DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Xã hội người Việt thu nhỏ ở ngoài nước_Lâm Văn Bé .

E-mail Print

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     Image result for Chữ Hieu Viet Nam

Vấn đề chữ hiếu

Nơi tôi làm việc là một thư viện  của thành phố. Có dịp gặp độc giả đồng hương, đa số là người cùng thế hệ, tôi được nghe kể chuyên vui lẫn chuyện buồn, chuyện mình, chuyện người. Hai mươi năm đầu, các ông bà khoe con học các ngành sĩ, ngành sư, sau đó mươi năm là chuyện đám cưới to, đám cưới có lọng. Những năm sau nầy khi tôi gần hưu trí, các ông bà  kể lể bịnh trạng từ cao máu đến nhức xương và đặc biệt thường xuyên than trách con cháu bất hiếu. Những chuyện ngộ nghĩnh, nhiều chuyện thương tâm và nếu phải ghi lại, tôi có cả một kho tàng hỉ nộ ái ố.

Tôi thường bất lực khi phải làm trọng tài hay góp một ý kiến, tôi chỉ biết đó là nỗi xâu xé của hai hệ thống giá trị Đông-Tây khó có thể gặp nhau. Đối với luân lý hay khế ước trong xã hội Á Đông, cha mẹ phải nuôi dưỡng con cái khi thơ ấu và ngược lại, con cái phải phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già. Đó là một chuỗi quyền lợi và bổn phận liên tục trong một xã hội nông nghiệp  khi chế độ đại gia đình gồm nhiều thế hệ sống chung với nhau dưới quyền của một tộc trưởng, phù hợp với tổ chức kinh tế và tư tưởng Khổng Mạnh. Đem cái cơ cấu gia đình nầy áp dụng cứng nhắt vào xã hội và văn hóa Âu-Mỹ, lòng hiếu thảo là lý do của bao thảm trạng gia đình người Việt.

Phải hiểu rằng con chúng ta đâu còn sống chung với chúng ta để có những ràng buộc chặt chẽ về tình cảm và kinh tế giống như thế hệ chúng ta đối với ông bà cha mẹ chúng ta trước đây. Kể từ thế hệ con cháu chúng ta, bổn phận chỉ có một chiều, nuôi con là bổn phận của cha mẹ theo luật pháp, và hệ thống kinh tế văn hóa mà chúng ta đang sống không cho phép chúng ta cùng một lúc làm chủ kinh tế và tình cảm cho hai gia đình, gia đình của chúng ta và con của chúng ta. Cái thảm trạng không phải là con chúng ta lạnh lùng thiếu bổn phận với chúng ta mà đôi khi chúng ta kết tội chúng bất hiếu, cũng chẳng phải là lỗi của chúng ta đòi hỏi tình cảm và tiền bạc mà đôi khi chúng ta bị con cháu trách móc chúng ta lợi dụng, hay tệ hại hơn xem chúng ta nuôi con như nuôi gà chờ lấy trứng. Cái thảm trạng là chúng ta và con chúng ta sống trong cùng một cảnh đổi đời, đổi hệ thống giá trị. Đến thế hệ cháu của chúng ta, chắc hẳn không còn có cái thảm trạng chữ hiếu.

Tôi nghe và chứng kiến được những hoàn cảnh trái ngang, đại loại như đứa con trai làm lương tối thiểu chỉ vì chữ hiếu phải cung phụng cho cha mẹ về Việt Nam thường xuyên để gia đình đứa con phải tan nát, hay cảnh quan tài của người cha nằm lạnh lẽo trong nhà quàn với mấy vòng hoa và nén hương đã tắt khi con cháu viện dẫn phải đi cày để không bị mất job. Dĩ nhiên đó là những trường hợp cùng cực, nhưng chuyện sứt mẻ vì chữ hiếu bắt nguồn từ nhiều lý do và biểu hiện dưới nhiều trang thái  khác biệt.

Chuyện gởi tiền về Việt Nam giúp thân nhân là một trong những lý do khiến vợ chồng lục đục, anh chị em bất hòa. Khi người tị nạn đến đất mới, tuy phải lao động gian khổ mới có được chút ít tài sản, nhưng họ lại phải đối diện với nhiều nhu cầu cấp thiết trên đất mới. Mặc dù vậy, so với thân nhân đang sống bên kia trời  dưới chế độ bạo ngược, thân phận họ còn bi đát hơn. Việc giúp đỡ thân nhân để chia xẻ phần nào nỗi bất hạnh là bổn phận tất yếu theo đạo làm người. Nhưng người tị nạn đâu thể nào nuôi người thân  ở Việt Nam suốt đời bởi lẽ người Việt ta có câu : «Giúp ngặt chớ không giúp nghèo». Việc gởi tiền về VN triền miên đã tạo ra một lớp người lười biếng sống chùm gởi trông chờ tiền từ ngoại quốc gởi về. Từ thương yêu đùm bọc, sự lạm dụng, nhiều khi bất chánh của một số thân nhân, ảnh hưởng bởi bản chất gian xảo lường gạt của chế độ cộng sản, đã đưa đến tình trạng thù ghét tan vở đại gia đình. Việc gởi tiền về Việt Nam còn là một tai hại khổng lồ bởi cộng sản đã nhờ hàng tỉ mỹ kim của khúc ruột ngàn dặm trên thế giới gởi về để có ngoại tệ củng cố chế độ độc tài tham nhũng. Năm 2015, không kể số tiền gởi «chui» hay khoảng nửa triệu người mang tiền về Việt Nam tiêu xài mỗi năm, chỉ kể số tiền gởi chánh thức, theo World Bank thì chỉ năm 2015, người Việt đã gởi về VN 13 tỉ USD trong đó ở Mỹ gởi 7,4 tỉ (57%), Úc : 1,1 tỉ, Canada : 923 triệu, Đức :705 triệu, Pháp : 614 triệu…và tại các quốc gia có xuất khẩu lao động : Hàn Quốc : 560 triệu, Tiệp khắc : 230 triệu, Nhựt : 180 triệu, Mã Lai : 120 triệu…Số tiển nầy tương đương với 6% GDP và một phần số ngoại tệ nầy dùng để trả tiền lời các khoản nợ của thế giới. (World Bank. Migration  Remittances data. Vietnam. Updated as of October, 2016).        

Cái ngang trái của chữ hiếu đã được dựng thành một phim rất hay được xướng danh giải Oscar. Cuốn phim tựa là A daughter from Da Nang kể chuyện một người con gái lai Mỹ, rời Đà Nẳng năm 7 tuổi trong Operation Babylift tháng 4, năm 1975. Sau 22 năm, năm 1997, cô Mỹ lai Heidi trở về Đà Nẳng thăm bà mẹ là Mai thị Kim. Cảnh trùng phùng mẹ con vô cùng cảm động, nhưng chỉ vài ngày sau, cảnh đoàn tụ trở thành cảnh bẽ bàng. Mẹ Heidi muốn Heidi rước qua Mỹ để bỏ đi những ngày tháng gian khổ, ông anh trai cùng mẹ khác cha cho biết bây giờ là lúc Heidi phải lo cho cả đại gia đình. Heidi từ chối bởi lẽ cô cảm thấy không trách nhiệm đến cái nghèo khó của gia đình mẹ. Đành rằng cô khá giả hơn, nhưng cô phải đối diện với những chi tiêu bắt buộc cho cô, cho hai con và cho chồng cô. Dĩ nhiên, nỗi thất vọng và đau đớn của bà mẹ nghèo VN trước sự từ chối lạnh lùng của đứa con mà xã hội Việt Nam kết tội là bất hiếu làm người xem thương cảm. Heidi trở về Mỹ trong nỗi bàng hoàng, vui mừng gặp lại chồng con và không còn muốn nhớ gì đến cái bi kịch mà cô vừa trải qua ở Đà Nẳng. Cuốn phim  phơi bày một thảm trạng về sự xung đột giữa hai nền văn hóa Đông-Tây về chữ hiếu, đưa tuổi già và tuổi trẻ vào cơn lốc.

Đó là chuyện phim ảnh, tôi xin kể một chuyện thật ngoài đời, nơi tôi sinh sống hơn 40 năm qua. Cách đây khá lâu, tôi tình cờ gặp lại bà cụ ở khu Barclay (Montréal) mà những năm đầu tiên trên xứ người, ai cũng có dịp đến nhà bà để đặt mua bánh cam. Sau gần 30 năm, lưng bà đã còng nhiều, nhưng bà vẫn tiếp tục đem bỏ mối bánh cam của bà trong các bọc nylon cho các tiệm thực phẩm Á Đông.

Một người quen cũ hỏi bà :

- Con gái cụ bây giờ làm bác sĩ mà cụ vẫn làm bánh cam sao?

- Ơ nầy, con tôi làm bác sĩ chứ có phải tôi làm bác sĩ đâu ! Nó có cuộc sống của nó, tôi có cuộc sống của tôi.

Nghe thấy như vậy, tôi nghĩ là bà hạnh phúc, nhưng hình như có chút niềm cay đắng bởi người đời hay nói   Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra  hay là  Trẻ cậy cha, già cậy con. Bà là hiện thân của tình mẫu tữ chơn chất, của nước mắt chảy xuôi, của Tình mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào. Cùng một cảnh ngộ, bà Mai Thị Kim ở Đà Nẳng đau khổ vì nghĩ con bất hiếu không giúp đỡ mẹ và mất tình mẫu tử, bà cụ bán bánh cam ở Montréal,  tuy sống một tuổi già nghèo khó nhưng hạnh phúc vì bà biết con bà hạnh phúc khi bà không quấy rầy con. Thì ra, vấn đề chỉ là quan niệm khác nhau về chữ hiếu.

Vấn đề quyền uy của cha mẹ

Nếu tuổi già bị giảm mất giá trị trong gia đình Tây Phương là chuyện thường tình, nhưng hiện tượng người già bị mất uy quyền, mất sự kính trọng trong gia đình Việt Nam là một xúc phạm lớn, điều mà các bậc cha mẹ VN không dễ dàng chấp nhận. Đây là một góc cạnh khác của sự xung đột già trẻ, thảm trạng của gia đình VN.

Pearl Buck khi xưa viết quyển tiểu thuyết The mother kể chuyện một bà mẹ Trung Quốc nhai cơm đút cho con. Khi đứa con du học trở thành bác sĩ, cưới vợ Mỹ trở về nước tỏ ra ghê tởm mẹ, xem mẹ thiếu vệ sinh. Chuyện một người di tản làm thợ sửa nhà ngày đêm để có đủ tiền gởi cho con học trường Brébeuf, một trường tư thục nổi tiếng. Khi có chuyện xung đột, đứa con mạt sát cha là không lương thiện, trốn thuế vì người cha đã làm chui. Có gì đau đớn hơn nỗi hi sinh nhục nhằn của cha mẹ biến thành một sai trái, tội lỗi. Tuổi trẻ VN đã vong ân, vong bản hay tuổi già VN bảo thủ, độc tài?

Con người, dù cho già trẻ, đen đỏ đều có khối óc để suy nghĩ và trái tim để thương yêu. Phải hiểu rằng những trạng huống kể trên là đoạn kết của những giằng co, xô xát dữ dội mà cả hai phía già trẻ đều vướng mắt vì sự khác biệt trong nhận thức và nhân sinh quan.

Có những cha mẹ săn sóc con cái khi chúng đã trưởng thành như thuở chúng còn trẻ thơ. Họ áp đặt hành động và suy nghĩ của họ trên con cái với một số giáo điều mà họ quên rằng mớ kiến thức của họ chẳng ứng dụng gì được trong một nền văn hóa kỹ thuật khác với điều họ đã học từ trường học đến trường đời. Nhân danh tình thương, họ sợ xa con họ, sợ kẻ khác chia xẻ tình thương và quyền lợi với con của họ và có khi không ngần ngại dùng mưu chước để thỏa mãn lòng ích kỷ của họ.

Có những bậc cha mẹ, mặc dù sống với văn hóa Tây Phương nhưng vẫn còn khư khư sử dụng uy quyền với con cháu như thời Nho giáo thịnh trị, tạo nhiều cảnh bất hòa đau thương. Một câu chuyên được nghe kể lại :

- Hôm nay ngày rằm con chở mẹ lên chùa lạy Phật.

- Không được, con phải chở cháu Susan đi party sinh nhựt bạn nó. Mẹ đi bus đi.

- Mẹ già rồi, chưn cẳng yếu, con biểu con Susan đi bus đi.

- Không được, con đã hứa với nó rồi. Vả lại con phải chờ chở nó về.

- Tao không ngờ mầy bất hiếu đến như vậy, mầy coi con mầy trọng hơn tao.

- Sao bà nội hỗn quá vậy, bà nội dám mắng ba con. Susan sân si.

Bị «xốc» vì chữ hỗn, bà nội tát tai đứa cháu. Như phản xạ, người con trai vung tay lên, nhưng kịp thời khựng lại, đẩy bà mẹ ngã vào tường. Ba người cùng khóc, nhưng mỗi tiếng khóc mang một ý nghĩa khác nhau. Bà mẹ tủi thân, nuôi con khôn lớn, bây giờ nó bất hiếu binh con muốn đánh mình, đứa cháu gái tức giận vì vô cớ bị bà nội tát tai, một tội phạm đối với xã hội Tây Phương, và người con trai bất lực trước tình cảnh và tình cảm đối với mẹ và con. Gia đình tan nát sau đó khi có người thứ tư xuất hiện: đó là bà mẹ của Susan vốn chẳng ưa gì bà mẹ chồng. Người con trai mất con, vợ và mẹ.

Có những đứa con đã thành danh, hoặc nhờ sự bảo bọc thương yêu của cha mẹ, hoặc do sự cố gắng của chính họ, nhưng lại chóng quên nguồn gốc, đạo lý. Họ quên rằng nền văn hóa nào cũng đề cao trật tự, nhân ái, thành tín và tương quan. Họ bất kính với cha mẹ, lánh xa cha mẹ, thậm chí có kẻ sợ sự hàn vi của cha mẹ thiệt hại đến vị trí của họ trong xã hội. Ông Nguyễn Hiến Lê, tuy ông không sống ở hải ngoại nhưng có nhiều bạn ở nước ngoài về kể cho ông nghe và ông đã ghi lại :

« Người Âu Mỹ lớn rồi thì ra riêng, có khi cả tháng, cả năm không lại thăm cha mẹ một lần. Cha mẹ già thì đưa vào nhà dưỡng lão. Một ông già nọ bước chân vào nhà dưỡng lão, quay lại nhìn đứa con trai nghe nó dặn khẻ : Ba đừng nói hở tên gia đình mình ra nhé. Mỗi vụ hè có hàng ngàn người ở Paris đem cha mẹ lại gởi một bịnh viện rồi sau hè, họ «quên» không tới đón về, bỏ mặc cho chính phủ muốn làm gì thì làm. Mấy ông bạn tôi ở Pháp đều phàn nàn về sự bạc bẽo của con cái, nhất là những con trai có vợ ngoại quốc. Mười đứa thì có đến chin đứa không nuôi cha mẹ. Tôi mới nghe nói vợ của một học giả quá cố Việt Nam rất có tiếng tăm, chỉ có mỗi một con gái có chồng Pháp vào hạng khá giả, mà bị con gái hất hủi, cấm không cho vô nhà chỉ vì làm phiền vợ chồng chúng nó thôi, và bà cụ đã gần 80 tuổi đành phải lại ở nhờ một người cháu, không biết đựợc bao lâu rồi cũng sẽ bị cháu đuổi» ( Nguyễn Hiến Lê. Hồi ký tập 2, tr. 167).

Trẻ con phải hiểu rằng cha mẹ họ đã hi sinh cả sự sống để đem lại sự sống cho họ. Trong bất bình xung đột, họ phải cố gắng thấu hiểu nỗi thống khổ của cha mẹ họ trên quê hương và ngoài quê hương để cùng cha mẹ hóa giải những dị biệt trong tương kính. Nhưng nghĩ cho cùng, sự xung đột giữa cha mẹ và con cái bắt nguồn không phải chỉ từ quan niệm uy quyền của cha mẹ nhân danh đạo lý cổ truyền hay sự vong ân của trẻ con nhân danh tinh thần độc lập của văn hóa Âu Mỹ  mà do tinh thần ích kỷ. Dung hòa suy tư và hành động theo phong hóa người Việt và văn hóa xứ định cư là điều cần thiết để gia đạo bình an và dân tộc Việt Nam trường tồn. Trẻ cũng như già.

Vấn đề cộng đồng người Việt

Những câu chuyện vừa kể đã lần lần phôi pha theo năm tháng, tuy vẫn còn hiện hữu trong  cộng đồng người  Việt, nhưng với một mực độ ít sâu sắc hơn. Người tị nạn đã phải trải qua một cuộc đổi đời khốc liệt mà văn hóa và hoàn cảnh xã hội khác biệt đã nẩy sinh những xung đột về giá trị và cung cách ứng xử. Nhưng đã 42 năm rồi, người ra đi năm 1975 vào tuổi trung niên (trên 40) đa số nay cũng đã lần lượt ra đi và người còn ở lại trên trần thế cũng  đang sống những ngày cuối trong tuổi già khắc khoải. Sự giao thoa với nền văn hóa mới khiến các thế hệ trẻ, kể từ thế hệ 1 rưởi, ít vướng mắt hơn  so với thế hệ cha ông. Tuy nhiên, một số vấn đề khác lại xuất hiện  khi Mỹ, quốc gia định cư của hơn một triệu người Việt tị nạn (1 122 800 người năm 2000) thiết lập bang giao với  Việt Cộng, quốc gia thù nghịch của Mỹ và người tị nạn, và từ đó bộ mặt của các cộng đồng người Việt hải ngoại mang một sắc thái mới vượt ra khỏi những xung khắc gia đình mà còn liên quan đến cộng đồng cư dân người Việt.

Nhìn lại lịch sử các đợt di dân hải ngoại của người Việt gồm những người thuộc diện di tản, thuyền nhân và HO, không kể một số theo diện đoàn tụ gia đình, tất cả đều là các công dân của chế độ Việt Nam  Cộng Hòa, là nạn nhân của cộng sản và vẫn mang theo quyết tâm chống cộng sản khi ra khỏi xứ. Đến đất mới, họ đã cực lực tái xây dựng đời sống trong nhục nhằn nhưng trong danh dự, đạt được sự nể trọng của các quốc gia định cư. Tuy nhiên, không bao lâu sau khi cộng sản mở cửa, một số người tị nạn trở cờ mất lương tri quên đi những ngày tháng bị cộng sản hành hạ lăng nhục, đã đi đi về về VN  để du hí, để làm ăn với Việt Cộng, Sự kiện nầy gia tăng thêm sự lấn cấn trong gia đình vì quan điểm chính trị, làm giảm đi nhuệ khí chống Cộng, nhất là sau khi Nghị Quyết 36 của cộng sản ra đời nhằm khuynh đảo cộng đồng người Việt tị nạn.

Mặt khác, từ năm 1990, khi cộng sản gia tăng chánh sách xuất khẩu lao động, họ đã đưa ra ngoài nước mỗi năm khoảng 100 000 người Việt nghèo khổ để làm các ngành nghề lao động mà dân bản xứ từ chối, không kể những người nhập cư lậu qua những công ty buôn người, những người đi với visa du lịch rồi ở lại sau khi hết hạn. Bởi nghèo khó, ít học, nhưng phải đóng tiền lệ phí cao cho các công ty quốc doanh lo việc xuất khẩu, nhứt là đã hấp thụ thứ văn hóa gian manh của cộng sản, đa số  người xuất khẩu lao động, kể cả các cán bộ cao cấp, khi ra nước ngoài (dĩ nhiên cả trong nước) họ không từ chối bất kỳ hành động phạm pháp nào, miễn sao có lợi. Những hành động như buôn lậu, làm chui trốn thuế, trồng cần sa, trộm cướp….khiến cho cộng đồng người Việt chân chính vốn được người bản xứ mến phục phải bị vạ lây bởi dưới mắt người bản xứ, vốn ít nhiều có óc kỳ thị, họ không phân biệt đâu là Vietnamese và Vietnamese cannabis farmer. Còn gì xấu hổ hơn khi tại một số cửa hàng treo bảng : No dog, No Vietnamese.

Ngoài ra, từ những năm gần đây, xuất hiện tại các thành phố một số nhà giàu mới, gốc là thân nhân của các đảng viên tham nhũng trong nước, lợi dụng mua nhà cửa cho con cháu ăn ở du học, di cư kinh tế dưới dang đầu tư, họ đem tiền ăn cướp công khai và lén lút từ trong nước ra ngoại quốc để mua địa ốc sang trọng và các cơ sở thương mại. Theo ước tính của Hiệp Hội các Nhà Môi Giới Bất Động Sản Hoa Kỳ (National Association of Realtors) thì vào tài khóa 2016-2017, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia mua địa ốc nhiều  nhất ở Hoa Kỳ với khoảng 5700  đơn vị (Nguồn : DKN.TV/ Người Việt mua bao nhiêu nhà tại Mỹ). Quen lối ăn nói kịch cởm, cung cách hống hách, họ là hiện thân những tên trọc phú xuất khẩu của nước Việt Nam hiện đại. Tổng Thống Mỹ Donald Trump và Thủ Tướng Canada Justin Trudeau có người thương kẻ ghét, nhưng nếu hai ông ra tay trục xuất và đóng băng tài sản của những tên Việt cộng lớn nhỏ loại nầy theo đạo luật Magnisky thì chắc chắn cộng đồng người Việt tị nạn vỗ tay và bái phục.

Như vậy, cộng đồng người Việt hôm nay có hai dạng người: cũ và mới, chống cộng và theo cộng, có học và vô học, lương thiện và bất lương. Đa số những người cộng sản ra nước ngoài đều thuộc loại trái thúi. Giữa hai dạng người Việt cũ và mới nầy có một bức tường vô hình ngăn cách, mạnh ai nấy sống nhưng với Nghị Quyết 36, tại nhiều nơi, số người Việt mới đến thân cộng hay theo cộng tìm cách quấy phá cộng đồng tị nạn với sự hỗ trợ của những tên tị nạn trở cờ.

Vấn đề Cộng Đồng Người Việt

Cộng Đồng ở đây viết với chữ hoa ý nói đến các tổ chức, cơ sở. Ngay từ đầu năm 1976, những Cộng Đồng Người Việt đã bắt đầu được thành hình và cái Tết đầu tiên tiên của người Việt trên đất mới đã được tổ chức bởi các Cộng Đồng . Đó là khởi điểm của một đời sống tập thể mà người Việt cần có một mái nhà chung. Tại mỗi địa phương có đông đảo người Việt, họ tập hợp lại thành một tổ chức, tên gọi có thể khác nhau, mục tiêu văn hóa, xã hội, chính trị có thể đa dạng khác nhau, nhưng mục tiêu tối hậu của các tổ chức nầy đều giống nhau : tiếp tục chống chế độ Cộng Sản trong nước. Để tạo sức mạnh chính trị, tại những quốc gia đông người Việt (Mỹ, Canada, Úc, Pháp…), các Cộng Đồng địa phương liên kết lại thành các Liên Hội. Các Cộng Đồng Người Việt đã trải qua giai đoạn «hoàng kim » trong hai thập niên 1980-90 mặc dù thiếu thốn phương tiện tài lực và nhân lực, nhưng với tấm lòng kiên quyết chống lại bạo quyền trong nước, các người lãnh đạo Cộng Đồng tại nhiều nơi đã thành công trong sự phối hợp hay huy động tập thể người Việt tị nạn trong công cuộc tranh đấu đòi hỏi nhân quyền trong nước và vinh danh Cờ Vàng ngoài nước.

Đối với Cộng Sản VN, các Cộng Đồng Người Việt là một lực lượng chính trị tai hại rất lớn cho uy tín của họ trên phương diện ngoại giao quốc tế mà họ tìm mọi cách để  đánh phá người và tổ chức. Cho mãi đến gần đây, trang mạng Tạp Chí Cộng Sản còn viết : «…Tính đến nay có hơn 100 tổ chức chính trị phản động người Việt ở hải ngoại vẫn nuôi chí phục thù nhằm thực hiện ý đồ đen tối phục quốc. Cầm đầu các hội, nhóm trên phần lớn là những phần tử cực đoan, từng là ngụy quân, ngụy quyền cũ, có nhiều nợ máu với cách mạng. Chúng đã, đang móc nối chặt chẽ với nhau và với bọn phản động trong nước để hoạt động chống phá cách mạng nước ta…» (Phát huy vai trò của Cộng Đồng (http://tapchicongsan.org.vn  28/05/2013)

Mặc dù đôi lúc đôi nơi, một vài Cộng Đồng, hội đoàn có xung khắc, chia rẽ vì ích kỷ, tự cao, vị lợi, nhưng nếu  nhìn kỹ ra, đa số những phần tử nầy đã sống với Việt cộng, tiêm nhiểm bản chất lưu manh của Việt cộng. Vì  đã ăn bả của Việt cộng, họ trà trộn vào Cộng Đồng để quấy phá Cộng Đồng, hội đoàn người Việt tị nạn theo Nghị Quyết 36.

Tính theo thời gian, Công Đồng Người Việt tị nạn đã trải qua các giai đoạn thơ ấu, thiếu niên và trung niên của một đời người. Hôm nay, đa số các  Cộng Đồng đang bước vào tuổi lão niên. Các chuyên gia về lão học thường phân chia người già  theo 3 cấp bậc : tuổi thứ ba  từ  65 đến 74 tuổi, còn có sức khỏe tốt, còn sinh hoạt được bán thời; tuổi thứ tư  từ 75 đến 84 thì ốm yếu, bịnh tật xuất hiện và trầm trọng chờ chết ở tuổi thứ năm.

Nhìn qua lăng kính một người già như vậy, tùy theo địa phương, các Cộng Đồng Người Việt đang ở cấp tuổi thứ ba hay thứ tư, nhung dù cho ở cấp bậc nào, các ông bà chớ có tin tưởng gì  đám con cháu tiếp tay trong công cuộc chống Cộng. Nếu có thương ông bà lắm, chúng nó rủ nhau quấn khăn quàng cổ, đứa đờn, đứa hát, đứa nói, trửng giỡn cho mọi người vỗ tay rồi dẹp cờ xí, vẫy tay chào ông bà. Các ông bà và Cộng Đồng cố gắng sống thêm 10-15 năm nữa, hi vọng thấy được bọn cộng nô đấm đá nhau tàn lụi để mình thảnh thơi ra đi, rửa được niềm bi phẩn. Khi đó, các thế hệ kế thừa có lòng yêu quê hương  sẽ cùng với đồng bào trong nước cùng hợp lực xây dựng lại một nước Việt Nam từ đầu, trên căn bản đạo lý của dân tộc Việt và triết lý của nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa : dân tộc, nhân bản, khai phóng và khoa học./.

 

Lâm Văn Bé

12/2017

   © Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.

      © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam

Đọc các bài liên quan của cùng tác giả tại đây.  

(Trích : Giá Tự Do : tị nạn và lập cư của người Việt trên thế giới / Lâm Vĩnh Bình, Ấn bản mới, bổ túc và tu chính. 426 tr.

ISBN-13: 978-1545241165

Bản dịch : The Price of Freedom: Exodus and Diaspora of Vietnamese People / Lâm Vĩnh Thế. 482p.  ISBN-13: 978-1545241295

Cả hai quyển do Người Việt Books (California) xuất bản tháng 6/2017. Bán online tại Người Việt Shop và amazon.

 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT