DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Mong Thủ tướng đừng nói cho sướng miệng: mất cơ hội và nhìn từ Thái Lan (kỳ II và hết) _Trúc Giang – Nam Phương.

E-mail Print

Trúc Giang – Nam Phương 
Theo VNTB 
 

Theo ghi nhận của Việt Nam Thời Báo thì rất nhiều đơn hàng nhập khẩu nguyên liệu để chế biến xuất khẩu đang gặp khó vì rào cản thủ tục hành chánh của cơ quan quản lý Việt Nam.

Thông lệ quốc tế: nhìn từ Thái Lan

Doanh nghiệp ngành thủy hải sản cho rằng thay vì các nhà quản lý Việt Nam loay hoay trong “sáng tạo” các văn bản của nền kinh tế thị trường theo “định hướng xã hội chủ nghĩa”, thì hãy qua Thái Lan để coi quốc gia này giúp đỡ doanh nghiệp bằng các luật lệ ra sao.

Qua tham khảo của VASEP về công tác quản lý đối với sản phẩm thủy sản nhập khẩu của một số nước lân cận thì Thái Lan áp dụng Các biện pháp Cảng vụ (Port State Measures - PSM) cho các sản phẩm thủy sản nhập khẩu từ các tàu cá và tàu chuyên chở nước ngoài.

Ngay khi Thái Lan gia nhập Hiệp định các biện pháp quốc gia có cảng (PSMA) của FAO từ tháng 5 năm 2016, Thái Lan đã áp dụng đầy đủ PSM. Tuy nhiên, mức độ kiểm tra sẽ khác nhau đối với các sản phẩm từ các quốc gia ven biển khác và các nước láng giềng.


Đối với giấy chứng nhận khai thác của EU (C/C), Thái Lan đã cố gắng thiết lập Biên bản ghi nhớ giữa các quốc gia có tàu cá cập cảng Thái Lan để nộp C/C trong khi cập cảng Thái Lan. Tuy nhiên, để có được C/C cho EU ngay khi cập cảng đôi khi không thể được đối với một số quốc gia, vì vậy Thái Lan đã thỏa thuận để nộp chứng từ tương đương khác trong khi cập cảng. Các cơ sở chế biến phải nộp C/C trước khi nộp Tờ khai Chế biến cho DOF.

Cuối cùng, quy định IUU của EU yêu cầu quốc gia tàu treo cờ xuất khẩu hải sản sang EU phải xác nhận nguồn gốc và tính hợp pháp của thủy sản khai thác bằng việc sử dụng C/C. Tuy nhiên, Thái Lan đã thiết lập hệ thống chứng nhận khai thác của Thái đối với tất cả các tàu treo cờ Thái Lan. Hệ thống này nhằm mục đích có một hệ thống truy xuất đầy đủ cho các sản phẩm thủy sản trong toàn bộ chuỗi cung ứng từ đánh bắt đến chế biến và xuất khẩu thành phẩm.

Hiện nay, quy trình cấp C/C của các nước gồm các bước như sau:

(1) Tàu đánh bắt/Tàu chuyên chở cá=> (2) Cập cảng bốc hàng=> (3) Cảng bốc hàng xác nhận lượng hàng thực tế lên cảng => (4) Chủ tàu/chủ hàng lấy xác nhận của cảng mang về trình cho CQTQ nước treo cờ => (5) Cơ quan thẩm quyền (CQTQ) nước treo cờ xác minh/thẩm tra thông tin, khối lượng..=> (6) Cấp C/C cho chủ tàu/chủ hàng.

Với qui trình này, thời gian để chủ tàu/chủ hàng có thể cung cấp C/C cho người mua là ít nhất 1 tháng kể từ ngày nhập khẩu.

Có thể tính chi tiết thời gian cần phải có để cấp 1 C/C như sau: Khâu bốc hàng tại cảng (2) và xin xác nhận của cảng về lượng hàng thực tế (3): ví dụ cụ thể 1 con tàu 3000 tấn cá đông lạnh cập cảng Việt Nam với năng suất bốc hàng bình quân 200 tấn/ngày (nhiều cảng không đạt được năng suất này thì thời gian còn kéo dài hơn) + thêm thời gian làm thủ tục xuất nhập cảnh, xin xác nhận của cảng thì mất ít nhất 20 ngày.

Đó là chỉ tính cho trường hợp 1 con tàu chỉ bán cho 1 chủ hàng, trường hợp 1 tàu vào bán cho nhiều chủ hàng ở nhiều cảng khác nhau, thì thời gian này sẽ tốn thêm nhiều lần. Thời gian để chủ tàu/chủ hàng chuyển hso có xác nhận của cảng về cho CQTQ nước treo cờ xác nhận (4) ít nhất cũng 3-5 ngày. Thời gian để CQTQ xác minh số liệu và cấp C/C(5) ít nhất cũng 5 ngày.

Như vậy, việc thủ tục hành chánh của cơ quan quản lý Việt Nam yêu cầu doanh nghiệp phải nộp C/C trong hồ sơ kiểm dịch thủy sản là hoàn toàn không phù hợp với thực tế.

NAFIQAD (Cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản) căn cứ vào Thông báo số 90/BNN-QLCL ngày 21/12/2009 của Bộ NNPTNT trong đó yêu cầu các nước khi xuất khẩu nguyên liệu vào Việt Nam để chế biến xuất đi EU phải đáp ứng đồng thời hai đều kiện liên quan đến VSATTP như sau:

1. Cơ sở sản xuất (bao gồm cả tàu cá) phải có tên trong danh sách đựơc EU công nhận hoặc được cơ quan thẩm quyền của nứơc xuất khẩu kiểm tra và công nhận đáp ứng yêu cầu tương dương với qui định EU về vệ sinh an toàn thực phẩm.

2. Từng lô hàng nhập vào Việt Nam (không áp dụng đối với tàu cá) cung cấp H/C theo mẫu của Việt Nam yêu cầu, trên mẫu H/C này có ghi chú cho phần chứng nhận lô hàng phải ”meet EU requirements”.

Mất cơ hội vì… thủ tục “bất khả thi”

Theo các nhà chế biến thủy sản xuất khẩu Việt Nam, trước đe dọa sẽ gặp thêm nhiều khó khăn trong tương lai gần ở thị trường EU và Mỹ, đang rất cần sự phối hợp đồng bộ trong ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Theo ghi nhận của Việt Nam Thời Báo thì rất nhiều đơn hàng nhập khẩu nguyên liệu để chế biến xuất khẩu đang gặp khó vì rào cản thủ tục hành chánh của cơ quan quản lý Việt Nam.

Đơn cử Thông báo số 90/BNN-QLCL là văn bản dưới luật, chưa nêu rõ dựa vào qui định nào của EU để đưa ra yêu cầu với các nước như vậy [xem thêm về vấn đề này ở bài 3: Thông lệ quốc tế: nhìn từ Thái Lan]. Chính vì vậy một số nước (ví dụ Salomon) chỉ cấp H/C có chứng nhận lô hàng đạt yêu cầu EU (nghĩa là ”meet EU requirements) đối với những lô hàng mà nước họ xuất trực tiếp đi EU và việc cấp EU H/C này phải làm trên hệ thống TRACE. Đối với nước nhập khẩu không phải EU (ví dụ như VN), họ không cấp H/C trên hệ thống TRACE được nên không thể nào cấp H/C có câu chữ ”meet EU requirements” như doanh nghiệp yêu cầu.

Rất nhiều nước xuất khẩu - ví dụ Nhật Bản, Maldives, Senagal Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc... họ có form mẫu định sẵn theo qui định của quốc gia họ nên không thể chèn thêm câu chữ như nhà nước Việt Nam yêu cầu ”meet EU requirements”.

Một số lô hàng nhập khẩu về Việt Nam bằng container, tuy nhiên do lô hàng đánh bắt trên ngư trường, được vận chuyển bằng tàu cá (có quốc tịch Đài Loan, Hàn Quốc…) đến cảng ngoại quan (bounded port) ở Thái Lan để dỡ hàng một phần lượng hàng trên tàu đóng vào container và xuất về Việt Nam. Việc dỡ hàng tại cảng ngoại quan để đóng vào container xuất về VN được thực hiện bởi đại lý vận tải (freight forwarder) của chủ hàng (là người bán ở Nhật, Singapore…).

Việc dỡ hàng và đóng hàng vào container được giám sát chặt chẽ của Hải quan của cảng ngọai quan đó. Do đó người bán không thể lấy H/C cho lô hàng với lý do như sau:

Thứ nhất, Thái Lan không cấp H/C cho chủ thể ở nước khác (vì tàu cá là của Đài Loan, Hàn Quốc, chủ hàng thì lại ở Nhật, Singapore..). Hơn nữa đối với cảng ngoại quan, đây là nơi được xem như khu vực không thuộc kiểm soát của nội địa Thái Lan mà do hải quan ngọai quan kiểm soát, không thể nào yêu cầu cơ quan nào cấp H/C cho lô hàng không thuộc quyền quản lý của họ.

Thứ hai, Đại lý vận tải chỉ đại diện chủ hàng để thực hiện các việc logistic: dỡ hàng, đóng hàng và làm thủ tục xuất container về Việt Nam.

Thứ ba, chủ hàng (Nhật, Singapore..) thì không thể yêu cầu cơ quan thẩm quyền của nước mình cấp H/C cho lô hàng vì lô hàng không cập cảng Nhật, Singapore.

“Thế nhưng theo qui định của Nhà nước Việt Nam thì khi doanh nghiệp trong nước nhập khẩu bằng container thì bắt buộc phải có H/C cho lô hàng, vì vậy doanh nghiệp không thể đáp ứng được nên mất cơ hội”. Bà Nguyễn Thị Thu Sắc, Chủ tịch Ủy ban hải sản VASEP, cho biết.

Những kiến nghị đang tiếp tục chờ đợi

Ghi nhận của Việt Nam Thời Báo thì VASEP đã nhiều lần phát hành văn bản kiến nghị cụ thể với cơ quan quản lý nhà nước, song mọi chuyện vẫn chưa thấy có những động thái sửa đổi thích ứng.

11 yêu cầu cụ thể được VASEP đặt trên bàn của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc như sau:

1. Không yêu cầu doanh nghiệp nộp C/C trong hồ sơ kiểm dịch động vật thủy sản, thay vào đó, doanh nghiệp có thể cung cấp giấy chứng nhận của thuyền trưởng “captain’s statement” hoặc Giấy xác nhận của người bán (bản sao có xác nhận của doanh nghiệp). Doanh nghiệp sẽ nộp C/C cho Trung tâm vùng của NAFIQAD khi nộp hồ sơ xin cấp Xác nhận nguyên liệu thủy sản có nguồn gốc từ nhập khẩu cho lô hàng xuất khẩu đi EU của mình (tức là nộp C/C vào thời điểm đăng ký xuất khẩu lô hàng)..

2. Đối với những lô nguyên liệu nhập khẩu không có H/C do cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu cấp thì cho phép Cơ quan thẩm quyền Việt Nam (Cơ quan Thú y hoặc NAFIQAD) tiến hành lấy mẫu kiểm tra, phân tích rồi cấp H/C để doanh nghiệp được nhập khẩu vào Việt Nam.

3. Đối với lô nguyên liệu nhập để sản xuất xuất khẩu đi EU: nếu lô hàng đã đáp ứng qui định IUU1005 nhưng chỉ thiếu H/C hoặc H/C không có câu chữ “meet with EU regulation” như cơ quan thẩm quyền Việt Nam yêu cầu, thì cho phép Cơ quan thẩm quyền Việt Nam (Cơ quan Thú y hoặc NAFIQAD) tiến hành lấy mẫu kiểm tra, phân tích để chứng nhận cho lô nguyên liệu đủ điều kiện để xuất khẩu sang EU.

4. Phải thêm điều khoản cho phép “khai điều chỉnh, bổ sung” cho việc chứng nhận kiểm dịch vệ sinh an toàn thực phẩm đối với trường hợp nhập khẩu nhập khẩu sản phẩm động vật thủy sản làm nguyên liệu gia công, chế biến thực phẩm xuất khẩu; sản phẩm động vật thủy sản nhập khẩu từ tàu cá nước ngoài.

Lý do: Các lô nhập trực tiếp từ cá tàu gồm nhiều loài trộn lẫn, khi phát hành chứng từ người bán chưa xác định được số lượng từng lòai nên số lượng trên chứng từ chỉ là tạm tính. Doanh nghiệp cân cứ vào chứng từ người bán gửi để đăng ký kiểm dịch với Thú y vùng để làm thủ tục nhập hàng.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (giữa) dự khai mạc Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) 2017 

Vào thời điểm Thú y kiểm hàng chưa thể xác định được số lượng từng loài. Qui định của Thông tư 26 là 2 ngày sau khi kiểm hàng thì cấp giấy chứng nhận. Vào thời điểm nhận giấy chứng nhận cũng chưa xác định được số lượng từng loài cho đến khi người bán cho đại diện đến để cùng doanh nghiệp phân loài, phân size cỡ. Sau khi có kết quả phân size cở thì người bán mới có số liệu để nộp về quốc gia treo cờ (nước ngoài) để xin cấp C/C.

Chính vì đặc thù như vậy nên số lượng trên giấy chứng nhận của Thú y khác với số lượng thực nhận và số lượng trên C/C. Vì sự khác biệt này mà NAFIQAD từ chối cấp Giấy xác nhận cam kết sản phẩm thủy sản xuất khẩu có nguồn gốc từ thủy sản khai thác nhập khẩu và H/C cho lô hàng xuất khẩu của doanh nghiệp.

Các lô hàng nhập khẩu bằng container thì số lượng thực nhận cũng có sự chênh lệch, tuy không nhiều nhưng luôn luôn có. Cần phải cho điều chỉnh bổ sung trên chứng nhận kiểm dịch vệ sinh an toàn thực phẩm để phù hợp với hồ sơ nhập hàng của doanh nghiệp.

5. Bổ sung vào dự thảo sửa đổi Thông tư số 26/2016/TT-BNNPTNT các quy định theo hướng phân luồng doanh nghiệp xanh, đỏ, vàng để làm căn cứ miễn kiểm tra, kiểm tra theo tần suất, không áp dụng kiểm tra 100% tất cả các lô hàng nhập khẩu như hiện nay theo đúng tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết 19/2017/NQ-CP của Chính phủ.

6. Đề nghị tách hàng mẫu ra khỏi Khoản 3 Điều 4 và Điều 14 của dự thảo và quy định một mục riêng cho hàng mẫu, trong đó không yêu cầu H/C và không yêu cầu kiểm hàng.

7. Điều chỉnh lại thời hạn của Giấy chứng nhận kiểm dịch vệ sinh an toàn thực phẩm, hiện tại chỉ cho có 2 tháng là chưa phù hợp, vì nhiều khi doanh nghiệp nhập hàng nhưng chưa sử dụng ngay. Đề nghị Cục Thú ý tham khảo các quy định quốc tế để có thời hạn phù hợp hoặc cho phép doanh nghiệp tự khai báo.

8. Đối với hàng xá, hàng nhập bằng carton nhưng dùng để sản xuất xuất khẩu, không tiêu thụ trong nước thì không yêu cầu dán nhãn trên thùng.

9. Đối với trường hợp nhập vào, xuất ra từ kho ngoại quan, có xảy ra trường hợp:

Một lô hàng do doanh nghiệp A nhập từ nước ngoài theo loại hình sản xuất xuất khẩu (lúc nhập đã nộp H.C gốc cho Thú y), do size cỡ không phù phải tái xuất bán cho khách hàng B ở nước ngoài, khách hàng B yêu cầu doanh nghiệp A xuất vào kho ngoại quan, khi khách hàng B tìm được khách hàng C tại Việt Nam và bán lô hàng đó cho C, khi C làm thủ tục nhập hàng từ kho ngoại quan thì không có H/C để làm thủ tục nhập vào Việt Nam theo yêu cầu của Thông tư 26 nên không nhập hàng được (vì H/C gốc trước đó A đã trình hết cho thú y rồi).

Đề nghị dự thảo cần bổ sung qui định cho trường hợp này.

10. Đề nghị Cục Thú y xây dựng một cuốn Sổ tay Hướng dẫn (Handbook) về Thủ tục nhập khẩu thủy sản để chế biến xuất khẩu sang thị trường EU.

11. Đề nghị Cục thiết lập một cơ sở dữ liệu về số liệu báo cáo riêng cho dòng hàng thủy sản nhập khẩu để chế biến xuất khẩu sang thị trường EU.

_____

Bài liên quan:

Mong Thủ tướng đừng nói cho sướng miệng: EU đã rút thẻ vàng (kỳ I)

 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT