DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Cuộc Chiến Chưa Tàn(2) _ Trần Nhật Kim.

E-mail Print

2.

                                       Image result for Hoi  ky cuoc chien chua tan 1998

Ngược giòng

            -"Anh Kim, có cần thêm gạch nữa không?"

            Kim bước lên giàn xây, nhìn hai chồng gạch thẻ đã xếp cao, anh trả lời bạn:

            -"Ðã tạm đủ gạch, hơn nữa trên giàn không còn chỗ, khi cần tôi sẽ cho anh hay.  Anh giúp tôi kéo thùng đựng hồ xây và cho vữa lên là xong."    Kim khom lưng lấy sức kéo chiếc thùng gỗ đựng hồ xây, mặc dù có bạn ở dưới tiếp sức nâng thùng khỏi mặt đất, nhưng anh vẫn cảm thấy quá nặng. Lưng anh oằn xuống những đốt xương gồ lên cao như muốn thoát ra khỏi lớp da.  Anh thấy nóng rát hai bàn tay, sợi thừng lớn hơn ngón tay như muốn lún sâu vào thịt.  Anh ngả người về phía sau, để sợi giây kéo cọ vào thân tre giàn dáo, như muốn mượn sức cản để không buông rơi chiếc thùng gỗ.              

            Giàn xây rung rinh, có phải vì giàn dáo không buộc chặt, hay đôi chân anh đang run rẩy như sức lực đã vượt thoát ra ngoài thân thể.  Sau khi kéo thùng gỗ đựng hồ xây lên giàn, anh tiếp tục kéo các xô vữa đổ đầy thùng chứa.  Kim múc từng gáo nước dội ướt đầu tường và các đống gạch xếp hai bên.  Trời nóng nên nước tưới thấm nhanh, bùng sôi trên mặt gạch bốc khói.  Gạch nóng bỏng bàn tay.

            Căn nhà đang xây nằm trên đồi cao.   Ðứng ở đây anh có thể nhìn thấy hầu hết cảnh vật xung quanh.  Từ giòng sông Mã dưới chân núi, ôm sát một phần trại, nước mông mênh chẩy xiết như bóng ngựa phi.  Mặt nước phù sa lấn dần vào bìa làng bên kia bờ sông một mầu nâu đỏ.  Những mái tranh nhô lên khỏi mặt nước, thưa thớt các khóm tre bao quanh, ẩn hiện như một cù lao lẻ loi trong biển nước.

            Cách đây không xa là trại mộc mới, do đội hình sự xây xong mấy tháng trước đây.  Căn nhà lớn rộng có vẻ bề thế nhưng vẫn chưa xử dụng được.  Trước khi xây, trại trù tính sẽ lợp tranh, nhưng sau lại đổi ý lợp ngói cho đẹp và bền.  Gỗ đỡ mái không đủ lớn nên mái oằn xuống, dợn sóng như rồng uốn khúc.  Mái nặng đã đẩy dãn cột tường.  Trại cho lấy cây chống xung quanh căn nhà để khỏi đổ,  tính sửa lại nhưng chưa biết cách nào.  Ban giám thị trại dự trù, sau khi căn nhà này hoàn tất, đội Kim sẽ lãnh trách nhiệm sửa lại trại mộc.  Chắc phải rỡ mái xuống trước khi sửa lại cột, vì phần đầu cột xây đã ngả ra ngoài, để lại vết nứt nằm ngang khe hở lọt ngón tay.  Nhưng có gì bảo đảm căn nhà không đổ khi có người trèo lên mái, nhất là lúc gió lớn, mái ngói kẽo kẹt đu đưa như chiếc võng.  Anh có cảm tưởng trại không quan tâm tới tai nạn lao động, nên sinh mạng tù nhân chỉ còn tùy thuộc vào may rủi.

            Như cách đây không lâu, đội anh phụ trách sửa chữa khu cơ quan.  Không hiểu căn nhà làm từ bao giờ, mái tranh đã mục nát.  Khi tháo bỏ hết lớp tranh, nhiều chiếc đòn tay bằng tre đã hư, nước theo chỗ dột ngấm vào vì kèo gỗ, để lại những vết loang lổ.  Anh ngồi trên vì kèo, gạt các cây đòn tay hư xuống đất.  Bất chợt một phần vì kèo bị gẫy, như không chịu nổi sức nặng khi có người di chuyển trên mái, đã lôi anh ngã từ trên nóc xuống nền xi-măng gồ ghề đá xanh.  Anh rơi từ hơn 4 thước cao, hai đầu gối nện xuống đất.  Phần vì kèo gẫy nằm trong vòng tay, một đầu sau khi đập xuống đất bật lên đánh trúng ngực, trước khi hất anh ngã ngồi ra phía sau, đã quật trúng hàm dưới.  Anh cảm thấy đau điếng nơi hông đến thắt lưng, hàm dưới đã xưng lớn.   Kim thật may mắn khi nhìn thấy khúc sống lá chuối dài hơn gang tay trên cắm hàng chục chiếc đinh dài 10 phân, mà anh mang theo khi lên mái nhà, tua tủa như lông nhím nằm trên nền đá giữa hai đầu gối.  Cảm giác đau nơi hàm lấn át cái đau nơi đầu gối.  Toàn thân anh ê ẩm, như các cơ phận rời ra từng mảnh.  Anh duỗi hai chân xem xét.  Hai anh Nguyễn-tôn-Tính và Tô-tứ-Hướng làm cùng với anh hốt hoảng chạy tới, lo lắng hỏi:

            -"Anh có sao không, để chúng tôi đưa anh đi trạm xá."

            Một số cán bộ gần đó đứng nhìn, anh trả lời hai bạn:

            -"Chưa biết có sao không, hy vọng xương đầu gối không vỡ."

            Máu đã chẩy ướt đẫm hai ống chân.  Anh đã mất cảm giác nơi đầu gối.  Mồ hôi và máu trộn lẫn với cát bụi gây xon xót nơi vết thương.  Anh cố đứng lên, nhưng bước đi thật khó khăn.  Ðầu gối đã sưng lên, máu đang rỉ ra từ vết thương.  Anh được hai bạn dìu về trạm xá.  Trạm xá không có thuốc giảm đau, chỉ có thuốc cảm dân tộc, vết thương được chùi rửa bằng nước ấm có pha một chút muối hột.  Anh được nghỉ một ngày vì đầu gối tấy sưng không đi lại được.  Những ngày kế tiếp anh vẫn phải theo các bạn đi lao động.  

            Rồi đến trại mộc cũ nhỏ bé nghèo nàn đã làm từ lâu, chỉ còn lấy mái làm chỗ che mưa.  Một căn dùng làm rèn và gò do anh Trần-Thanh-Tùng, Thiếu Tá binh chủng Công-binh phụ trách, phía sau dùng làm trại mộc và cưa.

            Khu trại hiện ra trước mắt.  Từ cổng vào, về bên phải, căn nhà đầu tiên là khu nhà bếp.  Kế đến là trạm xá nhỏ bé khiêm nhường.  Một sân rộng, mỗi bên có 4 căn nhà xây, dấu mình sau những bức tường cao chỉ thấy nhô lên những mái ngói đỏ au. 

           Giữa sân, nằm sát phía trong là hội trường, nơi sinh hoạt toàn trại.  Không có tường bao quanh, để lộ những hàng cột gỗ lim cao đỡ mái dựng đứng như kiểu nhà Rông của người miền núi Cao nguyên Trung phần.  Hai đầu hồi tranh đã xệ xuống, có chỗ chỉ còn trơ lại xương tre, tả tơi như cánh gà chọi sau lần thua trận.

            Phía cuối trại, sau hội trường, trên nền đất cao là khu kiên giam mới xây xong.  Dẫy nhà 4 căn, tường dầy cỡ ba gang xây bằng đá tảng lớn.  Hai khung cửa sổ rộng có song sắt lớn bằng cổ tay, chiếm gần trọn hai mặt tường trước sau căn phòng.  Một bệ nằm bằng xi-măng cao ngang đầu gối đủ chỗ cho 6, 7 người nằm sát nhau.  Tường xây đã vượt qua ô cửa sổ và cửa ra vào.  Ðội anh đã lãnh trách nhiệm hoàn tất khu kiên giam với mái bằng trộn sỏi.

              Khi căn nhà hoàn tất, Kim bảo Hướng:

-"Chúng ta xây nhà kiên giam cho ta hay bạn ở đây?"

             Hướng cười:

-"Cũng như khi tới trại Nam-Hà, chúng ta hoàn tất căn nhà mới để anh em Hoàng-liên Sơn tới ở.  Nhưng trại cũng cám ơn anh, nhớ tới công sức anh bỏ ra cho căn nhà mới, nên đã cho anh ở đó vài giờ trước khi đi Quyết-tiến Hà-giang."

            Khu kiên giam hoàn tất trông thật bề thế, sẽ là chỗ an toàn và gía lạnh về mùa đông.  Chắc không còn ai có ý định vượt thoát, vì phòng ốc quá kiên cố so với sức người.       

            Dẫy nhà bốn căn trông thật đồ sộ.  Ngoài cửa ra vào, mỗi căn có hai cửa sổ rộng trước sau khiến cán bộ nhìn rõ sinh hoạt bên trong.  Nơi đây dành riêng cho qúy vị Linh mục và Tuyên úy công-giáo các quân binh chủng của miền Nam trước kia.  Anh em trong trại thường gọi là "khách sạn Hilton Thanh-cẩm".  Quả thực trại đã quá lo xa đối với các vị lãnh-đạo tinh-thần, vì với chính-sách ăn cho khỏi chết ngay này, dù cho cửa có mở, các vị cũng không bước nổi chứ đừng nói là có thể chạy được một quãng đường dài. 

            Cách đó không xa, lui hẳn vào phía cuối trại, như ở một nơi riêng biệt, từ ngoài nhìn vào không trông thấy vì bị phòng 5 che khuất, một khu kỷ-luật mới xây thay thế cho nhà kỷ-luật cũ.  Khu kỷ luật mới gồm hai dẫy mỗi dẫy ba phòng nhỏ, vừa đủ chỗ cho hai người nằm trên nến xi măng lạnh ngắt.  Phía cuối bệ nằm là chiếc cùm chân, khoen cùm là một vòng sắt vừa đủ lớn với cổ chân, móc vào một cây sắt một đầu chốt cắm sâu dưới nền xi măng, còn đầu kia thò ra ngoài tường, được khóa phía ngoài. Trong phòng không có phương tiện vệ sinh, ngoại trừ hai “ống bẫu” bằng khúc tre bương được giữ một đầu mặt làm đáy, không có nắp đậy, một để tiểu và một để chứa chất dư thừa của cơ thể.  

            Kim nhớ khi mới tới trại này, nhà kỷ-luật cũ còn nằm trên khoảnh đất xây khu kiên giam bây giờ.  Tới trại vào buổi chiều, nắng đã khuất sau núi, khu trại thật yên lặng vì các đội lao động đã trở về phòng.  Vừa qua khỏi cổng trại, một khối đen sì nằm trên nền đất cao đập vào mắt, khiến người mới tới có cảm giác bị đe dọa, dằn mặt.  Anh được nhìn căn nhà này khi nó còn nguyên vẹn, bao trùm những nét kinh hoàng.

            Anh đã đi qua nhiều trại ở miền Nam, và khi tới miền Bắc, từ trại Ty nhỏ bé Văn-hoà nằm nơi ngoại ô thành phố Hà-nội, đến các trại nổi danh một thời như Ðầm đùn thuộc Hà Nam Ninh, ngược lên miền thượng du sát biên giới Hoa-Việt, cách độ 10 cây số đường chim bay là trại Quyết-tiến Hà-giang, và rồi xuôi về đây trại Thanh-cẩm thuộc tỉnh Thanh-hoá.  Mỗi trại tổ chức nhà kỷ luật một khác tùy theo hoàn cảnh, nhưng có một điểm giống nhau là tăm tối, thiếu vệ-sinh.          

            Không hiểu tại sao tình trạng vệ-sinh tại các phòng kỷ-luật lại tồi tệ đến thế.  Hay Nhà nước nghĩ rằng những kẻ vào đây, dù có tư tưởng không chấp nhận chế độ Cộng-sản hay có hành động không tuân thủ pháp lệnh cuả chế độ một chiều, vì mong muốn có đời sống tự do, đòi hỏi có đủ quyền sống cuả con người, đều đáng chết.  Không cần giữ gìn mạng sống, không cần tồn tại.  Sự nuôi dưỡng vì vậy mà miễn cưỡng, lấy lệ.

            Qua khỏi ô cửa vòng rào kẽm gai vây quanh, căn nhà mái lợp tôn thiếc không có lấy một cửa sổ.  Qua cánh cửa lim dầy, một lối đi ở giữa chiều ngang rộng hơn một thước.  Hành lang quá tối vì mái tôn che mất ánh sáng mặt trời.  Hai bên chia làm nhiều phòng nhỏ, phân biệt bằng những cánh cửa lim lâu ngày đã ngả mầu đen xám.  Trên cửa có một ô vuông duy nhất mỗi chiều rộng hơn một tấc, là nơi cai ngục nhìn vào kiểm soát theo ánh đèn bấm, và cũng là nơi không khí luân chuyển trong và ngoài phòng.  Ô vuông quá nhỏ nên ánh sáng chiếu vào không được bao nhiêu, anh có cảm tưởng vì phòng quá kín, những sợi khói thuốc giống như giải mây trắng bồng bềnh phiêu du rất lâu, trước khi tan biến vào không khí.

            Phòng nhỏ giam hai người thì quá chật, thật khó xoay trở.  Không có phương tiện vệ-sinh trong phòng, nên tù nhân phải xử dụng hai "ống bẫu để chứa đồ dư thừa của thân thể.  Tù nhân phải tập quen với bóng tối, và phỏng chừng khoảng cách từ chỗ nằm tới nơi ống bẫu để lần tìm mỗi khi cần. Vì ống bẫu không có nắp đậy, tù nhân phải chấp nhận hít thở thứ không khí không mấy trong sạch, có hại cho sức khoẻ con người.  Trong phòng ẩm thấp hôi hám, cánh cửa lim hôi mùi rệp. 

            Nghĩ  đến rệp Kim không khỏi rùng mình.  Anh đã mục kích hàng đêm nơi phòng giam tập thể.  Khi đèn bật sáng, rệp đã thả rơi từ sàn nằm phía trên xuống màn người nằm dưới, như chúng ngửi thấy hơi người.  Rệp chui vào màn bò ngổn ngang giết không xuể.  Ấy là hàng tháng đã làm vệ-sinh trong phòng, ván nằm được dội nước sôi thật kỹ.  Mặc dầu trời nóng như lửa đốt, mồ hôi ướt chiếu anh vẫn phải mắc màn để tránh muỗi, ghép màn thật sâu dưới tấm chăn trải nằm, nhưng rệp vẫn chui vào hàng chục con.  Chúng hoành hành không đêm nào yên giấc.  Anh em diễn tả đó là cảnh "thù ngoài giặc trong". Mỗi lần dở tấm chiếu nằm, rệp xếp lớp từng đám trên sàn gỗ, khoanh tròn như trải đậu.

            Trần nhà kỷ luật cao và chắc chắn.  Mặt dưới là một tấm lưới bằng giây kẽm gai đan ô vuông.  Trên lớp kẽm gai là những tấm ván lim dầy cả tấc, ghép sát với nhau bằng đinh đỉa cỡ ngón tay đóng phía trên.  Nhiều lớp bao cát xếp khác chiều nhau đè trên mặt lớp ván trần.

            Trại tin tưởng với sức nặng của bao cát và lớp ván lim dầy kết thành một khối, tù nhân khó có thể thoát ra ngoài bằng lối này.  Nhưng có lẽ với thời gian hết năm này qua năm khác, và khung cảnh tang thương trong phòng tối đã thôi thúc lòng khao khát tự-do, muốn vuột khỏi nanh vuốt của tử thần đang gậm nhấm dần mạng sống.  Và tại đây một cải tạo miền Nam đã vượt thoát ra ngoài.  Mặc dù bị bắt trở lại, bị đối xử tàn nhẫn hơn, nhưng một lần nữa anh đã chứng tỏ cho đám cán bộ trại biết lòng kiên trì, ý chí sắt đá không chấp nhận chế độ cộng-sản của người miền Nam.  Anh được đưa đi trại Quyết-tiến Hà-giang cùng với các anh Nguyễn-vạn-Thọ, Trịnh-Tiếu, Lê-văn-Khương, Trang-minh-Hải, Nguyễn-Xuân, Phạm-dương-Ðạt, Trần-trung-Chi, thêm anh, Lê-văn-Mười cho đủ bát tiên.  Anh em thường gọi đùa anh là "thủ tướng", anh luôn cười nói: "Tôi không quen biết hắn, lỡ trùng tên nhưng vẫn khác họ."

             Anh em đã sống với nhau những ngày thật gian truân.  Chia nhau những bữa no, hưởng chung những ngày đói, nếm cùng những tủi nhục.  Những tưởng sẽ dắt díu nhau lên "đồi Bà Then", nằm trên sườn đồi phía sau trại, là nơi dành cho những người "cải tạo tốt" mà Nhà nước quan tâm, cho họ làm nơi an nghỉ cuối cùng.

            Rồi vùng biên giới bất ổn, quân đội của "hậu phương lớn anh em" tràn xuống đánh phá, anh em cải tạo miền Nam rời trại Quyết-tiến về đây.  Ngoài số gần một trăm Biệt kích ra Bắc từ thập niên 60 chuyển về trại Lam-sơn, còn lại 48 người về trại Thanh-cẩm.  Với con số 48 người lên Quyết-tiến đã tới từ các trại Nam-Hà, Thanh-Cẩm, Hà-Tây, Tuy-Hòa đến Hoàng-liên sơn.  Gồm các vị lãnh đạo tinh thần, thành phần mà chế độ cộng-sản vốn có thành kiến không thể kết hợp, số còn lại là những người, mà bọn cán-bộ đã nêu danh đầu gấu, có thành tích chống đối tại các trại cải tạo.  Chỉ một sớm một chiều, nằm chưa ấm chỗ, các vị Linh mục Tuyên-úy được đưa lên khu kỷ-luật cũ khi chưa có khu kiên giam như bây giờ.  Trong số các vị Linh mục lên khu kỷ luật, có LM Nguyễn-hữu-Lễ, người đã cùng với các anh bắt đầu hành trình từ trại Gia-rai Long-khánh, xuống chung chuyến tầu Sông Hương ra Bắc.  Ðến Nam-hà vùng đầm lầy nước đọng, ngược lên Quyết-tiến rồi về đây Thanh-cẩm.

            Anh em còn lại vỏn vẹn mấy chục người, được lập thành đội xây dựng.  Cả đội không có bao nhiêu đồ nghề, ngoại trừ chiếc cưa tay nhỏ, một tràng một đục, vài chiếc cuốc xẻng.  Kim ngao ngán nhìn thấy bạn hữu của mình qủa thật xơ xác, vật vờ.  Trại bảo đó là thời gian thử thách, nhưng anh vẫn cảm thấy đó chỉ là hành động đầy ải, hành hạ.  Hay trại vẫn có ý đề phòng một tập thể đã có những hành động bất phục tòng chế độ, có phương tiện tạo những dịp vượt thoát.  Chỉ tiêu công tác đưa ra, thiếu dụng cụ anh em phải dùng những cây sắt nung đỏ để đục lỗ các vì kèo tre.  Các bạn trong trại nhìn đội của Kim mà tức cười, một đội từ thể xác đến tinh thần đã tơi tả như gà mắc mưa, như tầu chuối gặp ngày giông bão. Có người không dám liên hệ với đám Quyét-tiến như sợ lây phải những điều bất hạnh, sự nguy hiểm mà cán bộ trại đang giăng màng lưới để vồ bắt những phần tử còn manh nha chống đối.

            Kim nhớ tới anh Ðặng-văn-Tiếp, người đã để lại cho các bạn trong đội một kỷ niệm đau buồn, chua xót.  Gặp anh ở trại Quyết-tiến Hà-giang, hai người đã chung nhau một chiếu nằm trong khu O. Rời trại Quyết-tiến và về đây Thanh-cẩm.

            Rồi anh Tiếp đi kỷ-luật như các anh em khác, cũng chẳng cần hiểu tại sao.  Anh ở kỷ-luật hết tháng này qua tháng khác, thỉnh thoảng mới nhìn thấy anh ra sông tắm vào giờ trước khi đội lao động trở về.  Trông anh càng gầy và xanh hơn trước.  Kim nhớ mãi hình ảnh khi đội nghỉ lao động về tới cổng trại, nhìn lên bậc tam cấp đường lên khu kỷ luật, anh em kỷ luật đi tắm trở về phòng.  Một dây người như những bộ xương biết đi, đang vịn tường lần từng bước trên bậc tam cấp.

            Và vào một buổi sáng sớm ngày 2-5-1979, đám cán bộ trại đã kéo lê thân xác anh trên lối đi đường lên khu kỷ luật.  Nghe nói, anh và bốn bạn tù bị đánh hội đồng.  Những đòn đánh hận thù của đám công-an đã loại anh ra khỏi đời sống.  Xóa tan những ước vọng anh hằng ấp ủ được đóng góp công sức của mình cho đồng bào xứ sở.  Chia cắt vĩnh viễn tình yêu thương anh hằng mong mỏi đợi chờ.

            Những người cùng nhóm với anh có LM Nguyễn-hữu-Lễ, Ðại-tá Trịnh-Tiếu, anh Nguyễn-sĩ-Thuyên và Cao-thành-Văn bị đánh đập thật tàn nhẫn nơi sân trại, thân thể oằn oại rũ xuống như những xác không hồn.  Quần áo tả tơi, bê bết cát bụi và máu đỏ.  Những tiếng kêu đau đớn tắc nghẹn im dần, như không còn hơi sức chịu đựng, chống đỡ.  Anh Tiếp đã chết tại chỗ, bốn người còn lại cũng chẳng lành lặn gì.  Họ được đưa trở lại khu kỷ luật, trút bỏ quần áo trên người, bị đẩy vào căn phòng tăm tối, lạnh lẽo.  Lãnh chịu những hình phạt kỷ luật ngoài sức tưởng tượng của con người.

            Những thân xác kiệt quệ mang đầy thương tích không được chữa trị, đang thoi thóp trên nền gạch nhơ nhớp, trăn trở giữa cái chết và sự sống quá mong manh.  Anh Văn đã qua đời trong phòng kỷ luật sau một tuần lễ bị bỏ đói. Khi chết, chân anh Văn vẫn mang cùm.

            Ðời sống ba người còn lại thật thê thảm, bị bỏ mặc như một hành động phủi tay.  Cả tháng sau LM Nguyễn-hữu-Lễ mới có thể gượng ngồi lên được.  Ông đã nói lớn cho đám cán bộ trại nghe thấy:"...cho tôi một trong hai điều, hoặc là cho tôi một viên đạn để được chết như anh Tiếp, anh Văn hay cho tôi quần áo để mặc.  Tôi là con người chứ không phải là con thú mà sống trần truồng.  Nếu tôi chết trong tù thì thôi, bằng nếu còn sống sót tôi phải nói cho cả thế giới được biết là chưa có chế độ nào đối xử với tù nhân chính trị một cách dã man bằng chế độ cộng-sản Việt-Nam...." 

            Những biến động đột khởi bùng lên, khuấy động khung cảnh vốn tưởng là ổn định an tâm.  Người hy sinh đã nằm yên trong lòng đất, mặc dù chôn cất thật vội vàng.  Giá trị một kiếp người thật rẻ rúng, tầm thường.  Nhưng những người còn ở lại như hưởng lây tính anh hùng bất khuất,  góp gió thành bão, tôi luyện cho lửa đấu tranh.

            Kim chợt nghe tiếng gọi của anh Lê Ngọc Thạch, người bạn xây chung bên kia đầu tường, cắt ngang giòng dĩ vãng trở về.

            -"Anh Kim, anh thử xem tới mức đặt vì kèo chưa?"

            Kim cầm thước đo từ đầu cửa sổ lên mép gạch vừa xây, kích thước đã đúng như dự trù.  Anh bảo bạn nâng giây mực lên mặt tường, dùng thước thủy kiểm soát độ nằm ngang của đầu tường.  Anh dùng dao xây xúc hồ san một lớp mỏng cho các mí gạch dính vào nhau, nhất là nơi đầu cột gạch chỗ đặt vì kèo.

            Nhìn bức tường xây tương đối thẳng anh cười thầm, Xã hội chủ-nghĩa thật ưu việt, cải tạo mọi thành phần trở thành "con người Xã-hội Chủ-nghĩa".  Biến đổi từ tinh thần đến thể xác người trí thức, chuyên viên trở thành lao động chân tay.  Nhìn các bạn trong đội anh đã diễn tả:

                    ...Bác-sĩ Quan cuốc đất,

                       Dược-sĩ Diệm phụ hồ....

            Anh đã đi lên từ công việc hạ tầng, từ đào mương vác đá đến chặt nứa khiêng cây, từ gánh nước tưới rau đến thợ mộc thợ nề.  Và bây giờ cuộc đời anh đang dính liền với dao xây thùng vữa.

            Quả thật, đối với xã hội này anh là một tay mơ.  Khi lọt lòng và lớn lên, anh được nuôi dưỡng trong xã hội gọi là "phồn vinh gỉa tạo".  Mớ văn hóa anh hấp thụ tại miền Nam là thứ văn hóa được mệnh danh "nô dịch".  Anh đã được xã hội mới cải tạo, tôi luyện từ thể xác đến tinh thần.  Phải gột bỏ dĩ vãng, biến đổi thành "con người mới Xã-hội Chủ-nghĩa" có tay nghề vững chắc, mà theo cán bộ trại nhắc nhở nhiều lần về đường lối cải tạo cũng như chính-sách khoan hồng của nhà nước, các anh sẽ nhờ đó mà có cuộc sống ấm no sau này…

            Kim nhớ tới gia đình, anh buông tiếng thở dài.  Ðã lâu anh không có tin nhà.  Không hiểu vợ con anh ra sao, liệu có chống chọi được với đời sống thay đổi quá bất ngờ này không.  Có còn ở chỗ cũ hay đã bị đuổi đi vùng kinh-tế mới vì có chồng cha đi cải tạo.  Còn Bố mẹ anh đã già, biết người còn khỏe mạnh.  Niềm thương nhớ luôn luôn vò xé tâm can anh, nhưng cũng là nguồn an ủi, xoa dịu cuộc sống đau thương của anh hiện tại.  Anh biết mình đang bước vào con đường cùng, nhưng lòng vẫn mong mỏi có cơ hội trở về.  Thời gian trôi qua thật nhanh, thấm thoát đã năm năm…   

 

 

 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT