoặc địa phương khuyến dụ thân nhân người đi cải tạo tới các vùng kinh tế mới, người cải tạo sẽ sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.

            Tại Sài-gon đã có nhiều gia đình gặp cảnh này.  Mẹ con bồng bế nhau tới các vùng Phước-Long, Ðồng-soài, Quảng-đức… nhưng chẳng được bao lâu phải trở lại Sài-gòn, vì chưa quen ruộng rẫy.  Nhất là vì không được chính quyền giúp đỡ như lời hứa hẹn trước khi đi."

            Chiều 30 Tết được nghỉ lao động.  Gọi là bảo vệ truyền thống dân tộc, vui chơi 3 ngày Tết, mọi người được nghỉ thêm ngày mồng một và mồng hai.

            Sáng ngày mồng 2 cả trại kéo lên núi trồng cây, gọi là "trồng cây nhớ Bác."  Nhân dịp Tết, mỗi người được phát 2 chiếc bánh chưng.  Một chiếc có chút thịt, chiếc kia vì hết thịt nên chỉ còn đậu.  Ðó là kết qủa cắt xén bữa ăn hàng ngày để cuối năm có chút “ăn tươi”. 

            Mỗi ngày Kim theo toán đi lao động tại căn nhà tranh, anh mới có dịp nhìn thấy một phần quang cảnh trại.  Từ chỗ làm ra tới cổng gác là một sân rộng, hai bên có nhiều căn nhà nhỏ giam tù.  Một căn dùng làm trạm xá.  Các anh trong khu O chỉ khi đau ốm khai bệnh mới ra tới đây.

            Ba ngày Tết, trại cho phép tù nhân được tự do đi lại trong vòng trại.  Kim nhớ khi tới đây, vượt hết con đường dốc chạy theo vách núi tới mặt bằng, đi qua khu cổng rào kẽm gai rồi vườn bắp cải rộng mênh mông mới tới khu cơ quan là chỗ anh xuống xe. Từ đây anh phải đi qua một quãng đường nữa mới tới cổng trong là khu giam tù. 

            Kim và các bạn đi về phía sân vận động.  Con đường đất bụi mù vì đông người qua lại.  Pha trộn quần áo rách vá của tù với y phục mầu sắc rực rỡ của người Tầy.  Một chiếc cổng trào cao dựng lên ở đầu con đường rẽ vào sân vận động.  Trên nóc cổng có đặt một con chim bồ câu đứng giang cánh trên qủa cầu.

            Ðấy là con chim gỗ do Nguyễn-Tiến-Ðạt khắc ở trại mộc mấy ngày trước đây. Khi đó anh em nói đùa là trông nó chẳng vui chút nào, dáng dấp nó thật buồn như mang tâm trạng tha hương của người điêu khắc, chứa đựng vẻ hờn tủi của người đã mất tự do, biểu tượng cuộc sống ngắn ngủi thê lương của những người cải tạo đang tới chốn đường cùng.

            Tiếng súng vẫn vọng về từ biên giới.  Có cái gì lẫn lộn giữa chiến tranh với hòa bình, hay xã hội này đang ở vào thời điểm hòa bình trong chiến tranh, mà bóng chim bồ câu chỉ là hình thức ru ngủ vỗ về những người thiểu số.  Hay nó cũng giống như bức hình khổng lồ của Bác đứng chỉ tay về phía Bắc, mang ý nghĩa nhắc nhở nước anh em vĩ đại "không có gì qúy hơn Ðộc-Lập Tự-Do."  Thể hiện đúng ý nghĩa "Ðộc-Lập Tự-Do" trong vòng tay chặt chẽ của các nước anh em.

            Phía trước là sân bóng, mọi người đứng xem đang cổ võ cho đội nhà.  Một trận đấu giao hữu giữa đội tù hình sự và đội cán bộ trại.  Khó có thể cân bằng lực lượng giữa thân hình béo tốt của cán bộ và hình hài trơ xương của đám tù, chưa kể một bên chân giầy một phía chân đất.        

            Dù sao cũng chỉ là một trận "giao hữu" ghi nét sinh hoạt vui tươi của ngày Tết.  Thay vì chứng kiến cảnh trọi trâu trọi gà như truyền thống, lại được thấy khung cảnh thân ái và lành mạnh giữa "người có quyền và kẻ bị trị."  Là dịp tốt cho đám cán bộ tập luyện chân cẳng, đá cả bóng lẫn người.  Còn về phía tù dù mang thương tích, thân mình ê ẩm chân cẳng chầy chụa, cũng được đền bù một phần ăn bồi dưỡng.

            Tinh thần thể thao lên cao, mọi người cùng liên hoan ngày Tết.  Thể hiện tình nghĩa đồng bào dù chỉ trong khoảnh khắc.  Nhưng liệu có giảm được những trận đòn tàn nhẫn, hay phần ăn nặng tay cắt xén vào những ngày sau đó.

            Ngày Tết qua đi thật nhanh, lao động trở lại bình thường.  Không còn chẻ lạt vót đũa, anh chuyển qua đan rổ rá cho bếp cơ quan.  Anh đã học đan long 2, long 3.  Những thân tre to thẳng được đập dập, rọc một đường theo vết nứt từ gốc đến ngọn.  Trải rộng thân tre, róc hết mắt và cạnh sắc hai bên.  Tùy theo cây tre dài hay ngắn, sẽ đan thành tấm phên che cửa sổ hay cửa ra vào.  Với những cây tre dài dùng đan những tấm mui xe.  Tấm phên tre được bẻ cong chụp lên phía sau xe, hai đầu gốc ngọn cắm vào hai bên thành xe.  Thật đơn giản, không cần xương đỡ mái.  Ðủ để che nắng, nhưng khó che mưa nhất là những cơn mưa nặng hạt, nếu không phủ ngoài bằng lớp giấy dầu.

            Nhìn công việc mình làm, Kim có cảm tưởng anh đang tiến tới thời kỳ dân tộc mới lập quốc, không khác gì hoàn cảnh của những người vỡ bè trôi giạt vào đảo hoang.  Chỉ có một điểm khác là tâm tư họ mưu tìm một con đường sống, còn các anh chờ đợi cuộc đời tàn lụn theo thời gian.

            Bầu trời đã sáng hơn những tuần qua, có lẽ từ ngày anh tới đây.  Những cuộn mây xám không còn đùn lên từng khóm, màn mây trắng đục như mỏng đi.  Ðã thấy lác đác những hạt mưa.  Mưa phùn đang điểm nhẹ xuống mặt đất gía lạnh.

            Bây giờ đang vào Xuân, mưa giăng khắp bầu trời như màn lụa mỏng, Kim chợt nhớ đến cơn mưa phùn của Hà-nội.  Mưa nhẹ như những hạt bông, bám trên mái tóc mây óng ả, vương trên bờ vai thon nhỏ, lăn dài trên các tà áo mầu...Mưa không thấm ướt đôi má, không làm hoen mầu son trên môi, chỉ lấp lánh trên rèm mi như những hạt châu muôn sắc.  Mưa nhẹ đan nhau như tấm voan mềm rủ xuống mặt hồ, phủ mờ tháp rùa và những tàng cây xung quanh, tạo thành một bức tranh thủy mạc thiên nhiên mờ ảo.  Vừa mang nét cổ kính, vừa có vẻ thơ mộng hữu tình.

            Mưa phùn đẹp thật, nhất là mưa phùn trên thành phố Tháp Rùa.  Anh không hiểu danh từ mưa phùn có từ bao giờ, diễn tả động tác nào.  Nhưng mưa phùn đã làm xanh các chồi nhánh, làm mơn mởn các đóa hoa đào, làm lòng thêm hứng khởi mỗi dịp xuân về.          

            Tất cả qua đi thật nhanh, chỉ gợi nhớ trong lòng anh những kỷ niệm xưa, nhưng cũng thêm chua xót cho cuộc đời còn lại.  Liệu anh còn cơ hội nhìn mưa trên thành phố tháp rùa. 

            Giờ này vẫn là cơn mưa cũ, liệu người Hà-nội có tâm trí tận hưởng vẻ đẹp của cơn mưa như ngày xưa.  Hay họ cũng như anh trong lúc này, vẫn là cơn mưa phùn, dù mưa có nhẹ hạt, cái lạnh vẫn thấm sâu vào da.

            Càng lạnh, anh càng hiểu thấm thía câu nói "bụng đói thì cật rét", chiếc dạ dầy trống trải không đủ hơi nóng giữ ấm con người, như bếp tro tàn vào ngày mưa bão.  Cái đói luôn hoành hành, gậm nhấm lớp thịt mỏng còn bám vào cơ thể anh, soi mòn dần khí lực.  Anh cảm thấy hơi thở mình nhẹ dần, đôi lúc thều thào như người vừa dứt cơn bệnh nặng.  Ðôi tay và cặp chân như không còn chịu sự điều khiển của trí óc, như muốn tách rời ra khỏi cơ thể.

            Kim quay lại khi thấy có người vỗ nhẹ vào vai, anh nhận ra anh Ðông Biệt-kích.

            -"Có gì không anh Ðông?"

            -"Vào bếp lửa sưởi cho ấm.  Ngồi ngoài mưa lạnh lắm,  còn lâu mới tới giờ lao động."

            Anh theo Ðông vào bếp.  Chính lúc này anh cần có bạn để vơi đi nỗi nhớ nhà.  Gọi là bếp nhưng chỉ là phần đầu hồi, được che phên ba mặt chừa lối vào phía trước.  Anh ngồi bên bếp lửa, hơi nóng làm dịu cái lạnh ngoài da.  Anh uống hớp nước nóng, hơi nóng lan nhanh xuống dạ dầy.

            Ðông chợt hỏi:

            -"Anh Kim có đói không?"

            Nhìn Ðông, anh cười trả lời:

            -"Chúng ta ăn để khỏi chết, có bao giờ được ăn no đâu mà chẳng đói.  Nhất là thời tiết vùng này, cái lạnh như thấm sâu vào dạ dầy, khuấy động cơn đói luôn luôn muốn trỗi dậy."

            Ðông chỉ chiếc mũ sắt lật ngửa trên bếp lửa hồng, khói bốc nghi ngút từ dưới tấm lá chuối đậy phía trên, nói:

            -"Tôi có nhặt một ít đầu sắn, nấu đã chín.  Anh ăn một chút không?"

            -"Không có thứ gì ăn được mà lại từ chối, nhất là vào lúc này."

            Ðông dở lớp lá chuối trên mặt, bên trong đầy đầu sắn với lớp vỏ ngoài mầu nâu.

            -"Tôi chưa kịp lột vỏ, nhưng đã thay nước nấu hai lần, chắc không say đâu."

            Kim đã nghe nói nhiều về sắn, nhất là tại các vùng rừng núi có trồng xoan và lim.  Chất độc nơi đầu củ sắn dễ làm say, vì vậy trước khi luộc cần bóc vỏ và chặt bỏ hai đầu.  Ngâm nước vài giờ trước khi luộc để chất độc thoát bớt ra ngoài.

            Nước luộc sắn đã cạn, chỉ còn lấp xấp ngang mặt mấy que củi để dưới đáy.  Sắn được hong trên lửa nên khô ráo.  Kim cầm mẩu sắn bóc lớp vỏ ngoài, mẩu sắn chỉ lớn bằng ngón chân cái, nhưng nhai nghe thật bùi.  Anh cảm thấy ngon miệng, vị ngọt thấm dần, dằn bớt cơn đói đang quặn thắt dạ dầy.  Anh nhai hết phần bột, chậm rãi nhai cả phần xơ.  Chưa bao giờ anh thấy vị sắn ngon như lúc này, chất bột làm bụng anh đỡ cồn cào, vì mỗi sáng anh chỉ "điểm tâm" bằng lon nước lạnh.

            Kim chợt nhớ đến gánh sắn bán rong tại công trường con rùa, cuối đường Duy-Tân, mà sau ngày Sài-gon bị chiếm, vợ chồng anh thường ghé gánh sắn sau mỗi lần mua hàng qua đây.  Sắn ủ nóng hổi trong nồi hấp, trắng muốt như những thỏi ngà.  Trên mỗi miếng sắn có phủ một ít dừa bào sợi, điểm một chút muối mè cho vừa miệng.  Miếng sắn có vị vừa ngọt vừa bùi pha một chút mằn mặn thật hấp dẫn.

            Nhưng trong giây phút này, dù chỉ là mẩu đầu sắn vứt bỏ, lại không có cả muối mè lẫn dừa bào sợi, mà vị thật thơm ngon đậm đà.  Ngày trước anh ăn cho vui, nên không thấy gía trị của miếng ăn bằng lúc này.  Anh cảm thấy tỉnh người như vừa có thêm một liều thuốc bổ.

            Kim gặp anh Công-Thành, một hạ-sĩ quan Biệt-kích, khi anh ra thăm anh em trong toán đang lao động tại căn nhà tranh.  Anh mới ở kiên giam ra, sau nhiều năm nằm trong phòng kỷ luật rồi kiên giam, nên người anh như mang bệnh nặng.  Khoác chiếc áo bành tô mầu vàng tía đã cũ, có lẽ còn lưu lại từ thời Pháp, anh ngồi yên lặng nhìn các bạn lao động.  Khi thấy trại Trưởng đi qua anh đứng dậy, hai tay vẫn ủ trong áo ấm.  Trại Trưởng dừng lại hỏi:

            -"Anh Thành có khoẻ không.  Ra ngoài có dễ chịu hơn không?"

            Anh Thành không trả lời câu hỏi, anh nói:

            -"Xin Ban cho tôi trở lại phòng kỷ luật."

            Trại Trưởng thoáng một chút ngạc nhiên trước lời yêu cầu của anh Thành, hắn hỏi anh:

            -"Anh vừa mới ra ngoài sao lại đòi trở lại phòng kỷ luật."

            Anh Thành điềm tĩnh trả lời:

            -"Tôi không muốn nhìn thấy cảnh cưỡng bách lao động như thế này."

            Vị Trại Trưởng như cố nén cơn giận, vì ở đây chưa ai dám coi thường biện pháp kỷ-luật, nhất là sự việc xẩy ra trước mặt tù nhân khác.  Hắn vẫn điềm đạm:    

            -"Anh ở lâu ngày trong kỷ-luật, cần phải lao động.  Ra ngoài nắng gió mới có lợi cho sức khoẻ của anh."

            Nghe câu trả lời của Trại Trưởng, một người ở địa vị cầm đầu một trại giam nổi danh là trại kỷ-luật số 1 của Bộ, sự tức giận vẫn không lộ ra ngoài.  Hắn qủa là người đáng sợ.  Còn anh Công-Thành vẫn đứng nguyên vị thế, vẫn giọng nói cương quyết:

            -"Nhưng tôi không muốn ra ngoài, xin Ban cho tôi trở lại phòng kỷ-luật."

            Kim ngạc nhiên trước câu trả lời của anh Công-Thành.  Anh đã coi thường kỷ luật tàn bạo của trại này. Anh đứng yên nhìn Trại Trưởng chờ đợi.  Trước khi đi, Trại Trưởng bảo anh với giọng khô khan, không còn dịu dàng như trước:

            -"Chiều anh gặp tôi giải quyết."

            Anh em Biệt-kích bảo Kim là anh Thành vẫn vậy.  Ngay từ ngày bị bắt anh luôn luôn tỏ ra cứng cỏi, coi thường cái chết.  Trong sinh hoạt với anh em trong toán, anh là người điềm đạm trực tính, được cảm tình của nhiều người.  Sau khi bị bắt, anh đã trải qua nhiều năm kỷ-luật và kiên giam.  Khi biết miền Nam bị mất, anh càng cương quyết không chịu khuất phục cộng-sản.

            Công việc tổ đan ít dần, Kim và các bạn Nam-Hà trở về trại mộc khu O.  Anh chưa biết gì về nghề mộc nên công việc khá nặng nề.  Ðội Trưởng giao cho anh rọc gỗ, những phiến gỗ gõ dầy 15 phân dài một thước rưỡi.  Anh phải rọc thành những tấm ván mỏng dầy 1.50 phân theo chiều dài.  Ngày hai buổi anh cong lưng trên tấm ván với chiếc cưa tay nhỏ.  Bây giờ anh mới thấu hiểu thấm thía câu "nhất thổ nhì mộc."  Ở trại Nam-Hà anh đã thưởng thức món thứ nhất trong khu đầm lầy ngập nước, và bây giờ ở chốn Cổng Trời anh đang nếm món thứ hai.

            Chiếc cưa tay lưỡi nhỏ như muốn quăn đi vì gỗ cứng.  Sau khi rọc thành ván anh phải bào nhẵn hai mặt.  Anh luôn bị đội trưởng hối thúc.  Hắn bảo anh lao động không đạt chỉ tiêu, nghỉ nhiều hơn làm.  Hắn nói nhiều lần khiến anh cũng bực mình nên bảo hắn anh làm theo sức, không thể làm hơn được.

            Kim cũng hiểu hắn là một thứ tay sai cho cán bộ, luôn theo rõi hành động của anh em "cải tạo miền Nam".  Hắn chứng tỏ làm được việc, để đổi lấy lòng ưu ái, một cơ may sớm trở về với gia đình, với xã hội bên ngoài.

            Kim cảm sốt đã hai ngày, vẫn không được nghỉ lao động.  Hôm qua lên cơn sốt dữ hơn, anh không nuốt nổi phần ngô xay bữa ăn chiều mặc dù bụng thật đói.  Sáng nay anh không dậy nổi, sức lực như tiêu tan đi đâu mất, anh tới trạm xá từ sáng sớm.  Trại không có bác-sĩ, mà y-sĩ cũng vắng mặt thường xuyên, trạm y-tế giao cho một tù nhân miền Bắc làm y-tá.  Anh được phát 2 viên thuốc cảm, một thứ thuốc duy nhất trị bách bệnh của trại.  Anh không hiểu mức công hiệu của nó như thế nào, vì đó là loại thuốc có tên "thuốc dân tộc".  Hy vọng với cơ thể ốm yếu của anh, nhất là đã không dùng thuốc mạnh từ hồi vào tù, sẽ có hiệu nghiệm khi dùng thuốc.

            Kim ngồi bên lò than đặt nơi đầu hồi sau phòng ngủ.  Anh tựa lưng vào vách tường đắp đất, duỗi thẳng hai chân.  Cơn sốt đêm qua vẫn chưa dứt, anh có cảm giác nóng bên trong mà lạnh ngoài da.  Chân tay rã rời như chỉ còn dính hờ vào cơ thể.

            Trời vẫn ẩm mây, không có lấy một chút nắng.  Mới qua Tết được ít ngày nên tiết trời còn lạnh.  Mưa xuân đã đọng thành đá trên lá cây bắp cải sau mỗi đêm.  Chiếc áo mền mặc ngoài vẫn không làm anh ấm hơn.

            Kim cho thêm nước lạnh vào phần ngô xay còn lại từ chiều hôm qua nấu thành cháo.  Ðội đi lao động đã lâu, anh làm vệ sinh phòng cũng không thấy mặt từ sáng.  Trong phòng chỉ còn Kim với anh Ngoan, một tù hình sự miền Bắc ở trại này đã lâu.  Anh Ngoan mới đau một tuần mà người trông thật tiều tụy, thân hình nhỏ nhắn của anh lúc này chỉ bằng đứa trẻ lên mười.  Anh Ngoan ngồi nhìn xoong cháo bắp để trên bếp lửa sôi đã lâu, bọt nổi lên như muốn trào ra ngoài.  Sắc mặt anh đã đổi sang mầu trắng bạch như không còn chút máu dưới làn da, hai mắt trũng sâu đờ đẫn không hồn.  Anh Ngoan khai bệnh mỗi ngày, nhưng cũng như Kim, chỉ được phát vài viên thuốc cảm dân tộc.  Thức ăn cũng không thay đổi, vẫn là bắp xay với ít miếng rau bắp cải luộc chấm muối.

            Kim nhấc xoong cháo khỏi bếp lửa đặt trước mặt anh Ngoan và hỏi anh có cần gì không.  Vẫn không thấy trả lời.  Người Ngoan run lật bật, bất chợt đổ xuống co quắp.  Kim nhắc anh ngồi dậy tựa vào vách như trước, nhưng người anh Ngoan mềm nhũn, rũ xuống như tầu lá úa, chân tay buông rơi tự nhiên.  Kim nhìn kỹ vào đôi mắt, mắt mở nhưng đã lạc thần.  Anh Ngoan nấc lên từng cơn, chân tay lạnh dần.

            Trong phòng không còn ai để giúp một tay.  Như phản ứng tự nhiên, Kim bế xốc Ngoan lên, thân hình anh nhẹ tênh, chỉ còn da bọc xương.  Kim cố gắng bước nhanh, nhiều lúc người Ngoan như muốn tụt xuống, vuột khỏi tay anh.  Kim phải xốc Ngoan lên nhiều lần trên đường tới trạm xá.  Vừa đi anh vừa gọi tên, như muốn trí óc Ngoan hoạt động, để phần hồn còn lưu lại nơi thân xác gía lạnh, đang tàn lụn dần như ngọn đèn dầu trước gió.

            Tới trạm xá gặp anh Lượng y-tá, Kim chỉ kịp nói "anh Ngoan bị xỉu tại phòng."  Anh Lượng đỡ Ngoan vào căn trong, ngăn bằng tấm vải che nơi cửa ra vào.  Như vừa trút bỏ được gánh nặng, Kim cảm thấy chân tay rã rời, mồ hôi rịn trên trán.  Anh ngồi xuống chiếc giường gỗ nơi phòng ngoài đặt bên cửa ra vào thở dốc.  Bây giờ anh mới thấy mệt, anh đã tận sức vừa đi vừa chạy trên suốt quãng đường từ phòng tới đây.  Kim thấy chóng mặt, phải tựa lưng vào thành giường, cơn mệt làm sức lực anh tiêu tan.

            Khi thấy Lượng, anh vội hỏi:

            -"Anh Ngoan có sao không?"

            -"Quá trễ rồi, dù anh có đưa tới trạm xá sớm hơn cũng thế thôi.  Anh ấy ốm đã lâu mà vẫn phải đi lao động. Bệnh không có gì quan trọng, chỉ suy dinh dưỡng.  Tôi đã xin Ban giám thị cho bồi dưỡng chút sữa bột mà không có,  bệnh trở thành nặng, không thuốc nào chữa được."

            -"Anh Ngoan có cho gia đình hay tới thăm nuôi không?"

            -" Ở hoàn cảnh xã hội bây giờ, gia đình còn thiếu thốn, kiếm ăn không ra, lấy gì thăm nuôi bồi dưỡng…"

            Kim suy nghĩ về câu nói của anh y-tá.  Khẩu phần ăn của tù nhân trong trại đồng đều, một bát ngô xay mỗi bữa với một chén bắp cải luộc chấm muối vào ngày thâu hoạch.  Rau tươi, đậu hạt...tù trồng dành cho cán bộ xử dụng.  Tù nhân gia sức lao động tăng mức hoa mầu thâu hoạch, nhưng vẫn làm nhiều ăn ít. 

            Nhìn lại chính mình, anh chỉ còn cân nặng bằng nửa lúc ra đi, mặc dù thời gian anh ở trong trại chưa thấm gì với những người đã tới đây trước anh.  Liệu anh và các bạn tù miền Nam kéo dài đời sống được bao lâu nữa.  Rồi cũng giống như anh Ngoan, như những người đã đi ra khỏi đây bằng ngả cửa sau, đường lên đồi Bà Then. 

            Kim chắc chắn anh không thể kéo dài đời sống như đám hình sự ở đây.  Chúng phải kiếm ăn thêm trong giờ lao động, bẻ trộm vài trái bắp, lấy cắp mấy củ khoai để dằn bụng khi đói lòng.  Các anh không thể hành động như chúng dù có đói.  Chúng làm lơ cho nhau khi bắt gặp, nhưng không bỏ qua cho các anh.  Có người bắt trộm gà của cán bộ khi đi lao động, bóp chết mang về phòng.  Sợ mọi người phát hiện, đã xé thịt gà ăn sống trong màn vào lúc đêm khuya.  Chúng còn dám vào bếp cán bộ ăn vụng bánh chưng tại chỗ vào dịp Tết, bị đánh đập tàn nhẫn khi cán bộ bắt gặp. 

            Cái đói làm chúng mất lương tri trở thành liều lĩnh bất chấp mọi hình phạt kỷ luật.  Khi vừa mới tới trại, các anh được thưởng thức vị thịt bò, mỗi người được chia một miếng thịt bằng 2 đốt ngón tay.  Đó là “công lao” của một tù hình sự phụ trách chăn bò.  Có lẽ quá thèm thịt nên hắn cắt nhượng chân sau con bò, hy vọng được ăn thịt.  Biết chắc con bò khó sống nổi nên trại cho làm thịt, mọi người được chia phần.  Về phần hắn, phải chấp nhận hình phạt.  Kim nhìn thấy 4 cán bộ mang hắn vào con đường nhỏ giữa khu kỷ luật và phòng giam của anh.  Bốn cán bộ quây hắn vào giữa, thay nhau đấm qua đá lại cho đến khi hắn nằm bất động dưới đất.

            Ðể gia tăng lương thực, trại phát động trồng sắn.  Toàn đội khu O lên khu sườn núi đã phát quang.  Mỗi người được chia vùng lao động, chỉ tiêu buổi sáng là 35 hố, và buổi chiều ngắn giờ hơn nên rút xuống là 25 hố.  Hố phải đào sâu 90 phân, miệng hố vuông mỗi chiều 80 phân.

            Kim lấy khúc xậy làm mức đo, anh dùng xà beng đục sâu theo lằn vẽ ô vuông miệng hố.  Ðất núi qúa cứng, toé lửa ở đầu xà-beng khi đụng đá.  Hai bàn tay anh đã sưng phòng, mọng nước.  Sức khoẻ anh qúa yếu, không theo kịp người khác.  Anh làm không đạt chỉ tiêu, nên bị cho là chây lười lao động.          

            Sau ngày 1 tháng 5, Kim và một số anh em miền Nam được ghi nhận là không thích ứng với nghề mộc, nên chuyển qua đội rau xanh.  Số anh em ở lại đều ái ngại cho những người rời khu O.  Dù sao làm mộc cũng không bị dầm mưa dãi nắng, có cực nhưng cũng không nhọc nhằn bằng gánh nước tưới rau, cuốc vườn làm rẫy trong khi thời tiết qúa khắc nghiệt.

            Về phần Kim, anh nghĩ đi đâu cũng được.  Ðời sống anh đã không còn là của anh, không còn quyền lựa chọn hay từ chối, nhưng anh vẫn tin trong cái dở có cái hay.  Anh  được nhìn khung cảnh trời cao đất rộng, tầm mắt không bị hạn hẹp trong vòng tường cao.

            Ðội rau xanh tập trung toàn hình sự trẻ, tuổi đa phần dưới 30, thường là tội trộm cắp, vì vậy sinh hoạt có phần thoải mái hơn trong khu O.  Ðội trưởng còn trẻ, tính tình dễ dãi, hắn vào tù mới hơn một năm.

            Kim theo đội đi lao động, không phải xếp hàng điểm danh báo cáo như trại Nam-Hà.  Nhưng có một điểm khác biệt với những trại anh đã qua.  Mỗi ngày, sau bữa cơm chiều, vào giờ đóng cửa, mọi người phải xếp hàng trước cửa phòng.  Cán bộ trực trại và số cán bộ võ trang phụ trách đêm đó sẽ tới từng phòng điểm danh.  Tù nhân được kêu tên theo sổ trại có dán hình, từng người vào phòng trong khi đám cán bộ võ trang nhận diện.

            Ðội rau xanh có hơn 40 người, phụ trách diện tích trồng hơn 10 mẫu tây, đa phần trồng bắp vì bắp là thực phẩm chính của trại.  Nhiều mẫu bắp đã có trái, vườn rau muống cao cả gang, cà bát đã trổ hoa, còn bí mướp bây giờ là lúc cần phải chăm bón.

            Vườn bí ngô phải làm cỏ trước khi trồng cây mới.  Anh đã phải ngồi xổm dùng tay nhổ đám cỏ tranh mọc cao ngang đầu gối.  Phần đất anh phải nhổ cỏ nằm trong hai xải tay và dài 50 thước tới.  Hai bàn tay anh đã sưng phồng rớm máu khó lành nhiều ngày sau đó, vì công việc chăm bón cây trồng vẫn tiếp tục.    

            Kim vào toán gánh nước tưới phân.  Phân bón hóa học rất hiếm, chỉ dùng để thúc cho cây mau lớn, trổ hoa sai trái.  Lần đầu tiên trong đời anh làm việc này.  Một ngày không biết bao nhiêu chuyến, anh gánh đôi thùng gánh nước múc đầy phân chuồng trong bể chứa, dòi bọ lúc nhúc trên mặt nước.  Anh phải làm quen với công việc dơ bẩn mà nông dân miền Bắc đang làm.

            Lần đầu chưa quen, bước đi loạng choạng không vững,  đôi thùng đầy nước đong đưa theo mỗi bước chân, chiếc đòn gánh vừa nặng vừa rát bỏng đôi vai.  Sau khi tưới phân bón cho các luống rau, gốc bí, đội anh phải chia nhau nhổ cỏ các luống rau muống vừa tưới phân, giòi bọ còn bám đầy trên lá.  Rau muống vừa cao hơn gang tay, nhờ phân bón nên xanh muốt.  Anh và một tù hình sự phụ trách nhặt cỏ một luống rau dài 20 m.  Thấy cán bộ võ trang đứng xa không để ý, Cẩn nắm một nắm rau muống, lá rau còn dính phân chuồng, hắn vẩy nắm rau cho bớt phần nước phân bám trên lá rau, đưa vào miệng nhai.  Kim thấy giòng nước xanh nhễu ra khỏi mép, anh vội bảo hắn:

            -“ Cháu không nên ăn như vậy.  Rất dễ bị bệnh.”

Cẩn chưa kịp trả lời vì nắm rau còn đầy trong miệng, lát sau hắn nói:

            -“ Bác ạ, chết no còn hơn sống đói…”

            Phân chuồng không đủ cho nhu cầu, trại cho chuyển tới nhiều xe phân trâu bò và đội phải trộn chung với phân người thành chất bón tổng hợp.  Sau giờ lao động, các anh để nguyên cả quần áo nhẩy xuống bể chứa nước tưới rau, hy vọng gột rửa phần nào chất bẩn bám vào.  Mặc dầu biết nước trong bể chứa chẳng sạch gì, vì dây bẩn do các thùng gánh tưới không phải chỉ dùng gánh nước.  Kim đã dùng cả nắm lá cây “ngải-cứu” xoa tay mà không hết mùi hôi.  Tay cầm ổ bánh mì phần ăn buổi trưa, anh nói đùa với bạn, mình đang dùng bữa tại quán “Bình Điền” Phú Lâm, phảng phất mùi “đồng quê”.

            Tiếng súng từ phương Bắc vọng về ngày một dồn dập.  Thân nhân đám hình sự tới thăm cho hay, nhiều trận đánh đang xẩy ra nơi vùng biên giới.  Từ khu đất đội rau xanh phụ trách, một dẫy núi cao chắn tầm mắt của Kim.  Qua dẫy núi, bên kia là biên giới Hoa-Việt, khoảng cách chỉ hơn 10 cây số đường chim bay, không xa với tầm đạn bắn.

            Ông Cục trưởng cục trại giam đến thăm trại thường hơn, quan sát kỹ vòng đai trại, nhất là phần đất hướng về phương Bắc.  Trại cho sửa lại con đường trải đá ngang 4 thước, chạy dài như một dây cung xuyên qua vòng đai trại, theo hướng Nam Bắc.  Khai quang hai bên đường cho rộng thêm, nhất là lấp đầy các hố chân trâu, ổ gà lồi lõm.  Con đường dự trù sẽ xử dụng cho những trận đánh tới.  Những họng súng đại pháo sẽ được kéo về đây, dễ dàng di chuyển trên con đường đá này để đối đầu với nước anh em thù nghịch, đã một thời là hậu phương lớn giúp nhu cầu để miền Bắc tiến chiếm miền Nam.

            Những luống đậu đen đã chuyển mầu, hai người một luống đậu dài 3, 40 m, hai tay hái những tái đậu già bỏ vào gùi mang sau lưng.  Đây là hoa mầu thuộc bếp cán bộ.  Khi lên luống trồng khoai lang, Kim nói chuyện với Linh Mục Trần Công Định:

            -“ Tôi có linh tính mình sắp rời trại này.”

            -“ Sao anh nghĩ thế?”

            -“ Không hiểu lần này thế nào, nhưng trước đây mỗi khi lên luống trồng khoai lang là tôi chuyển trại.”

            Ðội Kim lao động ngày một tích cực, bắp đã thâu hoạch, phơi khô trên sân gạch, đóng vào bao, cất giữ cẩn thận trên bục cao trong nhà kho. 

            Mỗi tối sau khi cửa khóa kín phía ngoài, căn phòng giam nhỏ chỉ chứa được một nửa nhân số đội, đã trở thành một thế giới riêng biệt.  Khung cảnh có chật chội nhưng thân mật hơn trong khu O, mặc dù hai hoàn cảnh tù đầy khác nhau.

            Một buổi tối, Kim và anh Nguyễn-sĩ-Thuyên đang ngồi hút thuốc lào ở sàn nằm trên, chợt Cường đội trưởng tới, hắn cầm một bi-đông nước trà nóng hổi mời mọi người uống.  Trong câu chuyện hắn hỏi Kim:

            -"Các Bác đi cải tạo lâu chưa?"

            -"Cũng gần 3 năm."

            -"Các Bác ở tỉnh nào trong Nam?"

            -"Chúng tôi ở tại thành phố Sài-gon.  Anh đã vào trong Nam chưa?"

            -"Trung đoàn cháu có vào Sai-gon sau ngày giải phóng miền Nam.  Khi giải ngũ cháu vào lần thứ hai để tìm cô cháu."

            -"Cô anh ở nơi nào trong Nam."

     -"Cô cháu ở đường Lê-Lai Sài-gon, gần ga xe lửa.  Cháu ở chơi hơn một tháng mới về Bắc."

            -"Cô anh vào Nam lâu chưa?"

            -"Từ hồi di cư năm 1954.  Sau ngày giải-phóng, bác có ra Bắc lần nào không?"

            -"Tôi cũng muốn xem lại mấy thành phố gần Hà-nội nơi tôi ở trước, nhưng chưa kịp đi thì bị bắt."

            -"Hà-nội so với Sài-gon một trời một vực.  Cô cháu bảo Sài-gon bây giờ trăm phần còn một. Ấy chỉ một phần mà đã khác xa rồi, cháu tiếc không được thấy Sài-gon ngày trước."

            -"Anh đã vào Sài-gon, anh thấy đời sống trong đó thế nào?"

            -"Cháu không nói tới phương tiện vật chất như nhà cửa đường xá…nhưng Sài-gon có một cái mà Hà-nội không bao giờ có được là về tinh thần, nếp sống thật thoải mái.  Mặc dầu không phải là Sài-gon ngày xưa, nhưng sự tự do vẫn còn thể hiện trong sinh hoạt dân chúng.  Muốn làm gì thì làm, không sợ ai nhòm ngó."

            Kim thấy hắn nhận xét khá chính xác, là người ít học nhưng tư tưởng như không bị lệ thuộc vào giáo điều học tập, chỉ nói lại những gì mắt thấy.

            -"Tôi xa ngoài Bắc đã hơn 20 năm, không biết ngoài này thay đổi thế nào, Hà-nội bây giờ ra sao?"

            -"Cháu còn nhỏ tuổi, không được biết tới Hà-nội ngày xưa trước khi di cư, nghe nói cho đến bây giờ sau mấy chục năm, đường xá không mở rộng, nhà cửa nhiều năm qua không tu sửa quét vôi, nên thành phố trông tăm tối."

            -"Anh đã đi xem lăng Bác chưa, tôi chỉ được xem hình chụp."

            -"Cháu chưa vào, chỉ nhìn từ ngoài đường thôi.  Tại Hà-nội chỉ có lăng Bác là công trình mới nhất và vĩ-đại nhất."

            Khi xem tấm hình chụp lăng ông Hồ-chí-Minh, Kim ngạc nhiên tại sao người ta lại đặt một nhà mồ giữa trái tim thành phố.  Một cấu trúc góc cạnh thô cứng, mầu sắc ảm đạm lại chen giữa các công trình có đường nét nghệ thuật dịu dàng, chỉ lộ ra nét không tương xứng, thiếu hoà hợp trong toàn thể.  Người ta nói, khi sống ông Hồ là một cây cổ thụ mà bóng râm của nó làm ớm các cây non dưới gốc, và khi chết bóng ma vẫn còn ám ảnh những thế hệ sau.

            -"Anh làm gì khi giải ngũ trở về?"

            -"Sau khi giải ngũ tập thể, trung đoàn cháu bị xung công lao động trên tuyến đường sắt Thống nhất.  Khi hoàn thành chúng cháu mới được trở về nhà. 

            Không nói bác cũng rõ, ở ngoài này tới tuổi nhập ngũ mà không đi trình diện gia đình gặp rất nhiều phiền phức.  Chưa kể chính quyền địa phương đề ra chiến dịch thi đua nhập ngũ để thống-nhất đất nước.  Cháu đi lính còn trẻ, chưa có nghề gì trong tay.  Khi trở về nhà nước không cho công ăn việc làm, đời sống vô cùng khó khăn.  Cháu làm đủ nghề mà vẫn không đủ sống, vì vậy chúng cháu phải kiếm sống trên tuyến đường sắt."

            -"Tại sao anh phải đi cải tạo?"

            -"Nói ra bác đừng cười, vào đây nhiều khi cháu suy nghĩ về hành động đã làm, nhưng hoàn cảnh của chúng cháu không còn lối thoát nào hơn.  Vì đời sống khó khăn, chúng cháu có cướp giật radio, xách tay cuả cán bộ từ miền Nam về.  Thấy dễ kiếm ăn nhất là đồng tiền không do mồ hôi nước mắt mình làm ra, chúng cháu ăn tiêu xa phí, dần dần tìm cướp các món hàng gía trị hơn.  Lần chót cháu bị bắt tại khu vực gần Vinh."

            Kim hiểu đây là một trở ngại lớn mà miền Bắc phải gánh chịu.  Số người không công ăn việc làm sau các đợt giải ngũ tập thể ngày một gia tăng.  Một mặt vì kinh-tế không phát triển, nguồn nhân lực khả dĩ phục hưng kinh tế lại tận dụng cho nhu cầu quân sự đánh phá miền Nam, mặt khác số bộ đội trẻ khi trở về không chấp nhận cuộc sống ở thôn quê.

            -"Anh định làm gì sau khi được về?"

            -"Cháu có nghĩ tới điểm này, nếu được về cháu sẽ vào Nam, hy vọng đời sống trong đó dễ chịu hơn.  Nhưng thực ra nghĩ chỉ để mà nghĩ, vì chưa biết ngày nào được về.  Bác biết "gấu đen" ở đội kế mình không, nó chỉ ăn trộm vặt mà 6 năm mới được về. Về chưa được một tháng nó lại trở vào đây, vì không công ăn việc làm, đi ăn trộm bị bắt lại.  Miền Bắc có rất nhiều trường hợp này xẩy ra."

            Kim không hiểu đây có phải là một khuyết điểm lớn của xã hội cộng-sản về chính sách "học tập cải tạo."  Hay nhà nước cho những thành phần vào trại là những phế nhân.  Hầu hết các trại mà anh đã qua từ Nam ra Bắc, mang danh là học tập cải tạo nhưng chỉ nhai lại mấy bản nội quy, không có lấy một chút sinh hoạt nào gọi là học tập, giáo dục.  Hơn nữa số tù hình sự còn quá trẻ, với các tội phạm không mấy quan trọng, mà nhiều người có nhận xét, là tới 50% số gia đình tại Hà-nội có con em vào trại cải tạo vì can tội hình sự.  Thành phần phạm pháp có cả đám con ông cháu cha giầu có và thế lực.

            Nhà nước không có chính sách tổ chức các lớp học huấn nghệ hay văn hoá tại các trại, hầu giúp cho tù nhân khi trở về có phương tiện sống.  Hậu quả của "chính sách thiếu giáo dục cải tạo" này, là tù nhân sau khi được tha không lâu lại trở lại nhà tù vì thiếu công ăn việc làm. 

            Một khuyết điểm nữa, hay đó cũng nằm trong chính sách "tóm dạ dầy", là nhu cầu vật chất tối thiểu không được đáp ứng, tù nhân luôn luôn đối diện với cái đói trước mắt, do đó khó tránh được hành động trộm cắp ngay tại trong trại.  Vì vậy, chính sách "học tập cải tạo" đã không thể hiện được tính chất như tên gọi, mà trái lại, các trại cải tạo đã là nơi đào tạo "tay nghề bất lương" vững chắc hơn.

            Ðây không phải là lần đầu tiên anh nghe thấy những chuyện về chính sách "mang con bỏ chợ" của nhà nước.  Khi mở rộng trận chiến quấy phá miền nam, cùng lúc tăng cường lực lượng tại Lào và Mên, trừ thành phần "con ông cháu cha" có gốc Ðảng đặc cách miễn dịch, còn hầu hết thanh niên nam nữ miền Bắc phải nhập ngũ.  Và ngay sau khi chiếm trọn miền Nam, khi mặt trận Campuchia còn nóng bỏng, thanh thiếu niên miền Nam đã phải thi hành "nghiã vụ" để trám vào quân số hao hụt tại đây, như chuyện cô  em vợ anh… 

 

© Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.
 © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam  
(Trich Hồi Ký : Cuộc Chiến Cgiả hưa Tàn Của Tác Giả Trần Nhật Kim  gửi đến BBT)
  Đọc các bài liên quan của cùng tác  tại đây.

                                                                                                                            

Chú thích

                                      Image result for Ban do Trại Quyết Tiến (Cổng Trời) thuoc tinh ha giang

Trại Quyết Tiến (Cổng Trời)                            

Trại Quyết Tiến nằm trong địa phận xã Quyết Tiến, một xã thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.

Xã Quyết Tiến:

Bắc giáp xã Tùng Vải (thị trấn Tam Sơn).  Đông giáp xã Quản Bạ, xã Đông Hà và xã Thuận Hòa (Vị Xuyên).  Nam giáp xã Thuận Hòa (Vị Xuyên) và Minh Tân.  Tây giáp xã Minh Tân.  Diện tích:  60Km2.  

Tọa độ:    23o 00’ 16” B   -  

              104o 58’  01” Đ                       

Huyện Quản Bạ:

Nằm về phía Bắc tỉnh Hà Giang.  Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (TQ).  Phía Nam giáp Vị Xuyên.  Phía Đông giáp huyện Yên Minh.    Diện tích: 550Km2.

Tỉnh Hà Giang:

 Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng.  Phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai.  Phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang.  Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (TQ).                          

Tọa độ: 22o 10’ đến 23o 30’ vĩ độ Bắc và 104o 20’ đến 105o 34’ kinh độ Đông.

Diện tích toàn tỉnh: 7.884, 37Km2.  Với các quốc lộ chính: QL 2,  QL 34, QL 4C, QL 279. Với 2  sông: sông Lô và sông Gầm.  Hà Giang là

tỉnh miền núi, có ngọn Tây Côn Lĩnh cao 2.418m.  Độ cao trung bình khoảng 800m so với mặt nước biển.

                                Image result for Ban do Trại Quyết Tiến (Cổng Trời) thuoc tinh ha giang

                                                       Sơ đồ trại Quyết Tiến                                                                                                                                  (Xin đón nhận sự góp ý để hoàn chỉnh sơ đồ trại Quyết Tiến)

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT