DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Việt Nam với lịch sử bi thương?_Hà Huy Toàn.

E-mail Print

Tôi viết tiểu luận này để chào mừng Đảng Cộng sản Việt nam bước sang tuổi 88!

I. Thời kỳ Đầu tiên

Nếu tính từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có hàng vạn năm trước Công nguyên, còn nếu tính từ khi hình thành cơ cấu nhà nước thì mới khoảng từ năm 2879 trước Công nguyên, tức là rất non trẻ so với nhiều quốc gia khác.

Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các di tích chứng minh loài người đã từng sống tại Việt nam từ Thời kỳ Đồ đá Cũ thuộc về nền Văn hoá Tràng an, Ngườm, Sơn vi, Soi nhu. Vào Thời kỳ Đồ đá Mới, nền Văn hoá Hoà bình – Bắc sơn vốn xuất hiện tại vùng này đã phát triển về nông nghiệp: chăn nuôitrồng trọt, đặc biệt kỹ thuật trồng lúa nước. Những người Việt tiền sử trên vùng châu thổ Sông Hồng – Văn minh Sông Hồng và Sông Mã – đã biết khai hoang đất đai để trồng trọt tạo ra một hệ thống đê điều để chế ngự lũ lụt từ các con sông lớn, họ cũng biết đào kênh phục vụ việc trồng lúa tạo nên nền văn minh lúa nước cùng với văn hoá làng xã.

Đến Thời kỳ Đồ Sắt vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên đã xuất hiện nhà nước đầu tiên trên miền Bắc Việt nam ngày nay. Theo sử sách, đó là Nhà nước Văn lang với các Vua Hùng. Nhà nước Văn lang được ghi nhận là quốc gia đầu tiên có tổ chức cho người Việt nam, bắt đầu với truyền thuyết về Con Rồng – Cháu Tiên mà người Việt nam tự hào truyền miệng từ đời này qua đời khác. Nói chung, dân tộc nào cũng có Huyền sử, Việt nam có Huyền sử về Lạc Long QuânÂu Cơ cùng với các Vua Hùng.

Cũng như mọi nhà nước đầu tiên xuất hiện ở những nơi khác trên địa cầu, Nhà nước Văn lang được tổ chức theo thể chế chuyên chế, tức là chế độ quân chủ. Ở trung ương có vua Hùng đứng đầu được giúp việc bởi các Lạc hầu. Ở địa phương được phân chia thành 15 bộ (là 15 bộ lạc trên vùng đồng bằng Bắc bộ trước khi xuất hiện nhà nước này) được cai quản bởi các Lạc tướng. Dưới bộ có các làng được cai quản bởi các Bồ chính.

Đến thế kỷ III trước Công nguyên, Thục Phán vốn làm thủ lĩnh cho bộ tộc Âu Việt – một trong những bộ tộc thuộc về Bách Việt ở phía Bắc Văn lang, đã đánh bại Vua Hùng thứ 18 để lập nên Nhà nước Âu Lạc. Đó là một Nhà nước Liên minh giữa Âu Việt với Lạc Việt. Nhà nước này đã đánh bại cuộc xâm lược từ Nhà Tần ở nước Tàu. Nhà nước Âu Lạc định đô tại Cổ loa thuộc về Huyện Đông anh, Hà nội ngày nay. Thục Phán xưng làm An Dương Vương.

Nước Âu Lạc bị thôn tính vào năm 208 trước Công nguyên (hoặc năm 179 trước Công nguyên theo các sách lịch sử đang được lưu hành tại Việt nam hiện nay?) bởi Triệu Đà (một viên tướng cũ từ nhà Tần). Sự kiện này được đánh dấu sâu sắc bởi câu chuyện tình bi thảm giữa Mỵ Châu với Trọng Thuỷ.
Theo các chuyên gia ngôn ngữ, Việt nam vào buổi đầu lịch sử cũng đã từng có chữ viết riêng được gọi tên bằng “Chữ Việt Cổ” để ký âm Việt ngữ nhưng chữ viết này đã bị xoả bỏ triệt để bởi người Tàu khi đô hộ Việt nam để người Việt nam bị đồng hoá theo người Tàu 1).

II. Thời kỳ Bắc thuộc

Thời kỳ Bắc thuộc được bắt đầu từ đâu vẫn còn được tranh cãi. Vấn đề này được giải đáp theo hai quan điểm khác nhau từ xưa đến này về lịch sử Việt nam liên quan với Nhà Triệu. Quan điểm thứ nhất được phổ biến rộng khắp bởi phần lớn các sử gia trước thế kỷ XVIII đều cho rằng nhà Triệu thuộc về Việt nam, từ đó suy ra thời kỳ Bắc thuộc chỉ được bắt đầu từ năm 111 trước Công nguyên với việc nhà Hán đánh chiếm nước Nam Việt. Quan điểm thứ hai xuất hiện từ thế kỷ XVIII được đề xuất bởi Sử gia Ngô Thì Sỹ phủ nhận nhà Triệu thuộc về Việt nam, vì Triệu Đà vốn xuất thân từ người phương Bắc làm tướng cho Tần Thuỷ Hoàng mà đánh xuống phương Nam nên thời kỳ Bắc thuộc phải được bắt đầu từ năm 208 trước Công nguyên (hoặc năm 179 trước Công nguyên?) với việc Nhà Triệu đánh chiếm nước Âu Lạc lúc đó đang được cai trị bởi An Dương Vương. Quan điểm này được nối tiếp bởi Sử gia Đào Duy Anh trong thế kỷ XX, các sách lịch sử đang được lưu hành tại Việt nam hiện nay đều theo quan điểm này.

Thuộc về Nam Việt

Cuối thời Tần, Triệu Đà (người nước Triệu vào thời Chiến quốc, nay là tỉnh Hà bắc thuộc về nước Tàu) được bổ nhiệm làm Huyện lệnh cho Huyện Long xuyên, sau đó Nhâm Ngao tự ý bổ nhiệm Trệu Đà làm Quận úy cho Quận Nam hải (nay thuộc về tỉnh Quảng đông). Lợi dụng Nhà Tần rối loạn sau việc Tần Thuỷ Hoảng chết, Triệu Đà đã tách ra cát cứ quận Nam hải, sau đó đem quân thôn tính Vương quốc Âu Lạc rồi sáp nhập cả Quận Quế lâm thành một nước riêng, lấy danh xưng “Nam Việt” làm quốc hiệu với kinh đô được đặt tại Phiên ngung (nay là thành phố Quảng châu thộc về Tỉnh Quảng đông) vào năm 207 trước Công nguyên.

Trong thời Nhà Triệu, Nam Việt bao gồm hai tỉnh: Quảng Đông và Quảng Tây, thuộc về nước Tàu cùng với miền Bắc Việt nam ngày nay. Nam Việt được phân chia thành 4 quận: Nam hải, Quế lâm, Giao chỉ và Cửu chân. Biên giới phía bắc là dãy núi Ngũ lĩnh, biên giới phía nam là dãy núi Hoành sơn.

Nhà Hán xuất hiện thống nhất nước Tàu, Triệu Đà xưng làm Hoàng đế cho nước Nam Việt để tỏ ý ngang hàng với Nhà Tây Hán. Trong khoảng một thế kỷ (207 trước Công nguyên – 111 trước Công nguyên), miền Bắc Việt nam hiện nay cấu thành một phần cho nước Nam Việt xưa kia được cai trị bởi một vị vua người Tàu nhưng vị vua này không chấp nhận Nhà Hán cai trị nước Nam Việt.

Thuộc về Đế chế Hán

Năm 111 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế cho quân xâm chiếm Nam Việt rồi sáp nhập Nam Việt vào Đế chế Hán. Người Tàu muốn cai quản miền châu thổ sông Hồng làm điểm dừng cho tàu bè đang buôn bán với Đông Nam Á châu. Trong thế kỷ I, các Lạc tướng vẫn còn được làm quan chức trong bộ máy cai trị, nhưng người Tàu bắt đầu chính sách đồng hóa đối với các vùng lãnh thổ bằng việc tăng thuế. Cùng với việc tăng thuế, người Tàu đã cải tổ luật hôn nhân cho người Việt theo Nho giáo, tức là áp đặt chế độ gia trưởng cho người Việt sống thành từng gia đình gia trưởng biệt lập với nhau để mất hết sức đề khángdễ dàng chấp nhận quyền lực chuyên chế. Chỉ cần nắm được một người đàn ông gia trưởng trong từng gia đình đó, người Tàu sẽ kiểm soát được đối với tất cả những người khác, cũng tức là kiểm soát được đối với tất cả người Việt. Đó là một trong những thủ đoạn thâm độc nhất mà người Việt nam ngày nay đã không hiểu lại còn tâm đắc. Việc cải tổ chế độ hôn nhân cho người Việt theo Nho giáo như vậy đã làm cho nữ giới bị mất vị thế bình đẳng với nam giới để nữ giới bất mãn mà nổi dậy chống lại người Tàu. Một cuộc khởi nghĩa to lớn được lãnh đạo bởi hai Bà Trưng (Trưng Trắc và Trưng Nhị) đã nổ ra ở Quận Giao chỉ, tiếp theo đến các quận khác: Cửu chân, Nhật nam, Hợp phố và các địa phương khác trong Vùng Lĩnh nam (mà theo cổ sử Việt ghi nhận có tất cả 65 thành trì) hưởng ứng trong năm 40. Sau đó nhà Hán phái tướng Mã Viện sang đàn áp cuộc khởi nghĩa này. Sau ba năm giành độc lập, cuộc khởi nghĩa này đã bị đàn áp bởi tướng Mã Viện. Do bị cô lập cùng với quân đội chưa được tổ chức hoàn thiện nên Hai Bà Trưng không đủ sức chống lại quân đội chính quy được chỉ huy bởi Mã Viện vốn dày dạn kinh nghiệm chiến trường. Hai Bà Trưng đã tự vẫn trên dòng sông Hát để giữ vẹn khí tiết 2).

Giành được độc lập ngắn ngủi sau khi thoát khỏi Đế chế Hán

Tiếp theo sau Nhà Hán, các triều đại phong kiến tại nước Tàu, như Đông Ngô, Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, Lương, lần lượt thay nhau đô hộ Việt nam, người Việt cũng đã nhiều lần nổi dậy chống lại ách cai trị ngoại bang, tuy nhiên tất cả đều không thành công cho mục tiêu giành độc lập.

Các cuộc nổi dậy tiêu biểu, như cuộc khởi nghĩa được lãnh đạo bởi anh em Nhà Triệu (Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh) vào thời kỳ thuộc về Đông Ngô. Cuộc nổi dậy được lãnh đạo bởi anh em Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến từ thời kỳ thuộc về Lưu Tống, Nam Tề từ năm 468 đến năm 485.

Năm 544, Lý Bý nổi dậy khởi nghĩa đã đánh đuổi được Thứ sử Tiêu Tư thuộc về nhà Lương. Sau 3 lần đánh bại quân Lương trong những năm kế tiếp, Lý Bý tự xưng đế làm Lý Nam Đế, lập nên nước Vạn Xuân vào năm 544. Đến năm 545, nhà Lương cử Trần Bá Tiên cùng với Dương Phiêu mang quân sang đánh nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế bị thua trận, giao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục. Sau Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục đánh đuổi được quân Lương vào năm 550, bảo vệ được nước Vạn Xuân. Ông tự xưng làm Triệu Việt Vương, đến năm 571 một người cháu của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đã cướp ngôi vua từ Triệu Việt Vương, tiếp tục giữ được sự độc lập cho người Việt thêm 20 năm nữa cho đến khi bị chinh phục vào năm 602 bởi Nhà Tuỳ.

Thuộc về Đường

Kế tiếp nhà Tùy, nhà Đường đô hộ Việt nam gần 300 năm. Nước Tàu đến thời Đường đạt tới cực thịnh, bành trướng ra cả 4 phía: phía Bắc lập ra An Bắc Đô hộ Phủ, phía Đông đánh chiếm nước Cao ly lập ra An Đông Đô hộ Phủ, phía Tây lập ra An Tây Đô hộ Phủ và phía Nam lập ra An Nam Đô hộ Phủ, tức là lãnh thổ nước Vạn Xuân trước đó.

Trong thời kỳ thuộc về nhà Đường, đã nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc, tiêu biểu như khởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến, khởi nghĩa Mai Hắc Đế, khởi nghĩa Phùng Hưng và khởi nghĩa Dương Thanh, từ cuối thế kỷ VII đến thế kỷ IX.

Từ sau Loạn An sử (756 – 763), nhà Đường suy yếu bị mất thực quyền kiểm soát đối với nhiều địa phương vốn bị cát cứ bởi các phiên trấn, không kiểm soát nổi phía nam. An Nam Đô hộ Phủ bị cướp phá giết chóc bởi các nước láng giềng, như Nam chiếu, Chăm pa, Sailendra, rất nhiều người bản địa đã bị giết hại, riêng Nam chiếu đã giết rồi bắt đến 15 vạn người, quân Đường bị đánh bại nhiều lần. Đến năm 866, nhà Đường kiểm soát trở lại đối với An Nam Đô hộ Phủ rồi đổi tên cho lãnh thổ này thành Tĩnh Hải quân.

Cuối thế kỷ IX, nhà Đường bị suy yếu trầm trọng sau cuộc nổi loạn được châm ngòi bởi Hoàng Sào cùng với các cuộc chiến tranh quân phiệt tại nước Tàu. Tại Việt nam vào năm 905, một hào trưởng địa phương người Việt là Khúc Thừa Dụ đã chiếm giữ thủ phủ Đại la, bắt đầu thời kỳ tự chủ cho người Việt.

Ảnh hưởng đến văn hóa Việt nam

Người Tàu đã để lại di hoạ nặng nề cho người Việt nam về văn hoá. Đặc biệt Nho giáo (儒 教) không chỉ đã được du nhập ào ạt từ rất sớm vào Việt nam mà còn được áp đặt sâu rộng cho người Việt nam làm cho người Việt nam bị lệ thuộc nặng nề vào người Tàu về cả tư tưởng lẫn chính trị để ngay cả khi đã độc lập với nước Tàu về chủ quyền quốc gia, người Việt nam vẫn tổ chức xã hội theo chính thể chuyên chế dựa trên Nho giáo suốt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX. Chính thể này đã gây ra những cuộc Nội chiến Tương tàn suốt từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX làm cho Việt nam bị đổ vỡ tang thương. Chính di hoạ đó đã làm thành lực cản vô cùng to lớn cho tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam từ đầu thế kỷ XX đến nay để người Việt nam phải tiếp tục trả giá đau đớn bằng các cuộc Nội chiến Tương tàn vào khoảng giữa thế kỷ XX. Muốn hiểu được sự thật đó, cần phải hiểu đúng về Nho giáo 3).

Các triều đại phong kiến tại nước Tàu đã cố gắng đồng hóa Việt tộc theo Hán tộc. Tuy nhiên, do ở vào ngã tư đường giao lưu: vừa ở giữa Bắc với Nam vừa ở giữa Đông với Tây, nên mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng tư tưởng về thể chế chính trị từ người Tàu, người Việt nam vẫn giữ được bản sắc vốn có sau hàng ngàn năm bị đô hộ bởi người Tàu, đặc biệt người Việt nam vẫn giữ được tiếng nói riêng cho mình 4). Chính nhờ vẫn giữ được bản sắc vốn có mà người Việt nam không chỉ tiếp nhận ảnh hưởng tư tưởng từ Nho giáo mà còn tiếp nhận ảnh hưởng tư tưởng từ Phật giáo Đại thừa đang phát triển ở Đông Á châu. Lúc đó Đông Nam Á châu đã chịu ảnh hưởng tư tưởng từ cả Ấn giáo lẫn Phật giáo Nguyên thuỷ. Phật giáo Đại thừa được hòa trộn với Nho giáo, Đạo giáo (Lão giáo), và các tín ngưỡng dân gian tại địa phương, tạo ra cái vẫn thường được gọi là tam giáo đồng nguyên 5).

Có lẽ tam giáo đồng nguyên đã góp phần đáng kể vào việc làm loãng bớt Nho giáo để người Việt có thể giữ được bản sắc vốn có đồng thời có thể vượt qua được những thử thách nghiệt ngã dưới chính thể chuyên chế dựa trên Nho giáo?

Xây dựng đất nước

Năm 905, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng chính quyền tự chủ cho người Việt nhân khi nhận thấy Nhà Đường suy yếu, đặt nền móng cho một nước Việt nam độc lập.

III. Thời kỳ Độc lập

Năm 939, Ngô Quyền xưng vương sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch đằng chiến thắng trước quân Nam Hán vào năm 938.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh xưng đế, lập nên Nhà Đinh (968 – 980) đặt tên nước thành Đại Cồ Việt.

Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi vua, lập nên Nhà Tiền Lê (980 – 1009).

Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập nên Nhà Lý (1009 – 1225). Năm 1054, vua Lý Thánh Tông đổi tên nước thành Đại Việt.

Đại Việt trải qua nhiều triều đại phong kiến: Nhà Trần (1226 – 1400), Nhà Hồ (1400 – 1407), Nhà Lê Sơ (1428 – 1527), Nhà Mạc (1527 – 1592), Nhà Lê Trung hưng (1533 – 1789), Nhà Tây Sơn (1778 – 1802).

Trong thời kỳ này, các vương triều phong kiến ở nước Tàu cùng với Mông cổ mang quân sang xâm lược Đại Việt nhưng đều bị đẩy lùi: Lê Hoàn đẩy lùi quân Tống vào năm 981, Lý Thường Kiệt cũng đánh bại quân Tống vào năm 1076, Nhà Trần đánh bại quân Mông cổ vào năm 1258 rồi kế tiếp thêm hai lần nữa đánh bại quân Nguyên vào năm 1285 và năm 1288. Đầu thế kỷ XV, Nhà Minh xâm chiếm được Đại Việt rồi cai trị trong 20 năm, nhưng cũng bị đánh đuổi vào năm 1428 bởi Lê Lợi. Sau thắng lợi này, Lê Lợi thành lập Nhà Hậu Lê. Năm 1789, Nhà Thanh cho quân sang xâm lược Đại Việt cũng bị đánh bại bởi Quang Trung – Nguyễn Huệ. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XVIII trở đi, chế độ phong kiến tại Việt nam đã bắt đầu suy yếu.

Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, các triều đại phong kiến tại Đại Việt đã xây dựng nhà nước chuyên chế dựa trên Phật giáo cùng với những ảnh hưởng tư tưởng từ Nho giáo tại nước Tàu. Đến cuối thế kỷ XIV, Phật giáo bị thu hẹp dần ảnh hưởng. Thay vào đó, Nho giáo nổi lên phát tác ảnh hưởng làm nền tảng tư tưởng cho nhà nước chuyên chế theo kiểu Tàu. Đến thế kỷ XV, Đại Việt có một cơ cấu nhà nước tương tự cơ cấu nhà nước tại nước Tàu: luật pháp cũng như hành chính, văn chương nói riêng cũng như nghệ thuật nói chung, đều dập khuôn theo kiểu Tàu.

Cùng với việc thu nhận cả mô hình chính trị lẫn tổ chức xã hội từ nước Tàu, các triều đại phong kiến tại Việt nam từ thế kỷ X trở đi từng bước mở rộng ảnh hưởng ra ngoài khu vực châu thổ Sông Hồng. Từ triều Lý, thông qua các cuộc hôn nhân, quân sự và tấn phong thủ lĩnh cho các bộ tộc ở miền núi, các vương triều: Lý, Trần, Lê, đã lần lượt sáp nhập các sắc tộc khác ở các vùng Tây Bắc và Đông Bắc vào quốc gia Đại Việt. Các sắc tộc đó đã cùng chung sức với người Việt trong công cuộc chống ngoại xâm cũng như xây dựng đất nước.

Việt nam trong thời phong kiến vẫn phát triển dựa vào Nông nghiệp mà chủ yếu chỉ trồng lúa nước để cung cấp lương thực, từng triều đại phong kiến đã lần lượt cho đắp đê ngăn lũ lụt, đào kênh dẫn nước cũng như giao thông, khai hoang các vùng đồng bằng ven biển để tăng diện tích trồng trọt. Các hoạt động thương mại, đặc biệt ngoại thương, cũng đã được hình thành. Ngoài hai quốc gia láng giềng: nước Tàu và Chăm pa, Đại Việt vào thời nhà Lý, nhà Trần, đã có buôn bán thêm với các vương quốc tại Đông Nam Á châu qua cảng Vân đồn (Quảng Ninh). Vào thời Hậu Lê, Đại Việt có buôn bán thêm với Nhật bản và Âu châu tại các trung tâm thương mại, như Thăng Long và Hội An.

Nam – Bắc Phân tranh

Đầu thế kỷ XVI, triều Lê sơ suy sụp. Vua Lê Hiến Tông chết, các vua Uy Mục và Tương Dực không còn quan tâm việc triều chính mà chỉ lo ăn chơi sa đoạ. Quan lại ở cấp dưới nhân đó hoành hành, hạch sách nhân dân, chiếm đoạt ruộng đất. Nhân dân khổ cực đã nổi dậy đấu tranh ở nhiều nơi. Một số thế lực phong kiến cũng họp quân đánh nhau hoặc tranh chấp quyền hành. Thế lực nổi trội hơn cả thuộc về Quốc công Thái phó Mạc Đăng Dung. Sau khi dẹp yên các thế lực khác, lại nhận thấy Nhà Lê suy sụp bất lực, Mạc Đăng Dung ép buộc vua Lê nhường ngôi cho mình để lập nên Nhà Mạc vào năm 1527.

Trong những năm đầu tiên, Nhà Mạc xây dựng lại chính quyền theo mô hình cũ như Nhà Lê, tổ chức thi cử đều đặn để tuyển chọn quan lại, đồng thời cố gắng giải quyết vấn đề ruộng đất, tái lập sự ổn định cho đất nước. Nhà Mạc tập trung xây dựng quân đội hùng mạnh để đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, Nhà Mạc suy thoái dần dần.

Giữa lúc đó, Nhà Mạc lại phải chịu áp lực từ hai phía. Ở phía Nam, một số cựu thần thuộc về Nhà Lê tập hợp lực lượng nổi dậy chống lại Nhà Mạc. Ở phía Bắc, Nhà Minh thuộc về nước Tàu cho quân tiến xuống đe doạ sau khi biết được Đại Việt đang bất ổn. Nhà Mạc lúng túng đã buộc phải quy phục Nhà Minh khiến Nhà Mạc bị mất lòng tin đối với dân chúng tại Đại Việt.

Không chấp nhận Nhà Mạc, một số quan lại cũ thuộc về Nhà Lê được tập hợp bởi Nguyễn Kim đã họp quân lấy “phù Lê diệt Mạc” làm danh nghĩa để nổi dậy ở vùng Thanh Hoá. Một nhà nước mới được thành lập ở đây, sử cũ gọi là Nam triều để phân biệt với Bắc triều thuộc về Nhà Mạc, dẫn đến Nội chiến NamBắc lần thứ nhất được kéo dài đến cuối thế kỷ XVI 6). Nhà Mạc bị lật đổ. Đất nước được tái thống nhất bước đầu. Nhưng không lâu sau lại hình thành một thế lực cát cứ ở mạn Nam, đó là thế lực phong kiến thuộc về họ Nguyễn, dẫn đến Nội chiến NamBắc lần thứ hai. Đó là Chiến tranh TrịnhNguyễn.

Chiến tranh Trịnh – Nguyễn bùng nổ từ năm 1627 đến cuối năm 1672 với một kết quả bi đát: đất nước bị chia cắt thành hai vùng lãnh thổ khác nhau: Đàng Ngoài và Đàng Trong, với hai chính quyền riêng biệt lấy sông Gianh ở Quảng bình làm giới tuyến. Tình trạng chia cắt như vậy bị kéo dài đến cuối thế kỷ XVIII gây nên hậu quả đau đớn cho đất nước Việt nam. Tuy nhiên, chính trong giai đoạn này đã xảy ra một sự kiện đặc biệt mở đầu cho một cuộc cách mạng quan trọng nhất trong suốt chiều dài lịch sử, ít nhất từ thời kỳ Bắc thuộc đến nay. Đó là sự xuất hiện Chữ Quốc ngữ được xem như hình thức ưu việt nhất cho Chữ viết Việt ngữ 7).

Đàng Ngoài – Đàng Trong

Thời kỳ Nam – Bắc triều được bắt đầu từ năm 1527. Sau khi giành được ngôi vua từ nhà Hậu Lê, Mạc Đăng Dung đã lập nên nhà Mạc. Nhà Lê Trung hưng được tái lập vài năm sau đó với sự giúp đỡ từ Nguyễn Kim, một tướng cũ thuộc về Nhà Lê Trung hưng, giành được sự kiểm soát đối với khu vực quan trọng từ Thanh hoá vào Bình định. Nguyễn Kim chết để lại quyền bính cho con rể là Trịnh Kiểm. Trong 60 năm kế tiếp, Trịnh Kiểm cùng các con cháu của ông đã giành được chiến thắng trước nhà Mạc vào năm 1592, mở đầu cho thời kỳ đặc biệt trong lịch sử phong kiến Việt nam: thời kỳ Vua Lê – Chúa Trịnh.

Mâu thuẫn giữa hai người cận thần của nhà Lê trung hưng là Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng (trấn thủ xứ Thuận hoá và Quảng nam) đã bắt đầu cho sự phân chia đất nước thành hai vùng lãnh thổ. Trong khi Trịnh Kiểm tìm cớ để giết Nguyễn Uông (con cả của Nguyễn Kim), Nguyễn Hoàng chạy vào Thuận Hóa để lập cát cứ. Từ đó hình thành hai chính quyền riêng biệt là Đàng Ngoài và Đàng Trong với sông Gianh (Quảng bình) làm biên giới. Các con cháu của Trịnh Kiểm lần lượt kế tiếp nhau nắm quyền ở Đàng Ngoài được gọi là các Chúa Trịnh. Các con cháu của Nguyễn Hoàng kế tiếp nhau cầm quyền ở Đàng Trong được gọi là các Chúa Nguyễn. Các vua Lê chỉ làm Hoàng đế cho Đại Việt trên danh nghĩa.

Trong thời kỳ này, dù Đại Việt bị phân chia thành hai lãnh thổ riêng biệt: Đàng Ngoài và Đàng Trong, hoạt động ngoại thương lại rất sôi động, cả Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong đều tham gia vào giao thương toàn cầu vốn đã được thúc đẩy bởi các thương nhân từ nhiều nơi, như nước Tàu, Nhật bản, Âu châu, v. v., đến Đại Việt buôn bán. Người Hà lan, người Anh, người Pháp lập các thương điếm tại Kẻ Chợ (Hà nội), người Nhật bản, người Bồ đào nha, người Anh đặt các thương điếm tại Faifo (Hội an). Các mặt hàng chính được xuất khẩu từ Đại Việt là tơ lụa, hồ tiêu, gốm sứ. Tuy nhiên, sang thế kỷ XVIII, hoạt động thương mại giảm sút ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài.

Thông qua sự giao thương với Đông phương, Công giáo cũng bắt đầu được truyền bá vào Đại Việt bởi các giáo sĩ công giáo từ Tây phương theo các tàu buôn vào giảng đạo ở cả Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong, nhưng do các chúa Trịnh cùng với các chúa Nguyễn đều ngăn cấm Công giáo nên ảnh hưởng từ Công giáo đối với Việt nam trong thời kỳ này còn hạn chế.

Mở rộng lãnh thổ về phương Nam

Dấu ấn quan trọng về việc mở rộng đất nước trong thời kỳ phong kiến thể hiện qua sự bành trướng lãnh thổ xuống phương Nam nhằm tìm kiếm đất nông nghiệp để cung cấp lương thực cho dân số đang gia tăng tại Đại Việt. Với một quân đội thiện chiến được tổ chức tốt hơn, từ thế kỷ XI đến thể kỷ XV, sau các cuộc chiến tranh xâm lấn cũng như hôn nhân chính trị giữa Đại Việt với Champa, Đại Việt đã mở rộng thêm lãnh thổ từ dãy Hoành sơn (Bắc Quảng bình) tới đèo Cù mông (Bắc Phú yên).

Từ thế kỷ XVII, Đàng Trong là một vùng lãnh thổ có chính quyền riêng biệt độc lập với Đàng Ngoài. Nhằm tiếp tục tìm kiếm thêm đất đai cho sự gia tăng dân số, cũng như gia tăng quyền lực, các chúa Nguyễn đã lần lượt tiến hành các cuộc chiến tranh với Chăm pa rồi sáp nhập hoàn toàn Chăm pa vào năm 1663.

Tiếp theo sau các cuộc di dân từ Đàng Trong vào sinh sống ở vùng đất Khmer, các chúa Nguyễn lần lượt thiết lập chủ quyền từng phần trên vùng đất Nam bộ. Sau các cuộc chiến tranh với Vương quốc Khmer rồi Vương quốc Ayutthaya cũng như các yếu tố khác xảy ra từ năm 1698 đến năm 1757, chính quyền Đàng Trong đã giành được hoàn toàn quyền kiểm soát đối với vùng lãnh thổ bao gồm Nam Bộ ngày nay.

Song song với việc mở rộng lãnh thổ trên đất liền, chính quyền Đàng Trong lần lượt đưa người ra khai thác rồi kiểm soát các hòn đảo lớn cùng với các quần đảo trên cả Biển Đông lẫn Vịnh Thái lan. Quần đảo Hoàng sa được khai thác rồi được kiểm soát từ đầu thế kỷ XVII, Côn đảo được kiểm soát từ năm 1704, Phú quốc được kiểm soát từ năm 1708 và quần đảo Trường sa được kiểm soát từ năm 1816.

Sự khác biệt về văn hoá giữa hai miền có lẽ bắt nguồn từ cuộc Nam tiến như vậy. Do chính quyền miền Nam chịu ảnh hưởng nào đó từ Văn hoá Chăm pa hoặc Văn hoá Khmer nên Văn hóa Nho giáo không phát triển nhiều trong chính quyền miền Nam. Ngày nay, người miền Bắc thường sống tiết kiệm, bảo vệ nhóm, ứng xử mềm mỏng; người miền Nam lại thường sống thoải mái, suy nghĩ đơn giản và tính cách thẳng thắn. Tổ chức hành chính cũng khác biệt. Chính quyền phong kiến được tổ chức tỷ mỷ hơn ở miền Bắc nhưng lại được tổ chức đơn giản hơn ở miền Nam.

Thống nhất đất nước

Từ giữa thế kỷ XVIII, các cuộc chiến tranh xảy ra liên tục giữa Đàng Trong với Vương quốc Khmer rồi Vương quốc Ayutthaya, cũng như các cuộc tranh chấp ở Đàng Ngoài, làm cho dân chúng thêm cùng quẫn. Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra song phần lớn chịu thất bại. Phong trào Tây sơn bùng phát tại Quy nhơn (Bình định) vào năm 1771 đã phát triển rộng lớn đánh bại chính quyền phong kiến ở cả Đàng Trong (Chúa Nguyễn) lẫn Đàng Ngoài (Chúa Trịnh), chấm dứt việc chia đôi đất nước, cũng như bãi bỏ nhà Hậu Lê vốn chỉ còn trên danh nghĩa. Nhà Tây sơn đã đánh bại quân Xiêm la tại miền Nam vào năm 1784 rồi sau đó lại đánh bại quân Thanh tại miền Bắc vào năm 1789. Nguyễn Huệ chính thức làm vua cho Đại Việt, lấy niên hiệu là Quang Trung, thống nhất hầu hết lãnh thổ từ miền Bắc đến Gia định. Tuy nhiên, Quang Trung đã đột tử vào năm 1792, nội bộ lục đục khiến chính quyền Tây Sơn càng ngày càng suy yếu.

Nguyễn Phúc Ánh, một người đàn ông xuất chúng xuất thân từ các chúa Nguyễn ở miền Nam với sự hậu thuẫn từ một số người Pháp đã đánh bại được nhà Tây Sơn vào năm 1802. Ông lên làm vua, lấy niên hiệu kết hợp Gia Định ở miền Nam với Thăng Long ở miền Bắc thành “Gia Long”, trở thành vị vua đầu tiên cai trị một đất nước thống nhất với hai đồng bằng phì nhiêu nối liền nhau bằng một dải duyên hải. Năm 1804, ông cho đổi tên nước từ Đại Việt thành Việt nam. Như vậy không phải Quang Trung – Nguyễn Huệ mà chính Gia Long – Nguyễn Phúc Ánh đã chấm dứt cuộc Nội chiến Nam – Bắc lần thứ hai với nhiều giai đoạn khác nhau hết sức phức tạp kéo dài từ năm 1627 đến năm 1802.

Gia Long (1802 – 1820) đóng đô ở Huế. Ông cho xây dựng Kinh đô Huế tương tự như Tử cấm Thành ở Bắc kinh (nước Tàu), chỉ dấu này cho thấy Nhà Nguyễn nối tiếp Nhà Hậu Lê độc tôn Nho giáo. Gia Long rồi đến con trai Minh Mạng (cai trị từ năm 1820 đến năm 1841) đã cố gắng xây dựng Việt nam theo kiểu Tàu làm cho Việt nam suy yếu nhanh chóng. Từ thập niên 1830, giới trí thức tại Việt nam (với Nguyễn Trường Tộ làm đại diện tiêu biểu) đã đặt ra yêu cầu học hỏi Tây phương để phát triển công nghiệp – thương mại, nhưng họ chỉ có thiểu số. Đáp lại, vua Minh Mạng cùng với những người kế tục: Thiệu Trị (1841 – 1847) rồi Tự Đức (1847 – 1883), đã lựa chọn chính sách lỗi thời: coi trọng nông nghiệp (dĩ nông vi bản, tức là lấy nông nghiệp làm căn bản). Tai ác hơn nữa, Nhà Nguyễn đã cấm đoán Công giáo để độc tôn Nho giáo. Chính việc bách hại Công giáo đã tạo ra lý do sâu xa cho Thực dân Pháp tấn công xâm lược nước ta vào năm 1858.

Các nhà truyền giáo người Pháp đã hiện diện ở Việt nam từ giữa thế kỷ XVII. Họ cũng hỗ trợ cả nhân lực lẫn vật lực cho nhà Nguyễn trong cuộc chiến tranh với Nhà Tây sơn dẫn đến chiến thắng cho vua Gia Long. Đến giữa thế kỷ XIX, có khoảng 450.000 người Việt nam cải đạo sang Công giáo. Vì hết sức lo ngại trước một tôn giáo xa lạ được tổ chức chặt chẽ nên Nhà Nguyễn đã ra lệnh cấm truyền bá Công giáo đồng thời đàn áp những người Việt nam theo Công giáo làm cho nhiều xóm đạo bị san phẳng. Việc bách hại Công giáo xảy ra như vậy chỉ nhằm củng cố chế độ chuyên chế dựa trên Nho giáo. Vậy chính Nho giáo đã làm cho Việt nam bị suy yếu rồi phải làm thuộc địa cho Thực dân Pháp 8).

IV. Thời kỳ Pháp thuộc

Lo sợ Công giáo có thể làm mất vương quyền, Nhà Nguyễn đã bách hại Công giáo tại Việt nam bằng bạo động rộng khắp. Chính làn sóng bạo động nhằm vào Công giáo tại Việt nam được phát động bởi Vua chúa nhà Nguyễn đã gây nên sự xúc động mạnh mẽ cho nhiều nước lớn tại Tây phương, trong đó có nước Pháp. Một số trong các nước đó đã làm áp lực mạnh mẽ với chính quyền phong kiến tại Việt nam nhằm ngăn chặn làn sóng bạo động nhưng mạnh mẽ nhất cũng chỉ cho Hải quân đến bắn phá qua loa vào Việt nam rồi thôi. Riêng nước Pháp lại khác. Lợi dụng việc Nhà Nguyễn bách hại Công giáo tại Việt nam, Chính phủ Pháp đã quyết định can thiệp quân sự vào Việt nam để không chỉ bảo vệ Công giáo mà còn nhân thể chiếm đóng luôn Việt nam làm thuộc địa. Lẽ ra Chính phủ Pháp đã làm việc này từ đầu thế kỷ XIX nhưng tình hình chính trị tại nước Pháp vào đầu thế kỷ XIX, sau Chiến tranh Âu châu, không thuận lợi cho việc can thiệp quân sự ra nước ngoài. Mãi đến cuối thập niên 1850, tình hình chính trị tại nước Pháp mới tạm ổn định cho phép Chính phủ Pháp can thiệp quân sự vào Việt nam.

Ngày 31 Tháng Tám 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà nẵng, sau đó rút vào xâm chiếm Sài gòn. Tháng Sáu 1862, Vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây để tạo thành một lãnh thổ phụ thuộc (thuộc địa) được gọi tên bằng “Nam kỳ” (Pháp ngữ: Cochinchine). Sau khi củng cố lực lượng vững chắc ở Nam kỳ, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại thuộc về Việt nam qua những cuộc chiến tranh phức tạp ở miền Bắc được gọi tên bằng “Bắc kỳ” (Pháp ngữ: Tonkin) từ năm 1873 đến năm 1886. Khi đó Bắc kỳ rất hỗn độn phát sinh từ những mối bất hòa giữa người Việt nam với người Hoa lưu vong. Chính quyền Việt nam không thể kiểm soát nổi mối bất hòa đó. Người Pháp với người Tàu tranh giành ảnh hưởng trên vùng này. Cả Tàu lẫn Pháp đều đưa quân đội đến đó nhưng cuối cùng, người Pháp đã chiến thắng. Miền Trung được gọi tên bằng “Trung kỳ” (Pháp ngữ: Annam) nghiễm nhiên bị kiểm soát bởi người Pháp mà không cần phải bị tấn công quân sự.

Pháp tuyên bố sẽ “bảo hộ” cho cả Bắc kỳ lẫn Trung kỳ, họ duy trì các vua Nhà Nguyễn cho đến Bảo Đại (làm vua từ năm 1926 đến năm 1945) cùng bộ máy quan lại. Nhà Nguyễn tuy tiếp tục tồn tại ở cả Trung kỳ lẫn Bắc kỳ nhưng chỉ còn quyền lực hạn chế, mọi vấn đề lớn đều phải được quyết định bởi Toàn quyền Đông dương. Vào năm 1885, các quan lại Việt nam tổ chức Phong trào Cần vương kháng chiến chống Pháp nhưng thất bại. Các vua Nguyễn: Hàm Nghi, Duy Tân, Thành Thái, có ý đồ phản kháng đều bị phế truất rồi bị đưa đi đày ở nơi xa (Viễn xứ). Phong trào Cần vương không chỉ chống Pháp mà còn chống cả Công giáo bằng bạo động đẫm máu nhân danh lòng yêu nước. Không phải Công giáo mà chính Nhà Nguyễn mới làm nguyên nhân thật sự để người Việt nam bị mất nước cho Pháp. Nhưng Phong trào Cần vương đã không nhìn nhận đúng đắn như vậy mà còn nhìn nhận ngược lại rồi ra tay tàn sát đồng bào Công giáo để trả thù. Đó không chỉ là một sai lầm tai ác sẽ không được phép tái diễn mà còn là một tội ác ghê gớm sẽ không bao giờ bị quên lãng.

Pháp hoàn tất quá trình xâm lược đối với Việt nam vào năm 1887, họ đã thiết lập Liên bang Đông dương với một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương. Ở trung ương có Phủ Toàn quyền Đông dương (ban đầu nó được đặt ở Sài gòn, đến năm 1902 nó được đặt ở Hà nội). Toàn quyền Đông dương đứng đầu Phủ Toàn quyền Đông dương nắm quyền hành cao nhất trong thể chế chính trị trên cả 4 cõi: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ và Cao miên. Đứng đầu ở 3 kỳ có: Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ. Cả ba chức quyền đó đều bị giám sát điều khiển bởi Toàn quyền Đông Pháp trực thuộc Bộ Thuộc địa. Đến năm 1893, quyền kiểm soát cho Toàn quyền Đông Pháp được mở rộng thêm, bao gồm cả Ai lao.

Phong trào Cần vương thất bại vào cuối thế kỷ XIX, người Pháp đã củng cố hoàn toàn việc tổ chức cai trị tại Việt nam. Cuộc cải cách giáo dục vào thập niên 1910 đã xóa bỏ hoàn toàn nền Nho học với Chữ Hán được dùng qua cả ngàn năm trong chế độ phong kiến được thay thế bằng phong trào tân học theo Chữ Quốc ngữ đã tạo ra một tầng lớp trí thức, đó là những người xuất thân từ truyền thống nho giáo nhưng được tiếp cận với Văn hoá Tây phương. Đại diện tiêu biểu cho giới này có cả Phan Bội Châu lẫn Phan Châu Trinh. Phan Bội Châu đã mở đầu cho Phong trào Đông Du, Phan Châu Trinh khởi xướng cho Phong trào Duy Tân, vận động tăng cường dân trí, dân chủ, nhân quyền và cải cách xã hội cho người Việt nam trước các nhà cai trị người Pháp. Tuy nhiên, vì nhận thấy chế độ phong kiến theo kiểu thuộc địa có thể bị đe doạ bởi cả Phong trào Đông Du lẫn Phong trào Duy Tân nên chính quyền thực dân đã dẹp bỏ tất cả các phong trào đó.

Cuối thập niên 1920, những người Việt nam cấp tiến dưới ảnh hưởng tư tưởng từ chủ nghĩa tam dân tại nước Tàu đã thành lập Việt nam Quốc dân Đảng. Tuy nhiên, sau cuộc khởi nghĩa Yên bái thất bại vào năm 1930, Việt nam Quốc dân Đảng bị suy yếu nghiêm trọng. Cùng năm đó, một số thanh niên Việt nam theo Chủ nghĩa MarxLenin thành lập Đảng Cộng sản Việt nam tại Hong Kong vốn dĩ cũng thuộc về nước Tàu nhưng cũng mau chóng trở thành mục tiêu tiêu diệt cho Thực dân Pháp mặc dù tổ chức này thân thiện với Mặt trận Bình dân trong Chính quyền Pháp 9).

Nhật bản tấn công xâm chiếm Đông dương vào năm 1940 rồi nhanh chóng thỏa thuận được với Chính phủ Vichy ở Pháp trao cho Nhật bản toàn quyền cai trị ở Đông dương. Chính quyền bảo hộ vốn được thiết lập bởi Thực dân Pháp chỉ tồn tại đến Tháng Ba 1945. Ngay sau đó, Nhật bản thiết lập một chính quyền khác thân Nhật bản với Quốc vương Bảo Đại cùng với Thủ tướng Trần Trọng Kim, đặt quốc hiệu cho Việt nam bằng “Đế quốc Việt nam” lấy cờ Quẻ Ly làm quốc kỳ.

Việt nam Độc lập Đồng minh Hội (tức là Việt minh) được thành lập vào năm 1941 đóng vai trò làm một mặt trận cho Đảng Cộng sản Đông dương được điều hành từ Pắc bó trên biên giới Việt – Trung bởi Hồ Chí Minh. Nhân vật này đã trở về nước lần đầu tiên vào năm đó sau khoảng 30 năm bôn ba ở hải ngoại kể từ năm 1911 mặc dù ông có liên hệ với những người cộng sản trong nước từ thập niên 1920 đến thập niên 1930.

Vào đầu năm 1945, Việt nam bị rơi vào một tình trạng hỗn loạn. Chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinh tế, người Nhật bản chiếm lấy lúa gạo cùng với nhiều sản phẩm khác, bắt dân Việt nam phá lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh, cộng thêm thiên tai, nạn đói đã xảy ra tại cả Bắc kỳ lẫn Trung kỳ. Người ta ước tính rằng đã có khoảng hai triệu người Việt nam đã chết với nạn đói này.

V. Thời kỳ Phức tạp

Thời kỳ này được tính từ năm 1945 đến năm 1986. Do xảy ra quá nhiều sự kiện phức tạp chưa thể được xác định rõ ràng nên thời kỳ này chỉ có thể tạm được gọi tên bằng “Thời kỳ Phức tạp”. Gọi theo tên khác sẽ gây ra ảnh hưởng không tốt cho công cuộc kiến quốc đang được tiến hành mạnh mẽ trong bối cảnh nhạy cảm như hiện nay.

Tuyên bố độc lập

Ngày 11 Tháng Ba 1945 Quân đội Nhật bản làm cuộc đảo chính lật đổ chính quyền bảo hộ được thiết lập bởi Thực dân Pháp. Được hậu thuẫn bởi Nhật bản, Hoàng đế Bảo Đại ban hành một chiếu chỉ với nguyên văn như sau:

Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á châu, Chính phủ Việt nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ được ký kết với nước Pháp bị hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một quốc gia độc lập.”

Trần Trọng Kim được bổ nhiệm làm Thủ tướng cho chính phủ mới được gọi tên bằng “Đế quốc Việt nam”, nhưng hình như hầu hết quyền lực cho chính phủ này đều bị nắm giữ bởi Quân đội Nhật bản. Đến ngày 14 Tháng Tám 1945, Nhật bản đầu hàng quân đội Đồng minh, Chính quyền Trần Trọng Kim mất chỗ hậu thuẫn đã không kiểm soát được tình thế để đất nước rơi vào tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ. Cả Pháp lẫn Nhật bản đều không còn quyền lực gì ở đây. Tình thế đó đã tạo nên một khoảng trống quyền lực trên cả nước.

Đúng thời điểm này, lực lượng Việt minh được lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh đã tổ chức thực hiện thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám, giành được quyền lực trên hầu khắp các tỉnh tại Việt nam (trừ một số tỉnh biên giới giáp với nước Tàu). Chính quyền fascist tại Nhật bản bị đập tan bởi Quân đội Mỹ làm cho Đế quốc Việt nam sụp đổ sau hơn 5 tháng tồn tại, Hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Tại Hà nội vào ngày 2 Tháng Chín 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập một chính phủ khác được gọi tên bằng “Việt nam Dân chủ Cộng hoà”, vừa độc lập với ngoại bang vừa thống nhất từ miền Bắc đến miền Nam. Ngay sau đó, một cuộc bầu cử toàn quốc đã được tổ chức vào đầu năm 1946. Việt Minh chiếm ưu thế, song các phe phái khác cũng được mời tham gia chính phủ. Cờ đỏ với sao vàng 5 cánh ở giữa được dùng làm quốc kỳ cho Việt nam Dân chủ Cộng hoà.

Chiến tranh Đông dương

Tuy nhiên, nền độc lập cho Việt nam bị đe dọa chỉ sau 2 tuần. Ở miền Bắc, Đồng minh chỉ định quân đội Tàu giải giới quân đội Nhật bản. Quân đội Tàu hiện diện ở đó đến Tháng Năm 1946 rồi chuyển giao cho Pháp. Ở miền Nam, quân đội Nhật bản được giải giới bởi quân đội Anh – Ấn. Sau đó, quân đội Anh – Ấn chuyển giao miền Nam cho quân đội Pháp đã trở lại đây vào cuối năm 1945 nhằm duy trì Liên bang Đông dương thuộc về Pháp. Trong suốt năm 1946, Chính phủ Hồ Chí Minh đàm phán hòa bình với Pháp, mặc dù vậy hai bên cũng vẫn chuẩn bị lực lượng cho chiến tranh. Quả thật, đàm phán thất bại đã làm bùng phát chiến tranh giữa Việt minh với Thực dân Pháp vào Tháng Chạp 1946.
Vào đầu năm 1947, Pháp có vẻ thắng thế nắm được toàn bộ các đô thị lớn tại Việt nam. Tuy nhiên, Việt Minh kiên trì với “chiến tranh nhân dân” dùng chiến thuật du kích, tổ chức đào tạo lực lượng cho một cuộc chiến tranh lâu dài.

Đến năm 1949, Pháp ủng hộ các chính khách người Việt nam thành lập một nhà nước khác được gọi tên bằng “Quốc gia Việt nam” với Bảo Đại làm Quốc trưởng lấy cờ Quẻ Càn làm quốc kỳ. Được hậu thuẫn toàn diện bởi người Pháp, nhà nước này thành lập Quân đội Quốc gia Việt nam tích cực góp quân tham gia cùng Quân đội Pháp chiến đấu nhằm dập tắt phong trào Việt minh. Như vậy, việc thành lập Quốc gia Việt nam chỉ nhằm giảm bớt gánh nặng chiến tranh cho Pháp. Nhưng chính trong năm này đã xảy ra một biến cố nghiêm trọng tại nước Tàu dẫn đến bước ngoặt trong Chiến tranh Đông dương, đó là Đảng Cộng sản Tàu đã giành được chính quyền tại nước Tàu sau một cuộc Nội chiến kéo dài từ năm 1934. Đảng Cộng sản Tàu không chỉ hỗ trợ đắc lực cho Việt minh chiến đấu chống Pháp mà còn mở ra một hanh lang rộng lớn cho Việt minh tiếp nhận nhiều nguồn lực viện trợ từ các nước cộng sản tại Đông Âu châu, trong đó Liên bang Soviet đóng vai trò quyết định.

Bên kia, người Pháp được hậu thuẫn bởi người Mỹ. Nhận thấy mặt trận chống cộng sản tại Đông dương phải đối mặt với nguy cơ thất bại, Mỹ buộc phải hỗ trợ phần lớn chiến phí cho Pháp nhưng sự thay đổi to lớn đầy bất ngờ về địa lý chính trị vào năm 1949 đã làm cho cuộc chiến tranh chống cộng sản tại Đông dương đi đến thất bại. Thất bại quân sự tại Điện biên Phủ vào ngày 7 Tháng Năm 1954 đã đặt dấu chấm hết cho cả Pháp lẫn Mỹ trong nỗ lực ngăn chặn làn sóng cộng sản tràn xuống miền Bắc Việt nam.

Đất nước chia cắt

Sau trận chiến tại Điện biên Phủ, các bên tham chiến đã họp tại Genève để giải quyết hậu quả chiến tranh. Hiệp định Genève được ký kết vào ngày 20 Tháng Bảy 1954 nhằm đình chiến đồng thời phân chia tạm thời Việt nam thành hai vùng lãnh thổ lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời. Miền Bắc được lấy làm nơi tập kết cho Quân đội Cộng sản thuộc về Việt nam Dân chủ Cộng hoà được lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh. Miền Nam được lấy làm nơi tập kết cho quân đội liên hiệp (bao gồm cả Pháp lẫn Quốc gia Việt nam cùng với một số nước khác 10)). Mỹ cùng với Quốc gia Việt nam tuy cũng cử đại diện tham gia đàm phán nhưng vì không chấp nhận việc phân chia Việt nam nên đã không ký kết vào Hiệp định Genève. Theo “Tuyên bố Cuối cùng” từ Hội nghị Genève: sau 2 năm Pháp rút hết quân đội khỏi Đông dương, cả hai miền sẽ tổ chức tuyển cử để thống nhất đất nước. Dân chúng có thể lựa chọn cư trú tại miền Bắc hoặc miền Nam. Hơn 1 triệu người, đa số theo Công giáo ở miền Bắc, đã di cư vào miền Nam.

Vì Hiệp định Genève quy định một cuộc tổng tuyển cử để thành lập một quốc gia thống nhất nên Chính quyền Hồ Chí Minh xem Hiệp định Genève như một thắng lợi quan trọng đối với họ. Họ tin rằng Hồ Chí Minh với uy tín rộng khắp nhờ chiến thắng quân sự tại Điện biên Phủ trước đó sẽ thắng cử theo Hiệp định Genève. Tuy nhiên, những toan tính chính trị xảy ra ngay sau đó đã không cho phép tổ chức cuộc tuyển cử theo dự kiến ban đầu. Pháp rút hết quân đội, Mỹ nhận thấy (Tổng thống Mỹ: Dwight D. Eisenhower, nhận được báo cáo từ CIA cho biết): nếu mở cuộc tổng tuyển cử thì sẽ có khoảng 80% người Việt nam sẽ dành phiếu bầu chọn cho Hồ Chí Minh. Nhận thấy rõ ràng như vậy, Mỹ quyết định hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm củng cố chính thể riêng biệt ở phía Nam vỹ tuyến 17 đồng thời không thực hiện tổng tuyển cử thống nhất Việt nam. Không phải người Mỹ mà chính người Pháp đã chấp nhận Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng cho Quốc gia Việt nam rồi thành lập Việt nam Cộng hoà ở miền Nam Việt nam theo yêu sách chính trị từ Ngô Đình Nhu. Sau đó người Mỹ chỉ hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm củng cố Việt nam Cộng hoà mà thôi 11). Chính quyền Hồ Chí Minh tố cáo Chính quyền Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Genève. Chính quyền Ngô Đình Diệm tố cáo Chính quyền Hồ Chí Minh chia cắt đất nước bằng Hiệp định Genève làm cho Chính quyền Ngô Đình Diệm không thể thi hành hiệp định đó.

Ở miền Bắc, Chính quyền Hồ Chí Minh kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội, bao gồm nông nghiệp tập thể. Đa số dân chúng đã ủng hộ hết mình cho Chính quyền Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, Chính quyền Hồ Chí Minh đã phạm một số sai lầm nghiêm trọng, như Cải cách Điền địa từ năm 1954 đến năm 1955 đưa hàng ngàn địa chủ ra đấu tố, giam cầm hoặc xử phạt tử hình, tạo ra sự xáo trộn xã hội tại miền Bắc vào giai đoạn đầu tiên. Mặt khác, một số trí thức lớn thuộc về phong trào Nhân văn Giai phẩm phải đi cải tạo, bị kiểm điểm hoặc bị thôi việc, bị treo bút, v. v..

Tại miền Nam vào năm 1955, Ngô Đình Diệm được hậu thuẫn bí mật bởi người Pháp làm Quốc trưởng cho Quốc gia Việt nam. Sau cuộc trưng cầu ý dân vào cùng năm đó, Ngô Đình Diệm làm Tổng thống cho Việt nam Cộng hoà, đó chính là nền Cộng hoà Đầu tiên hoặc Nhất đệ Cộng hoà. Quốc trưởng Bảo Đại phải lưu vong sang Pháp. Mỹ bắt đầu giúp Chính quyền Ngô Đình Diệm cải cách điền địa, cũng như củng cố quân đội để giữ vững chính thể cộng hoà. Vào năm 1959, số người Mỹ tại miền Nam Việt nam chỉ vào khoảng vài trăm người làm cố vấn cho Chính quyền Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, Chính quyền Hồ Chí Minh đã cho quân đội xâm nhập miền Nam theo Nghị quyết 15 được thông qua vào ngày 15 Tháng Bảy 1959 tạo nên sự bất ổn lớn cho miền Nam Việt nam 12). Chính sự kiện này đã khơi mào trực tiếp cho cuộc Nội chiến Nam – Bắc lần thứ ba thường được gọi tên bằng “Chiến tranh Việt nam”. Lần này Nho giáo phát tác ảnh hưởng sâu rộng nhất nhờ được kích hoạt mạnh mẽ bởi Chủ nghĩa MarxLenin 13). Chính quyền Ngô Đình Diệm bắt đầu thực thi những chính sách cứng rắn (Tố Cộng hoặc Diệt Cộng) đối với những người cộng sản Việt nam tại miền Nam theo một kế hoạch lâu dài dựa trên tình hình thực tế. Không chấp nhận kế hoạch đó đồng thời cũng không tin tưởng Ngô Đình Diệm có thể đương đầu được với những người cộng sản Việt nam vốn được hậu thuẫn mạnh mẽ bởi cả Cộng sản Nga lẫn Cộng sản Tàu, người Mỹ quyết định can thiệp quân sự vào Việt nam nhằm chấm dứt nhanh chóng cuộc đấu tranh chống cộng sản tại Đông dương. Lo sợ bị mất chính nghĩa quốc gia dẫn đến thất bại toàn diện, Ngô Đình Diệm không chấp nhận cho Mỹ can thiệp quân sự vào Việt nam mà chỉ yêu cầu Mỹ cung cấp những phương tiện cần thiết cho Việt nam Cộng hoà tự lực chiến đấu chống lại Việt nam Cộng sản. Lập trường kiên định ở Ngô Đình Diệm khiến Mỹ quyết định loại bỏ Ngô Đình Diệm bằng những biện pháp nguy hiểm để đưa quân đội đến tham chiến tại miền Nam Việt nam dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực sẽ xảy ra về sau. Người Mỹ gây nên sự xáo trộn xã hội tại miền Nam Việt nam: bật đèn xanh cho các cuộc biểu tình rộng khắp chống Ngô Đình Diệm, đặc biệt các cuộc biểu tình dữ dội được tổ chức bởi Giáo hội Phật giáo tại miền Nam đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, rồi sau đó người Mỹ giật dây cho các tướng lĩnh thiển cận trong Quân đội Cộng hoà làm đảo chính quân sự lật đổ Ngô Đình Diệm vào ngày 1 Tháng Mười một 1963. Chính cuộc đảo chính này đã làm cho Việt nam Cộng hoà bị mất chính nghĩa quốc gia rồi sụp đổ vào ngày 30 Tháng Tư 1975 14).

Chiến tranh Việt nam

Được hậu thuẫn bởi Chính quyền Hồ Chí Minh ở miền Bắc, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam ra đời tại miền Nam vào năm 1959 với lực lượng vũ trang được gọi tên bằng “Quân Giải phóng miền Nam” đã tấn công rộng lớn ở vùng nông thôn rồi mở nhiều vụ tấn cống vũ trang ở Sài gòn. Mỹ tăng cường viện trợ cho Việt nam Cộng hoà với 17.500 cố vấn được đưa đến miền Nam Việt nam. Tuy nhiên, do những mâu thuẫn gay gắt giữa Chính quyền Ngô Đình Diệm với Phật giáo Việt nam được châm ngòi nổ bởi chính người Mỹ cùng với những thất bại đáng kể từ việc chống Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam nên Mỹ quyết định thay đổi chính quyền tại miền Nam Việt nam bằng cuộc đảo chính quân sự như đã được trình bày ở trên: thay thế nền Đệ Nhất Cộng hòa bằng nền Đệ Nhị Cộng hoà. Sau sự kiện này, Mỹ tiếp tục hỗ trợ về cả quân sự lẫn kinh tế cho Việt nam Cộng hoà.

Do bị mất chính nghĩa quốc gia để trở thành lính đánh thuê từ cuối năm 1963 nên Quân đội Việt nam Cộng hoà bị thất bại liên tiếp trên chiến trường. Để cứu vãn tình thế cho Việt nam Cộng hoà, Mỹ đã đưa quân đội đến tham chiến trực tiếp tại miền Nam Việt nam từ Tháng Ba 1965. Binh sỹ Mỹ với số lượng nhiều nhất được đưa đến miền Nam Việt nam lến tới 540.000 người. Chiến tranh bùng nổ ác liệt tại miền Nam Việt nam vào năm 1964. Bên này bao gồm: Việt nam Cộng hoà, Mỹ, Philippines, Thái lan, Nam Hàn, Úc, New Zealand, tham chiến trực tiếp. Bên kia bao gồm: Việt nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt nam tham chiến trực tiếp, còn Cộng sản Tàu, Cộng sản Nga và các đồng minh khác chỉ viện trợ về cả cố vấn lẫn phương tiện.

Sau nhiều cuộc đảo chính liên tiếp, Nguyễn Văn Thiệu được bầu chọn làm Tổng thống cho Việt nam Cộng hoà vào năm 1967, tức là Đệ Nhị Cộng hoà. Sau đó hai năm, Lê Duẩn làm lãnh đạo tối cao cho chính quyền cộng sản tại miền Bắc, thay thế Hồ Chí Minh từ trần vào năm 1969.

Vào đầu năm 1968, Quân đội Cộng sản mở cuộc tổng tấn công vào hầu hết các thành phố chính tại miền Nam Việt nam. Tuy thất bại về mặt chiến thuật nhưng họ đã đạt được mục đích làm cho dân chúng Mỹ mất lòng tin vào Chính phủ Mỹ. Đến Tháng Mười một 1968, Tổng thống Lindon Johnson tuyên bố dừng hoàn toàn “tất cả các cuộc không kích, pháo kích và hải chiến với Bắc Việt nam” đồng thời chấp nhận đàm phán với phe đối phương. Tuy nhiên, vừa kế nhiệm Lindon Johnson chỉ một năm sau đó, Richard Nixon đã thông báo Mỹ sẽ quay trở lại. Richard Nixon cùng với cố vấn Henry Kissinger cho ra đời một chiến lược thích hợp được gọi tên bằng “Việt nam hoá chiến tranh”. Vào Tháng Sáu 1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam tuyên bố thành lập Chính phủ Cộng hoà miền Nam Việt nam. Cùng với những cuộc giao tranh ác liệt trên chiến trường, cả hai bên đều tìm kiếm giải pháp khả thi để chấm dứt chiến tranh thông qua các cuộc hội đàm tại Paris. Mãi đến ngày 27 Tháng Giêng 1973, Hiệp định Hoà bình Paris mới được ký kết giữa bốn bên tham chiến: Mỹ, Việt nam Cộng hoà, Việt nam Dân chủ Cộng hoà, Cộng hoà miền Nam Việt nam.

Lợi dụng Chiến tranh Việt nam bước vào giai đoạn quyết định, Cộng sản Tàu đã tấn công xâm chiếm quần đảo Hoàng sa vào ngày 19 Tháng Giêng 1974 lúc đó đang được làm chủ bởi Chính quyền Cộng hoà tại miền Nam Việt nam.

Sau Hiệp định Paris 1973, Mỹ rút hết quân đội viễn chinh khỏi Việt nam – tiếp tục công nhận chủ quyền độc lập cùng với sự toàn vẹn lãnh thổ cho Việt nam, xác định Việt nam bất khả phân ly. Với điều khoản này, Hiệp định Paris 1973 trên thực tế đã xác lập nền tảng chính trị cho Mỹ ngấm ngầm chủ trương bỏ rơi Việt nam Cộng hoà để Việt nam thống nhất dưới chế độ cộng sản làm cơ sở quan trọng cho một chiến lược lâu dài trong tương lai nhằm ngăn chặn Cộng sản Tàu bành trướng xuống phương Nam 15). Các điều khoản khác quy định đình chiến đồng thời giữ lãnh thổ cho mỗi bên trước khi đình chiến, tổng tuyển cử để xác định chính quyền tương lai ở miền Nam Việt nam. Hiệp định Paris 1973 quy định rõ ràng Mỹ phải triệt thoái quân đội trong vòng 60 ngày. Mặc dù vậy, Chiến tranh Việt nam vẫn tiếp diễn, cả hai bên tham chiến tại Nam Việt nam đều không công nhận điều khoản đình chiến trong Hiệp định Paris 1973. Nhưng do Mỹ rút hết quân đội làm cho Việt nam Cộng hoà với những nhược điểm nội tại đã bị suy sụp nhanh chóng nên Quân đội Cộng hoà cũng bị suy kiệt sức lực sau 10 năm chiến đấu tuyệt vọng, dù đã được khôi phục chính nghĩa quốc gia vào đầu năm 1973 vẫn không thể chiến đấu được lâu hơn mà bị thất bại liên tiếp rồi tan rã nhanh chóng. Đến giữa Tháng Ba 1975, Quân đội Cộng sản mở cuộc tấn công vào Tây nguyên, khởi đầu cho những chiến dịch lớn được thực hiện nối tiếp nhau. Quân đội Cộng hòa bị thất bại liên tiếp lần lượt để mất Tây nguyên, Huế, rồi Đà nẵng, v. v., sau chưa đầy 1 tháng.

Quân đội Cộng sản chiếm được Sài gòn vào ngày 30 Tháng Tư 1975, đặt dấu chấm hết cho Việt nam Cộng hoà, khôi phục sự thống nhất cho Việt nam sau hơn 20 năm chiến tranh tuy chưa thu hồi được quần đảo Hoàng sa.

Thống nhất

Sau hơn 20 năm chiến tranh, Việt nam được tái thống nhất vào ngày 30 Tháng Tư 1975 tuy chưa thu hồi được quần đảo Hoàng sa. Ngày 25 Tháng Tư 1976, một nhà nước thống nhất ra đời được định danh bằng Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam.

Việt nam được kết nạp làm thành viên cho Liên hiệp Quốc vào năm 1977.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan lẫn khách quan, như: chủ trương thống nhất mọi mặt theo tiêu chuẩn miền Bắc (thí dụ, kế hoạch xã hội hoá toàn bộ kinh tế miền Nam nhằm hợp nhất kinh tế miền Nam với kinh tế miền Bắc); nhiều cuộc tấn công quân sự từ phía Tây – Nam được thực hiện liên tục bởi Khmer Đỏ tại Campuchia; thiên tai hoành hành từ năm 1977 đến năm 1978; Cộng sản Tàu tấn công quân sự từ phía Bắc; di chứng chiến tranh hết sức nặng nề; v. v., đã làm cho Việt nam rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Nền kinh tế ngày càng kiệt quệ, đời sống sút kém gây ra một làn sóng vượt biên ra nước ngoài được gọi là Thuyền Nhân (boat people) từ năm 1978.

Đầu thập niên 1980, khủng hoảng xã hội ở Việt nam trở nên gay gắt trầm trọng, tỷ lệ lạm phát lên đến 774,7% vào năm 1986. Cuộc khủng hoảng này đã gây ra áp lực to lớn đòi hỏi phải đổi mới về cả chính trị lẫn kinh tế. Nhưng trước hết phải đổi mới tư duy.

Xung đột vũ trang với các nước láng giềng: cả Khmer Đỏ tại Campuchia lẫn Đảng Cộng sản tại nước Tàu

Sau Chiến tranh Việt nam, do tác động từ Cộng sản Tàu nhằm làm cho Việt nam suy yếu nên giữa Việt nam với Campuchia xuất hiện nhiều mâu thuẫn gay gắt. Tháng Năm 1975, Khmer Đỏ đã tấn công vào cả đảo Phú quốc lẫn đảo Thổ chu thuộc về Việt nam. Từ năm 1975 đến năm 1978, xung đột xảy ra thường xuyên giữa hai bên biên giới. Với sự hậu thuẫn từ Cộng sản Tàu, Khmer Đỏ nhiều lần tiến hành các cuộc đột kích vào sâu bên trong lãnh thổ Việt nam. Theo thống kê, có khoảng 30.000 thường dân cùng với hàng ngàn binh sỹ Việt nam bị giết hại bởi Khmer Đỏ trong các cuộc tấn công dọc biên giới từ năm 1975 đến năm 1978.

Vào Tháng Chạp 1978, Khmer Đỏ mở các cuộc tấn công lớn vào các tỉnh biên giới từ Tây ninh đến Kiên giang, Thị xã Hà tiên bị chiếm đóng. Quân đội Việt nam tổ chức phản công vào Campuchia lật đổ Khmer Đỏ vào ngày 7 Tháng Giêng 1979. Với sự hậu thuẫn từ Việt nam, Heng Samrin thành lập Hội đồng Nhân dân Cách mạng Campuchia vào ngày 8 Tháng Giêng 1979. Khoảng 10 ngày sau, hội đồng này ký kết một hiệp ước đặc biệt với Việt nam, hợp thức hóa cho quân đội Việt nam hiện diện trên lãnh thổ Campuchia.

Đến năm 1989, quân đội Việt nam rút về nước.

Việt nam phản công lật đổ Khmer Đỏ tại Campuchia đã tạo ra lý cớ cho Cộng sản Tàu vốn ủng hộ Khmer Đỏ tấn công xâm lược Việt nam từ phía Bắc. Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Việt nam là côn đồ, phải dạy cho Việt nam một bài học”. Ngày 17 Tháng Hai 1979, Cộng sản Tàu đã dùng một lực lượng quân sự vào khoảng 400.000 quân bất ngờ tấn công vào Việt nam qua biên giới phía Bắc từ Quảng ninh đến Lai châu, sau 3 tuần đã chiếm được thủ phủ tại các tỉnh này. Sau sự yếu thế ban đầu, Việt nam đã tổ chức phản công bằng những quân đoàn thiện chiến được chuyển từ Campuchia lên miền Bắc đã dần giành lại được lợi thế. Đến ngày 18 Tháng Ba 1979, Cộng sản Tàu tuyên bố rút hết quân đội khỏi Việt nam 16).

Sự kiện này đã gây nên cuộc khủng hoảng Hoa kiều ở trong nước. Đầu thập niên 1980, nhiều người Hoa cùng với người Việt gốc Hoa chạy khỏi Việt nam về nước Tàu hoặc gia nhập “thuyền nhân” chạy sang các nước khác. Cuộc chiến này cũng dẫn đến việc cắt đứt quan hệ ngoại giao giữa Việt nam với nước Tàu. Hơn 13 năm sau, hai nước này mới bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1992.

Cũng trong thời gian đó, Cộng sản Tàu đã tấn công Việt nam tại quần đảo Trường sa trên Biển Đông vào ngày 14 Tháng Ba 1988. Họ mở các cuộc hải chiến vào các bãi đá Cô lin, Len đao, Gạc ma, nhưng chỉ chiếm được đảo Gạc ma. Quân đội Việt nam vẫn giữ được các bãi đá Cô lin và Len đao.

VI. Thời kỳ Hội nhập

Thời kỳ này được tính từ năm 1986 đến nay.

Cải cách hoặc “Đổi mới”.

Trước những thách thức nghiêm trọng về cả đối nội lẫn đối ngoại có thể dẫn đến động loạn chính trị, Đảng Cộng sản Việt nam buộc phải thực hiện chính sách đổi mới lấy cải cách kinh tế làm trọng tâm: chuyển đổi hoạt động kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chỉ sau một thời gian ngắn, công cuộc đổi mới đã đạt được một số thành tựu quan trọng: từ một nước nhập khẩu lương thực thường xuyên phải xin viện trợ, Việt nam trở thành một nước xuất khẩu lương thực thuộc về top đầu trên thế giới. Trước năm 1989, Việt nam phải thường xuyên nhập khẩu lương thực nhưng từ năm 1989 đến nay, Việt nam thường xuyên xuất khẩu lương thực từ 1 triệu đến 1,5 triệu tấn gạo mỗi năm; con số đó tăng dần hàng năm: 4,5 triệu tấn (năm 2004), 4,9 triệu tấn (năm 2005), đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo. Lạm phát giảm dần (đến năm 1990 lạm phát còn 67,4%, đến năm 2005 lạm phát chỉ còn 8,5%).

Trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 1995, kinh tế tăng trưởng bình quân về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2% mỗi năm. Đến Tháng Sáu 1996, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đạt trên 30,5 tỷ USD. Lạm phát giảm từ 67,1% (1991) xuống còn 12,7% (1995) và 4,7% (1996).

Năm 2004, Việt nam đã đạt được mức độ tăng trưởng bằng 7,7%, cao hơn mức độ tăng trưởng trong năm trước, đứng thứ 2 ở Đông Nam Á châu, chỉ sau Singapore. Tổng sản phẩm quốc nội đạt 35 tỷ USD, tương đương với GDP từ bang Mecklenburg tại Đức quốc. Sự phát triển mạnh mẽ được thể hiện qua sự tăng trưởng nhanh chóng về kim ngạch xuất khẩu (tăng 30%) cũng như sự tăng trưởng tương tự về sản xuất công nghiệp và hoạt động xây dựng (10,2%). Năm 2005, Việt nam đạt được GDP bằng 8,5%.

Đến nay, Việt nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 167 nước, có quan hệ thương mại với trên 100 nước. Các công ty lớn từ hơn 70 nước khác và vùng lãnh thổ đã đầu tư trực tiếp vào Việt nam.

Năm 1995, Việt nam đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, tiếp đó gia nhập ASEAN, APEC, làm thành viên cho ASEM. Ngày 7 Tháng Mười một 2006, Việt nam trở thành thành viên thứ 150 cho Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Từ khi gia nhập WTO đến nay

Ngày 11 Tháng Giêng 2007, Việt nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 cho WTO sau quá trình đàm phán kéo dài 11 năm. Vào ngày 16 Tháng Mười 2007, Việt nam đã được bầu chọn làm một trong các thành viên không thường trực cho Hội đồng Bảo an Liên hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009. Ngay sau khi gia nhập WTO vào năm 2007, Việt nam bất ngờ phải đối mặt với một số khó khăn nghiêm trọng về kinh tế, do tác động tiêu cực từ khủng hoảng tài chính trên phạm vi toàn cầu vào năm 2008 nên nền kinh tế Việt nam đã tăng trưởng chậm lại. Những khó khăn đó cộng thêm cả tệ nạn tham nhũng lẫn tình trạng quan liêu không chỉ kích thích mạnh mẽ các hoạt động chính trị chống chế độ cộng sản mà nghiêm trọng hơn còn kích thích xu hướng ly khai xảy ra ngay bên trong Đảng Cộng sản Việt nam. Sự thể này đã đặt ra yêu cầu cho Đảng Cộng sản Việt nam phải ngăn chặn xu hướng đó, khắc phục triệt để đối với một số đảng viên cán bộ bị nhìn nhận “suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống” đồng thời xây dựng Đảng sao cho trong sạch vững mạnh theo tiêu chuẩn cộng sản, song song với việc đề cao cảnh giác đối với các thế lực thù địch đang âm mưu thôn tính Việt nam.

Quả thật, các sự kiện tranh chấp trên biển Đông, như tàu địa chấn Bình minh 02 bị cắt cáp hăm doạ bởi Hải giám Tàu, Vụ giàn khoan Hải dương 981 từ nước Tàu đến xâm phạm chủ quyền đối với Việt nam, việc Tàu xây dựng đảo nhân tạo trên Biển Đông, v. v., đã tác động mạnh mẽ đến tình hình chính trị tại Việt nam hiện nay. Tác động đó thúc đẩy Việt nam tiếp tục đóng góp nhiều hơn vào việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN đồng thời hợp tác toàn diện với Mỹ, ký kết các hiệp định thương mại với Nhật bản, Hàn quốc, Liên minh Âu châu.

Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN

Ngày 31 Tháng Chạp 2015, Việt nam tham gia thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community, viết tắt bằng Anh văn: AEC), bao gồm 10 quốc gia thành viên. AEC sẽ mở ra nhiều cơ hội quý báu cho Việt nam đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, nhanh chóng bắt nhịp với sự phát triển kinh tế trên thế giới.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi lớn nhờ AEC ra đời, các doanh nghiệp Việt nam cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Việc cạnh tranh về dịch vụ đầu tư trong ASEAN sẽ làm cho một số ngành nghề hoặc doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, thậm chí rút khỏi thị trường. Các thành viên khác sẽ mở rộng thị trường cho hàng hóa từ Việt nam nhưng đồng thời Việt nam cũng phải mở cửa cho hàng hóa từ các thành viên khác trong ASEAN.

Việc tham gia AEC cũng sẽ là cơ hội lớn để Việt nam đẩy mạnh cải cách thể chế, hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao trình độ phát triển. Tuy nhiên, trong những năm tới, Việt nam cũng đứng trước áp lực to lớn về cải cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ cho cả khoa học công nghệ lẫn năng lực cạnh tranh, trong bối cảnh đặc biệt mà ASEAN nhảy vọt từ Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) lên Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Hiện nay, do vẫn thua kém nhiều nước láng giềng về trình độ phát triển nên Việt nam đang phải đối mặt với áp lực cải cách. Áp lực đó ngày càng to lớn.

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạng cho Việt nam đứng rất thấp về năng lực cạnh tranh vào năm 2015 – 2016, theo đó Việt nam chỉ đứng thứ 56 trên tổng số 144 nền kinh tế. Nền quản lý hành chính rất lạc hậu với nhiều thủ tục rườm rà chỉ phát tác ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực cạnh tranh, dẫn đến chi phí cao về cả thì giờ lẫn tiền bạc cho doanh nghiệp Việt nam, đơn cử như các doanh nghiệp Việt nam phải mất đến 872 giờ/năm để đóng thuế trong khi con số bình quân cho dịch vụ đó ở các nước khác trong ASEAN – 6 chỉ bằng 172 giờ/năm. Thực tế này cho thấy: cải cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ về khoa học công nghệ và năng lực cạnh tranh, đang đòi hỏi cấp bách Việt nam phải cải cách toàn diện trong giai đoạn tới 17).

Việt nam không thể tồn tại cô lập mà phải hội nhập quốc tế để không bị thôn tính bởi Đế quốc Tàu mà có thể tồn tại được bên cạnh Đế quốc Tàu. Nhưng hội nhập quốc tế lại đòi hỏi Việt nam phải cải cách toàn diện, đặc biệt phải cải cách sâu rộng về thể chế chính trị. Hiện nay, Việt nam đang phải đối mặt với cả nguy cơ sụp đổ từ bên trong lẫn âm mưu thôn tính từ bên ngoài, tức Đế quốc Tàu. Một số nhà lãnh đạo cao nhất trong Đảng Cộng sản Việt nam tin tưởng chắc chắn rằng cần phải đấu tranh chống tham nhũng đồng thời phải đấu tranh chống ly khai trong Đảng Cộng sản Việt nam mới có thể đối phó thành công với những thách thức kia. Họ đang thúc đẩy Đảng Cộng sản Việt nam hành động theo quan điểm đó. Nhưng nhiều người khác lại nghi ngờ quan điểm đó. Chưa ai biết được quan điểm nào đúng đắn hoặc sai lầm mà tất cả mọi người quan tâm chỉ biết chăm chú theo dõi mà thôi.

HÀ HUY TOÀN

Ghi chú:

1) Ví dụ xem Thái Phong: Chữ Việt Cổ đã được giải mã? VTC News, Thứ Ba ngày 29 Tháng Giêng 2013 (https://vtc.vn/chu-viet-co-da-duoc-giai-ma-d105379.html); Minh Bùi: Văn lang thời Hùng Vương đã từng có chữ viết riêng? Chúng ta, Thứ Bảy ngày 16 Tháng Tư 2016 (http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/van_lang_da_co_chu_viet_rieng.html); có thể xem thêm thông tin về Chữ viết Việt ngữ tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Chữ_viết_tiếng_Việt) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_writing_in_Vietnam) hoặc Hàn ngữ (https://ko.wikipedia.org/wiki/쯔코아더우). Tính đến Thứ Ba ngày 30 Tháng Giêng 2018, Bách khoa Toàn thư Mở vẫn chưa có thông tin về Chữ việt Việt ngữ bằng các ngôn ngữ khác. Ở đây cần phải khẳng định rằng việc quan tâm nghiên cứu về Chữ viết Việt ngữ trước thời kỳ Bắc thuộc đã cho thấy ý thức dân tộc bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ ở một số người Việt nam ưu tú. Họ đã hiểu đúng rằng không thoát Tàu về Văn hoá sẽ không thể xây dựng được một nền văn hoá nhân văn vừa tân tiến vừa đậm đà bản sắc dân tộc.

2) Cần phải hiểu đúng ý nghĩa sâu xa từ cuộc khởi nghĩa đầu tiên được lãnh đạo bởi hai Bà Trưng. Đó là sự phản ứng tất yếu từ một thể chế tốt đẹp hơn có thể có ở người Việt đối với thể chế chuyên chế dựa trên Nho giáo từ nước Tàu. Cuộc khởi nghĩa này bị thất bại không chỉ mở đường cho chế độ chuyên chế dựa trên Nho giáo từ nước Tàu được áp đặt khiên cưỡng bằng bạo lực vào Việt nam mà còn mở đường cho chính bản thân Nho giáo xâm nhập sâu rộng vào người Việt để người Việt sẽ tự duy trì chế độ chuyên chế dựa trên Nho giáo cho chính mình mà không cần phải bị áp đặt trực tiếp bởi người Tàu nữa. Hệ quả này nguy hại hơn hệ quả kia. Không phải vô cớ mà Tổng thống Mỹ: Donald J. Trump, đã ca tụng hai Bà Trưng khi tham dự Hội nghị Cao cấp cho APEC tại Đà nẵng vào ngày 10 Tháng Mười một 2017. Có thể xem Tổng thống Donald J. Trump phát biểu tại BBC Việt ngữ ngày 12 Tháng Mười một 2017 (http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-41958781).

3) Theo Hán tự, chữ “Nho” (儒) được tạo thành bởi chữ “Nhân” (亻, tức là Người) ghép với chữ “Nhu” (需, tức là Cần thiết hoặc Nhu cầu). Chuyển dịch đầy đủ, “Nho” có nghĩa là người cần thiết cho việc gì đó hoặc người cần được dùng vào việc nào đó. Từ đó suy ra rằng, “Nho” có nghĩa là con người công cụ hoặc con người được dùng làm phương tiện (cho người khác sử dụng). Quả thật, thực tế xã hội đã chứng thực rằng, nho sỹ (hoặc “nhà nho” theo Việt ngữ) chẳng qua chỉ là người cần thiết để các vua chúa trị nước mà thôi, tức là tầng lớp được đào tạo để làm tay sai hoặc đầu sai cho vua chúa cai trị tất cả các tầng lớp dưới (vì tầng lớp nho sỹ “có học” hoặc chỉ làm việc bằng đầu óc nên nói “đầu sai” sẽ chính xác hơn nói “tay sai”). Vậy Nho giáo (儒 教) chính là một hệ tư tưởng vong thân, tức là cái hệ tư tưởng làm cho người ta bị mất mình để người ta chỉ biết tổ chức xã hội theo chính thể chuyên chế đồng thời quen sống thụ động mà phó thác mình cho Vua chúa cùng với tầng lớp cai trị trong chính thể đó. Xem Hà Huy Toàn: Nho giáo – Một hệ tư tưởng nguy hiểm. Dân Luận, cả phần 1 được đăng tải vào ngày 10 Tháng Tám 2015 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150810/ha-huy-toan-nho-giao-mot-he-tu-tuong-nguy-hiem-1) lẫn phần 2 được đăng tải vào ngày 12 Tháng Tám 2015 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150810/ha-huy-toan-nho-giao-mot-he-tu-tuong-nguy-hiem-2). Thông qua chính thể chuyên chế dựa trên Nho giáo được áp đặt khiên cưỡng bằng bạo lực cho người Việt nam, người Tàu đã xuyên tạc nhiều sự thật quan trọng về người Việt nam làm cho nhiều người Việt nam mù quáng mà sùng bái Văn hoá Tàu. Ví dụ: chính người Tàu đã phải học hỏi nhiều cái hay từ người Việt nam nhưng người Tàu lại tuyên truyền xằng bậy rằng họ đã giáo hoá cho người Việt nam biết trồng lúa gạo, v. v.. Xem Trần Gia Phụng: Việt nam và Đại nạn Trung hoa. Nghiên cứu Lịch sử, ngày 13 Tháng Sáu 2015 (https://nghiencuulichsu.com/2015/06/13/viet-nam-va-dai-nan-trung-hoa/). Chưa kể người Tàu đã xoá bỏ hoàn toàn Chữ viết Cổ xưa cho Việt ngữ, tức Chữ Việt Cổ, để bắt buộc người Việt nam phải dùng Hán tự làm cho người Việt nam bị lụn bại ghê gớm về cả văn hoá lẫn chính trị trong suốt chiều dài lịch sử từ thời kỳ Bắc thuộc đến nay. Thực trạng xã hội tại Việt nam hiện nay đã chứng thực rõ ràng như vậy.

4) Có thể nghe một ca khúc tuyệt vời về Việt ngữ trên Internet (https://www.youtube.com/watch?v=0m-UM6KlMoM).

5) Gọi là tam giáo đồng nguyên nhưng thật ra, vẫn có thể xảy ra xung đột ngấm ngầm giữa Nho giáo với Phật giáo tại Việt nam vào giai đoạn đó. Xem Giáo sư Minh Chi: Quan hệ giữa Nho giáo và Phật giáo ở Việt nam. Nghiên cứu Lịch sử, ngày 24 Tháng Sáu 2014 (https://nghiencuulichsu.com/2014/06/24/quan-he-giua-nho-giao-va-phat-giao-o-viet-nam/); Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – Khoa Văn học, ngày 27 Tháng Hai 2017 (http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/van-hoa-lich-su-triet-hoc/6312-quan-hệ-giữa-nho-giáo-và-phật-giáo-ở-việt-nam.html); Hoa linh Thoại, ngày 2 Tháng Hai 2018 (http://www.hoalinhthoai.com/news/detail/news-1927/Quan-he-giua-Nho-giao-va-Phat-giao-o-Viet-Nam.html); vân vân.

6) Xin hãy lưu ý: Việt nam trải qua nhiều chiến tranh, cả Nội chiến lẫn Kháng chiến, nhưng ở đây tôi chỉ nhấn mạnh một số cuộc chiến tranh lớn nhất mang tính chất nội bộ nhằm làm sáng tỏ tác dụng tai ác từ Nho giáo đối với người Việt nam mà thôi. Độc giả có thể xem thêm thông tin về các cuộc chiến tranh liên quan đến Việt nam tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Các_cuộc_chiến_tranh_liên_quan_đến_Việt_Nam) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_wars_involving_Vietnam) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Liste_des_guerres_du_Viêt_Nam), v. v.. Tính đến ngày 2 Tháng Hai 2018, Bách khoa Toàn thư Mở vẫn chưa có thông tin này bằng Tàu ngữ. Có lẽ người Tàu không muốn cho thế giới biết ảnh hưởng tiêu cực từ Văn hoá Tàu đến người Việt nam?

7) Chữ Quốc ngữ ra đời nhờ các Giáo sỹ Công giáo đến từ Tây phương, trong đó vai trò quan trọng nhất có lẽ thuộc về Alexandre De Rhodes (1591 – 1660). Xem thông tin về Alexandre De Rhodes tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Alexandre_de_Rhodes) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Alexandre_de_Rhodes) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Alexandre_de_Rhodes) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Александр_де_Род) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Alexandre_de_Rhodes) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/亞歷山德羅_(傳教士)), v. v.. Chính A. Rhodes đã thảo soạn “Từ điển Việt nam – Bồ đào nha – Latin” được xuất bản tại Roma vào năm 1651. Đương thời, hầu như không ai nhận thấy ảnh hưởng quan trọng hết sức sâu xa từ sự kiện này đối với Dân tộc Việt nam trên con đường thoát Tàu dẫn đến nền văn minh. Có thể nghe lại ca khúc tuyệt vời về Việt ngữ trên Internet (https://www.youtube.com/watch?v=0m-UM6KlMoM).

8) Xem chú thích 3 ở trên đây.

9) Cần phải chú ý đặc biệt rằng: hầu như toàn bộ phong trào giải phóng tại Việt nam vào thế kỷ XX, bao gồm tất cả các đảng phái chính trị, cả quốc gia lẫn cộng sản, đều dựa dẫm vào nước Tàu để vừa chống Tây (cả Pháp lẫn Mỹ, v. v.) vừa chống nhau. Tôi nhận thấy toàn bộ phong trào đó đều rất yêu nước nhưng vì cùng dựa dẫm vào nước Tàu nên các đảng phái kia càng yêu nước sẽ càng chống nhau mạnh hơn. Đó chính là nguồn cơn sâu xa đã dẫn đến mọi tai hoạ cho Dân tộc Việt nam trong thế kỷ XX, đặc biệt các cuộc Nội chiến Tương tàn từ năm 1945 đến năm 1975, làm cho Việt nam vẫn chưa được giải phóng mà còn có thể bị lệ thuộc vào người Tàu, ít nhất cũng bị lệ thuộc về tư tưởng. Tại Việt nam hiện nay, phong trào chống cộng sản cũng như phong trào dân chủ từ trong nước đến hải ngoại tuy không dựa dẫm vào nước Tàu mà còn có thể chống Tàu nhưng nếu còn ấu trĩ về tư tưởng thì cũng khó mà tránh khỏi bị thao túng bởi người Tàu.

10) Một số tài liệu bí mật mới được giải mật gần đây cho biết quân đội fascist sau Chiến tranh Thế giới Lần thứ Hai cũng đã được đưa từ Đức đến tham chiến tại Đông dương nhưng được chỉ huy bởi các sỹ quan người Pháp. Xem Phạm Cao Phong: Việt Minh giết bao nhiêu lính Đức ở Điện biên”. BBC Việt ngữ, ngày 12 Tháng Chạp 2017 (http://www.bbc.com/vietnamese/forum-42287072).

11) Một số tài liệu bí mật mới được giải mật gần đây đã cho biết: không phải người Mỹ mà chính người Pháp đã xếp đặt Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng cho Quốc gia Việt nam theo yêu sách chính trị từ Ngô Đình Nhu. Xem Nguyễn Gia Kiểng: Ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền như thế nào. Dân Luận, ngày 6 Tháng Mười một 2013 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20131105/nguyen-gia-kieng-ong-ngo-dinh-diem-len-cam-quyen-nhu-the-nao), v. v.. Sự thật đó đã đánh tan luận điệu tuyên truyền cho rằng Ngô Đình Diệm làm tay sai cho người Mỹ hoặc người Mỹ đã xếp đặt Ngô Đình Diệm lên cầm quyền ở miền Nam Việt nam.

12) Xem Trần Thị Vui: Nghị quyết 15 với Cách mạng miền Nam năm 1959. Lưu trữ Việt nam, ngày 20 Tháng Giêng 2016 (http://luutruvn.com/index.php/2016/01/20/nghi-quyet-15-voi-cach-mang-mien-nam-nam-1959/).

13) Xem Hà Huy Toàn: Chủ nghĩa Marx. Dân Luận, ngày 15 Tháng Tám 2015 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150814/ha-huy-toan-chu-nghia-marx).

14) Tình hình thực tế sau này đã thể hiện rõ ràng ba sự thật quan trọng. Thứ nhất, Ngô Đình Diệm không hề làm tay sai cho người Mỹ mà luôn luôn chống lại người Mỹ can thiệp quân sự vào Việt nam. Thứ hai, người Mỹ không hiểu hoặc hiểu sai Việt nam về cả văn hoá chính trị lẫn địa lý chính trị; về văn hoá chính trị, người Việt nam với văn hoá truyền thống chủ yếu dựa vào Nho giáo chưa sẵn sàng chấp nhận thể chế dân chủ khiến việc áp đặt thể chế dân chủ cho người Việt nam sẽ bị phản ứng trái ngược, tức là sẽ dẫn đến hỗn loạn; về địa lý chính trị, chính áp lực đe doạ từ Đế quốc Tàu đã thôi thúc những người cộng sản Việt nam phải quyết tâm thống nhất đất nước bằng mọi cách có thể với mọi giá để có thể sinh tồn bên cạnh Đế quốc Tàu, ý tưởng này trái ngược hẳn với ý tưởng sai lầm ở người Mỹ vốn cho rằng Cộng sản Việt nam chỉ làm tay sai cho Cộng sản Tàu bành trướng xuống Đông Nam Á châu. Thứ ba, nếu người Mỹ không can thiệp quân sự vào Việt nam thì dù Việt nam được thống nhất hay vẫn bị chia cắt, người Mỹ vẫn được hưởng lợi nhiều nhất: nếu Việt nam được thống nhất, dù miền Bắc thắng hay miền Nam thắng hay cả miền Bắc lẫn miền Nam cùng thắng thông qua hiệp thương chính trị, thì người Mỹ sẽ sớm có thêm một đồng minh mới, mạnh mẽ hơn, tại Đông Nam Á châu để đương đầu với Đế quốc Tàu; ngược lại, nếu Việt nam vẫn bị chia cắt thì người Mỹ vẫn có ít nhất một đồng minh cũ, tuy yếu hơn, tại miền Nam Việt nam, gần giống như Nam Hàn quốc tại Đông Bắc Á châu. Vậy trên thực tế, việc can thiệp quân sự vào Việt nam từ năm 1964 đến năm 1973 không chỉ có thể gây nên tổn thất cho người Việt nam mà còn chắc chắn phải gây nên tổn thất cho chính người Mỹ nữa. Nếu người Mỹ không can thiệp quân sự vào Việt nam thì người Việt nam vẫn có thể cắn xé nhau nhưng hậu quả có lẽ không đến mức độ nặng nề như đã xảy ra.
15) Xem Hà Huy Toàn: Mỹ quay trở lại Á châu – Thái bình Dương để làm gì? Dân Luận, ngày 23 Tháng Sáu 2016 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20160622/my-quay-tro-lai-a-chau-thai-binh-duong-de-lam-gi).

16) Xem Grant Evans – Kelvin Rowley: Cuộc chiến tranh giữa những người anh em đỏ – Chân lý thuộc về ai?. Bản dịch Việt ngữ. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà nội 1986. Có thể tìm thấy bản dịch này trên Internet (http://reds.vn/index.php/thu-vien/tu-lieu/1446-red-brotherhood-at-war). Dù lập luận thế nào tác phẩm này cũng phát lộ một sự thật hiển nhiên: chân lý không thuộc về phong trào cộng sản mà chỉ thuộc về các lực lượng dân chủ.

17) Xem thêm thông tin về Lịch sử Việt nam tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Lịch_sử_Việt_Nam) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/越南歷史) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_Vietnam) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Histoire_du_Viêt_Nam) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Geschichte_Vietnams) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/История_Вьетнама), v. v..

Hà Huy Toàn 
Theo Danluan 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT