DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Những Thảm Họa Tại Hoa Kỳ Do Chính Tư Bản Mỹ Tạo Thành_Hồ Đinh.

E-mail Print

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                Image result for Christophe Colomb hay Columbus

Trong lần kỷ niệm 500 năm, đánh dấu ngày Christophe Colomb đã tìm ra Châu Mỹ hay Tân Lục Ðịa. Dịp này đã có nhiều học giả, sử gia, nhà khoa học và khảo cổ khắp thế giới, đưa ra thắc mắc ‘ Phải chăng Colomb là người đầu tiên đã tìm ra Tân Lục Ðịa hay ông chỉ là người đầu tiên tổ chức cuộc họp báo để hợp thức hóa sự có mặt của Châu Mỹ trên bản đồ thế giới ?

Christophe Colomb hay Columbus có gia thế bình thường, cha làm thợ dệt tại Gêne (Tây Ban Nha). Là một vĩ nhân của thế giới nhưng cuộc đời gặp nhiều bất hạnh vì sự đố kỵ của thế nhân nên lúc đương thời, đến nổi đã không lưu lại được một bức chân dung nào của nhà thám hiểm. Ðiều này đã chứng minh tại sao những bức chân dung của Colomb hiện đang lưu hành không đồng nhất và ít giống ông vì các họa sĩ của thế kỷ XVI đã vẽ bằng phương pháp “Identikit”, tức là dựa theo lời kể của những người quen biết, trong đó có con trai nhà thàm hiểm là Ferdinand. Ðại để thì lúc sinh thời Colomb có nước da và tóc màu đỏ, mắt xanh, cao lớn trên 1,65m.

Từ nhiều thập niên qua, rât nhiều học giả đã tìm đủ mọi cách phủ nhận công trình thám hiểm của Colomb nhưng tới nay cũng chỉ là những giả thuyết hoang đường, khó lòng đánh đổ được một sự thật đã được cả thế giới công nhận và ngưởng mộ. Nhưng dù gì chăng nữa, thì công trình thám hiểm của Christophe cũng đã đi vào lịch sử và tâm khảm của mọi người, trong đó có Hiệp Chủng Quốc và các quốc gia thuộc Châu Mỹ. Ngoài ra từ những khai quật được do các nhà khảo cổ tìm thấy gần đây, dựa theo niên lịch khảo sát, có thể xác định họ đã tới đây trước Colmb, gồm những ngư dân Nhật, nhà sư Hui Sen, hoàng tử Madoc, Bjarni, Leif và người Do Thái. Nhưng chính Colmb lại là người đầu tiên đã công bố sự hiện hữu của Tân Lục Ðịa Châu Mỹ cho cả thế giới biết

Hoa Kỳ là một quốc gia thuộc Châu Mỹ, tới nay vẫn còn là một siêu cường số 1 của thế giới về kinh tế, quân sự. Ðó là một Tiểu Lục Ðịa rộng lớn, có lãnh thổ chạy từ bờ Thái Bình Dương qua Ðại Tây Dương, diện tích xấp xĩ với Âu Châu, đứng thứ tư sau Liên Bang Nga (6.592.812 Sq.Ml), Gia Nã Ðại (3.851.787 Sq.Ml) và Trung Cộng (3.691.000 Sq.Ml). Như vậy, tính đến năm 2017, diện tích Hoa Kỳ là 3.623.420 Sq.Ml hay 9.384.658 Km2 và dân số hơn 300 triệu người. Do đất nước quá rộng lớn, còn dân chúng thì tạp chũng, lại có nhiều nền văn hóa dị biệt, tự do quá trớn và cạnh tranh ráo riết để mà sinh tồn. Bởi thế không ai sinh sống trên đất nước này, dù là bản địa hay di dân, người bình thường hoặc Tổng Thống, dám khẳng định nước Mỹ là “thiên đàng hay địa ngục”, vì sự tốt, xấu, may mắn hay bất hạnh.. đều do công ăn, việc làm, tức là Tiền chi phối.

Ngoài các vấn đề trên, đối với người Mỹ cho dù là người địa phương hay di dân, trong thâm tâm bất cứ ai cũng đều mang một sự hãnh diện với thế giới, qua các công trình kiến tạo của tiền nhân suốt 300 lập quốc : phố xá khanh trang, nhà cửa đồ sộ, thư viện đầy ắp báo chí sách vở, chợ búa sạch ngon, bến tàu phi trường tấp nập rộn rịp về cảnh sắc lẩn tình người. Tóm lại dân tộc Hoa Kỳ, dù mới lập quốc nhưng hầu hết đều đạo đức, lương thiện và chan hòa tình thương không biên giới (trong đó có sự cưu mang hơn 3 triệu người VN Tị Nạn Cộng Sản, từ tháng 5-1975 tới nay), nên đã nhanh chóng thu phục được nhân tâm và đứng đầu thế giới về mọi mặt.

Từ sau cuộc chiến VN 1955-1975, Hoa Kỳ vì quyền lợi riêng tư , đã bán đứng nhiều Đồng Minh của mình cho kẻ thù, trong đó có Đài Loan và Đông Dương, nên bị các sử gia trong và ngoài nước Mỹ gọi đó là một nền “chính trị con buôn”. Tóm lại từ khi lập quốc tới nay, nền chính trị Hoa Kỳ qua 45 đời Tổng Thống, đưọc bầu cử rùm beng, tranh giành đến độ long trời lỡ đất nhưng thực chất, đều do một thế lực “tư bản” phía sau hoạch định chính sách và đường lối.

Đó là bọn nhà giàu bất lương, với chúng chỉ có “Tiền” mà không có tổ quốc, đồng bào. Nói chung đối với bọn tư bản Mỹ, nơi nào có thể “kiếm đưọc tiền” là chúng mò đến, tới khi cạn kiệt không còn kiếm được tiền thì chạy … Bọn bất lương này, chẳng cần phân biệt bạn hay thù, phải trái,. Mục đích tối hậu của chúng là “TIỀN”, cho nên, chúng dám bán đứng cả mạng sống đồng bào mình, chà đạp lên xác chết của nhiều người vô tội, phản bội Dân tộc và Tổ quốc Hoa Kỳ. Tóm lại những thảm họa đã và đang xãy ra trên đất Mỹ,từ biến cố trọng đại ngày 9-11-2001 tại New York tới vụ thảm sát 1-10-2017 tại Las Vegas, đều có bàn tay của bọn tư bản Mỹ thò vào. Nên các cuộc điều tra rốt cục cũng chỉ là “điều tra” thế thôi, vì đâu có ai dám mó tới các thế lực của bọn tư bản ?.

1- Từ Chuyện Bán Súng Ðạn Của Bọn Tư Bản Mỹ, Dẫn Tới Những Thảm Hoạ Chết Người Tại Hoa Kỳ : ,

Ðến giờ, nước Mỹ vẫn điên đầu về chuyện súng đạn gần như vô phương giải quyết. Súng đạn đã làm ba vị Tổng Thống Hoa Kỳ thiệt mạng. Súng đã giết tập thể nhiều nam nữ học sinh, sinh viên và thầy cô ngay tại nhà trường. Cũng vì súng mà nhiều thanh thiếu niên đã vướng vào con đường tội lỗi mất hết tương lai. Thê nhưng chính quyền tiểu bang lẫn liên bang vẫn bất lực và người Mỹ cứ tiếp tục là nạn nhân của súng.

Ðây là vấn đề được bàn cải nhiều năm qua câu hỏi đặt ra là “từ thuở lập quốc ông cha ta có thích súng hay không ?” Nhiều người đã trả lời là có khi dẫn chứng lời của ông Richard Henry Lee, đã viết vào Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập Hoa Kỳ ‘ Ðể bảo vệ tự do, điều cần thiết là tất cả mọi người phải luôn giữ vũ khí và được dạy cách sử dụng ngay khi còn trẻ ‘.Nhưng theo nhận xét của giáo sư Michael Bellesiles tại Ðại học Emory thuộc thành phố Atlanta, cho rằng người xưa đâu có thích giữ súng đạn, khi ông dựa vào 1000 hồ sơ lưu trữ từ 1765-1850, phân tích qua các bản di chúc phân chia tài sản đã không thấy ai nhắc tới vũ khí như gươm giáo súng đạn vào thời đó.

Còn các tài liệu liên quan tới lịch sử Hoa Kỳ, có nhắc tới những vụ kiểm kê tại tiểu bang Massachusetts là một trong hai trung tâm sản xuất vũ khí của Mỹ vào năm 1840, cho thấy chỉ có 11% dân số có giữ súng đạn. Ðiều này cho thấy người Mỹ thuở lập quốc không mấy người giữ súng đạn trong nhà. Thật ra thời đó súng đạn rất đắt, chỉ riêng tiền mua một khẩu súng trường Mousqueton, tương đương với tiền kiếm được của một nông dân cả năm. Sỡ dĩ súng quá đắt vì lúc đó Mỹ phải nhập cảng từ Anh, Pháp, Ðức. Ngoài ra còn phải tốn tiền bảo trì súng làm bắng sắt nên mau hoen rĩ không xài được. Do đó chỉ có giới trung lưu trở lên mối có tiền sắm súng riêng mà thôi.

Trước khi xảy ra cuộc nội chiến, Hoa Kỳ chỉ có hai lò sản xuất súng đạn tại Harpers Ferry (Virginia) và Springfield (Massachusetts) nhưng không đủ trang bị cho quân đội. Vì vậy năm 1793 quốc hội Mỹ phải mua 7000 khẩu súng trường và năm sau chỉ còn tiền nhập thêm 400 khẩu nữa mà thôi, để trang bị cho quân chính qui. Với các lực lượng dân quân lại càng thiếu thốn, nên phải dùng gươm giáo thay thế. Năm 1808 liên bang đã cấp súng đạn cho dân da trắng khi họ tình nguyện vào đơn vị dân quân tự vệ. Tuy nhiên đó cũng chỉ là lý thuyết vì mãi tới năm 1839, chỉ có các đơn vị ở Massachusetts mới được trang bị vũ khí đầy đủ mà thôi.

Tóm lại việc phát triển súng đạn tại Mỹ bắt đầu từ cuộc nội chiến Nam Bắc (1861-1865) cũng là thời kỳ đất nước bắt đầu kỹ nghệ hóa. Do đó chỉ trong năm 1864, riêng lò Springfield đã sản xuất tới 600.000 khẩu súng trường, bằng số súng cả nước Mỹ gộp lại trong 70 năm trở về trước. Ngân sách quốc phòng của Bắc quân cũng tăng tới 179 triệu USD (bằng 2,5 tỷ hiện nay) nên tha hồ mua sắm hay sản xuất súng đạn. Nam quân cũng đâu chịu thua, thế là hai phe tha hồ chạy đua phát triển quân sự để dành chiến thắng.

Năm 1865 cuộc nội chiến chấm dứt nhưng chính quyền vẫn không ban hành lệnh thu hồi số súng đạn đã cấp phát . Bởi vậy hầu hết binh sĩ khi được lệnh giải ngũ đã đem vũ khí cá nhân về cất giữ tại nhà. Ðó là lần đại vũ trang cho toàn dân Mỹ với số lượng lên đến vài triệu khẩu, mở đầu cho làn sóng tội lỗi bừng phát vào thời kỳ hậu chiến, mà nạn nhân quan trọng nhất đầu tiên hứng chiu là Tổng Thống Abraham Lincoln. Còn Samuel Colt là tên lái súng đầu tiên của Mỹ trong ngành mua bán vũ khí, dùng tiền bạc hối lộ chính quyền để được luật hợp thức hoá. Ðương sự cũng là nhân vật đã phát sinh nghề vận động hành lang (lobby) của giới buôn bán súng. Tuy vậy việc cho sử dụng súng từ 1870-1880 kể cả vùng Viễn Tây Hoang Dã vẫn chưa chính thức như các cảnh thấy trong phim cao bồi chỉ là thêu dệt quảng cáo. Căn cứ vào các tài liệu còn lưu trữ , thì bạo lực súng đạn đã xảy ra nhiều nhất tại các thành phố lớn ở miền đông, hơn là tại các trang trại đồng cỏ của giới chăn bò. New York mới chính là thiên đường của những tên sát nhân vì là hang ổ của các tập đoàn Mafia Ý lúc đó chuyên buôn lậu rượu, súng đạn và kỷ nghệ gái điếm.

Tới cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ ngày càng có nhiều người giữ súng vì quá rẽ và các điều kiện mua thật dễ dàng, qua nhiều hảng sản xuất vũ khí cũng như sự thay đổi của Hiệp hội súng trường Mỹ (National Rifle Association ố NRA), được thành lập vào năm 1872 và quyết định của quốc hội cho phép quảng bá việc sử dụng súng trường vào năm 1903. Sau đó chính phủ còn đem số súng sản xuất thặng dư tặng cho các câu lạc bộ súng được NRA đở đầu.

Tháng 11- 1963 Tổng thống John F Kenedy bị ám sát bằng súng khiến cho quốc hội phải thông qua luật kiểm soát vũ khí (Gun Control Act) đồng thời cấm mua bán súng qua đường bưu điện. Luật trên được NRA ủng hộ nhưng sau đó lại bị một vài thành viên phản đối như Hanlon Carter (Texas) và cuối cùng đã xóa sổ tổ chức NRA cũ để lập một hội buôn bán vũ khí mới, mà số hội viên vào năm 2000 đã lên tới 2,5 triệu người. Từ đó NRA ngoài việc chống sự kiểm soát việc sử dụng súng đạn của dân Mỹ, mà còn là một đảng phái chính trị, gây nhức nhối cho chính quyền kể cả các vụ ám sát bằng súng mà nạn nhân là tổng thống Reagan và thượng nghị sỉ Brady, tuy cả hai chỉ bị thương không mất mạng.

Vụ thảm sát mới đây ở đại nhạc hội Las Vegas, làm 59 chết, 527 bị thương vào đêm 1 tháng 10-2017. TT Trump đã ra lệnh treo cờ rủ tưởng niệm các nạn nhân trên. Tên sát nhân là Stephen Paddock, 64 tuổi, mướn phòng 5 ngày trước vụ thảm sát tại Mandalay Bay Hotel and Casino, Las Vegas. Theo cảnh sát cho biết vụ nổ súng bắt đầu lúc 10 giờ 8 phút, đương sự tự sát trước khi cảnh sát đến nơi.

Hung thủ từ tầng lầu thứ 32 của sòng bài Mandalay Bay nã súng qua cửa sổ về phía đại nhạc hội “Route 91 Harvest Festival,” đối diện với sòng bài. Cảnh sát cũng tìm thấy ít nhất 10 súng trường trong phòng hung thủ ở. Ngoài ra cảnh sát còn thu được 18 khẩu súng các loại và hàng ngàn viên đạn các loại cùng thuốc nổ tại nhà riêng của đương sự ở ngoại ô Las Vegas.

.2-AI ĐÃ PHÁ VÒNG RÀO AN NINH BẢO VỆ NƯỚC MỸ, ĐỂ XÃY RA BIẾN CỐ 9-11 ?

Theo các tài liệu được công bố sau này, thì có rất nhiều lý do trong đó có hai mấu chốt quan trọng nhất : sự tự do sản xuất Bộ Mã Khóa Thương Mại và Vấn Đề Kiểm Soát Lỏng Lẻo Mọi Phi Trường Nội Địa Mỹ. Trước khi kết thúc Chiến Tranh Lạnh giữa Liên Xô và Hoa Kỳ vào năm 1991 khi đế quốc này tan rã và sụp đổ, NSA là đầu nảo của ngành an ninh chiến lược toàn cầu Mỹ, chuyên cung cấp dữ kiện và tài liệu cho FBI và CIA. Vào thời đó, NSA là cơ quan duy nhất trên thế giới được trang bị những máy móc tối tân, với đầy đủ thiết bị để nghe lén bất kỳ một cú điện thoại nào, từ nguyên thủ quốc gia đến thường dân ở bất cứ nước nào nếu muốn.

Sau khi Liên Xô tan rã thì nhiệm vụ của NSA đã không còn được xem là quan trọng như ngày trước đối với dinh tổng thống hay quốc hội. Thêm vào đó là sự phát triển của máy điện toán, điện thoại di động và hệ thống Internet, đã làm cho NSA như bị thụt lùi trước xu hướng toàn cầu hoá ngành thông tin đại chúng. Nhưng chính “ Bộ Mã Khóa Thương Mại “, mới là một trong những nguyên nhân góp phần khoét lỗ hổng trong vòng rào an ninh bảo vệ nước Mỹ, để cho bọn không tặc khủng bố mới có cơ hội gây nên biến cố kinh hoàng 11-9 tại New York và Hoa Thịnh Đốn.

Thật vậy, chính NSA từng nhiều lần cảnh cáo chính phủ Mỹ rằng “ Phần mềm Bộ Mã Khóa có thể là vũ khí giết người, trong tay bọn khủng bố “. Theo Seymour M.Hersh thì một trong những nguyên nhân khiến NSA không thể rào lại những lổ hổng an ninh bảo vệ nước Mỹ là sự phat triển Bộ Mã Khóa. Vì vậy, không phải đợi đến khi nước Mỹ bị tan tành sau vụ không tặc khủng bố 11-9, quốc hội Mỹ mới đem ra tranh cải om sòm với bọn con buôn tài phiệt, mà nội vụ đã có từ lâu.

Năm 1978 George L Davida tại đại học Wiscosin, muốn đăng ký bản quyền Bộ Mã Khóa vừa phát minh nhưng đã bị NSA dựa vào một điều luật an ninh quốc gia năm 1951 kiện ra tòa. Năm 1993 cuộc chiến trên lại bùng nổ giữa NSA và giới kinh doanh phần mềm, khi tên Tin tặc (Hacker) Philip R Zimmermann tại Boulder (Colorado) tung ra chương trình “ Khóa Mã Pretty Good Privacy (PGP) “ cho phép người sử dụng may điện toán, có thể lập Mã Khóa Thông Tin. Rồi chẳng bao lâu Bộ Mã Khóa này (PGP) tràn ngập trên Internet, khiến cho Zimmermann bị NSA coi như một tên tội phạm vì đã xuất khẩu một laọi đạn dược được coi như là nguy hiểm nhất cho nước Mỹ. Nhưng NSA lại thua cuộc trong vụ kiện kế tiếp, trước thế lực đồng tiền của bọn rài phiệt và lái súng Mỹ.Chính Tổng Thống Clinton lúc đó đã chấp thuận cho giới con buôn được tiếp tục sản xuất phần mềm Bộ Mã Khóa nhưng kèm theo điều kiện là phải cài thêm phần mở đặc biệt gọi là “ Clipper Chip “ để các cơ quan an ninh sử dụng khi cần thiết. Câu chuyện trên đã trở thành trò hề trong giới kinh doanh thời đó khi họ nói “ đã cho bán ổ khóa, đồng thời lại bí mật trao cho kẻ trộm chìa khóa “.

Kế đến là vấn đề An Ninh tại các phi trường nội địa Hoa Kỳ. Và đó là lý do bãi bỏ toàn bộ các chuyến bay sau biến cố 11 tháng 9.năm 2001. Thực tế cho thấy từ lâu, an ninh tại các sân bay và đường bay nội địa Mỹ rât lỏng lẻo, gần như bị bỏ ngõ. Đây là một vấn đề lớn, luôn làm cho các nhà lãnh đạo liên bang cũng như địa phương lo lắng. Nhưng bọn con buôn, tài phiết thuộc giới vận chuyển hàng không trong cũng như ngoài nước bất chấp những lời cảnh cáo, hình phạt, luật lệ được ban hành, sử dụng mọi thủ đoạn để vượt qua các lổ hổng của hàng rào an ninh bảo vệ nước Mỹ.

Chỉ trong năm 2000, đã có 635 triệu hành khách đi và đến các phi trường nội địa bằng các hảng hàng không Mỹ. Theo báo cáo, số lượng vũ khí và chất nổ chính thức bị cơ quan an ninh khám phá trong xách tay mang theo hay hành lý gửi. Nhưng số lượng qua được các trạm kiểm soát thì không ai biết. Khác với các hảng hàng không ngoại quốc chỉ tuyển dụng cựu nhân viên cảnh sát hay an ninh của chính phủ làm việc tại phi trường. Các hảng hàng không Mỹ thì khác, vì chỉ cần có lợi nhuận cao nên đã tuyển dụng nhân viên an ninh tại phi trường rất cẩu thả, lại trả lương thấp..vì thế những người làm công việc này vừa kém khả năng lại thiếu kinh nghiệm. Hơn nữa với đồng lương hạng bét trong bậc thang xã hội Mỹ, nên có được bao nhiêu người thực lòng làm hết trách nhiệm ?

Theo số liệu báo cáo của Văn Phòng Tổng Kiểm Toán (GAO), một cơ quan thanh tra của Quốc Hội và Cơ Quan Quản Lý Không Lưu Liên Bang (FAA), cho biết từ năm 1990-1999 đã có rất nhiều “ sơ sót trong việc khám xét hành lý và hành khách tại các phi trường nội địa “. các nhân viên an ninh tại phi trường đã không dò tìm được quá 20%, những vật dụng nguy hiểm cho sinh mạng hành khánh.

Nhưng bi thãm nhất, là Khủng bố không những chỉ đến từ hành khánh mà còn chính “ nhân viên an ninh đang phục vụ tại phi trường “. Đó là lời điều trần của Alexis Stefani, phụ tá Tổng Thanh Tra Bộ Giao Thông, trước Thương Viện Hoa Kỳ vào tháng 4-2001. Ông cảnh cáo là chánh phủ Mỹ phải chấn chỉnh ngay tình trạng nhân viên đang phục vụ tại phi trường, vì sự tuyển dụng cẩu thả của các hảng hàng không trước tình thế phát triển ồ ạt ngành du lịch trong và ngoài nước. Sau đó Thượng Nghị Sĩ Bailey Hutchison đã đệ trình Quốc Hội Dự Luật Cải Cách An Ninh Phi Trường, dự định sẽ được phê chuẩn vào tháng 11, thì ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã xãy ra “ thảm họa cho nước Mỹ “ .

Ngoài ra còn phải nói đến sự bưng bợ của báo chí Mỹ, luôn thò tay vào quấy đục nồi gạo đang vo, qua những bài viết phê phán các biện pháp kiểm soát chặt chẽ tại phi trường “ rằng là vi phạm quyền tự do công dân và tự do cá nhân “. Hậu quả bắt buộc các hảng hàng không phải sử dụng máy móc nhiều hơn con người hay dùng tới chó khi cấn thiết.

Tóm lại “ sinh mạng của hành khách và an ninh của quốc gia “ nằm trong tay những nhân viên khám xét hành lý và người tại phi trường, chứ không phải là nhân viên quan thuế, cảnh sát hay sở di trú. Câu chuyện về chiếc máy Khám X Quang, trị giá trên 9 triệu USD, có khả năng dò xét được 225 túi hành lý trong 1 giờ, để tìm các vậy liệu gây nổ..do một nhà báo kể trên tờ Economist, khi ông ghé thăm hai nữ nhân viên phụ trách an ninh, một tại phi trường JFK “ hầu như không phân biệt được vật gì “ người thứ hai tại La Guardia “ có nhiều lúc nhân viên kiểm soát không nhìn lên truyền hình “.

Ngày 7-10-2001, liên quân Mỹ-Anh bắt đầu mở chiến dịch Không Kích và đổ bộ tấn công Afghanistan, nơi Bin Laden đang ẩn núp và được che chở. Ngày 13-11, thủ đô Kabul của nước này bị thất thủ. Ngày 7-12-2001, cứ điểm cuối cùng của Taliban tại Kandahar đầu hàng, chế độ Taliban hà khăc khủng bố bị sụp đổ,

Bin Laden may mắn trốn thoát khỏi Afghanistan mãi tới ngày 1-5-2011 (10 năm sau) trùm khủng bố mới bị quân đội Mỹ hạ sát tại một địa điểm trong thủ đô Pakistan.Bin Laden đã không thực hiện được giấc mơ Tiêu Diệt Nước Mỹ và Tây Phương.

Nên đừng vội trach TT Donald Trump sao lại ban hành những sắc lệnh mới, có liên quan tới " di dân " và " an ninh biên giới nước Mỹ ".

TÀI LIỆU THAM KHẢO :
-L’ Epress số ngày 21-9-2001
-Tổng hợp từ báo Time, New Week và USA Today

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 10-2017
HỒ ĐINH

Nguồn Face bơok

Đọc các bài liên quan của cùng tác giả tại đây.

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT