DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Bình luận thời sự Việt Nam trước bản tin : Đại sứ Mỹ đọc 'Nam quốc sơn hà' tại sông Bạch Đằng lịch sử: _Long Điền.

E-mail Print

                                                                                                                                                                                                                                                                                                          Image result for hinh viet thư

Bình luận thời sự Việt Nam trước bản tin :

Đại sứ Mỹ đọc 'Nam quốc sơn hà' tại sông Bạch Đằng lịch sử:

http://vietnammoi.vn/dai-su-my-doc-nam-quoc-son-ha-tai-song-bach-dang-lich-su-54326.html

Ông Ted Osius bày tỏ sự kính trọng đối với lịch sử VN, đất nước nhiều lần đối mặt với kẻ thù trang bị vũ khí hùng mạnh và sử dụng chiến lược khôn ngoan để đánh bại quân địch…

Với nhu cầu xử dụng VN liên kết với Hoa Kỳ chống sự bành trướng côn đồ của Trung Cộng. Đại sứ Mỹ ca tụng công đức tiền nhân VN trong việc bảo vệ bờ cỏi VN trước tên láng giềng hung bạo. 

Nhưng trong lịch sử hiện kim tình hình ngoại giao và quân sự giữa Trung Cộng và Việt Cộng có những điểm mà ông Đai Sứ Hoa Kỳ cần phai thấu suốt như:
 Trong cuộc chiến Việt Nam 1945-1975: HCM và bè lũ CSVN đã từng rước giặc Tàu vào tàn phá quê hương VN. Hồ Chí Minh đã từng ủng hộ chính sách tấn công Miền Nam Việt Nam (MNVN) bằng mọi giá của Mao Trạch Đông. HCM đã từng mời TC đưa 320.000 quân Trung Cộng sang trấn giữ Miền Bắc, để CSBV tung quân cưởng chiếm MNVN.

Suốt 38 năm (1979-2017) qua kể từ sau trận TC tung  600.000 quân đánh chiếm 6 tỉnh Miền Bắc VN  nhiều phen TC lấn chiếm biên giới và quần đảo Hoàng Trường Sa, giết hại nhiều bộ đội CSVN và bắn giết ngư phủ VN, chưa bao giờ CSVN có hành động chống lại sự xâm lăng của TC, không dám kiện TC trước tòa án Quốc Tế, thì làm sao chắc chắn là CSVN sẽ cương quyết sát cánh cùng Hoa Kỳ chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh.

Mấy năm gần đây CSVN mua vũ khí của Nga, Mỹ, Ấn Độ nhưng chưa bao giờ dùng các vũ khí đó ngăn chận sự xâm nhập và khiêu khích của Tàu Cộng.
Hàng trăm vụ tàu chiến TC bắn và sát hại ngư dân VN nhưng chưa bao giờ CSVN dám thưa kiện TC ra tòa và cũng chưa bao giờ đòi TC bồi thường sinh mạng và tài sản ngư dân VN bị TC sát hại!!!

Ngư dân VN hiểu rõ bọn bán nước buôn dân CSVN chỉ bảo vệ đảng và quyền lợi đảng chứ không bảo vệ dân VN.
Sự liên kết giữa Hoa Kỳ và CSVN trong việc ngăn chận TC không có gì bão đảm. CSVN có thể trở mặt bất cứ lúc nào, mang vũ khí tối tân của Mỹ cống nạp TC. 
Chỉ có người dân Việt Nam không Cộng sản mới triệt để chống kẻ thù phương Bắc (Trung Cộng) còn sự hợp tác Mỹ và CSVN hiên nay chỉ là giai đoạn mà thôi. Mỹ nên nhớ bài học CSVN từng làm tay sai cho TC đánh quân đội Hoa Kỳ trong cuộc chiến 1965-1975 trợ giúp MNVN chống làn sóng đỏ và đã có 58.000 chiến sĩ Hoa Kỳ hy sinh cho Tự Do trong cuộc chiến bảo vệ Miền Nam Việt Nam. Năm 1974 Hải Quân VNCH dù sút kém về số lượng tàu chiến nhưng đã chiến đấu oanh liệt chống Trung Cộng cưởng chiếm Hoàng Sa và gây cho TC nhiều tổn thất tàu chiến và sinh mạng theo thống kê như sau:

1-Hải chiến Hoàng Sa 1974 cữa VNCH và Trung Cộng:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hải_chiến_Hoàng_Sa_1974  :

Hải chiến Hoàng Sa là một trận chiến giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc xảy ra vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 trên quần đảo Hoàng Saquần đảo mà cả hai phía đều tuyên bố chủ quyền…..

Năm 1961, chính phủ Việt Nam Cộng hòa ban hành sắc lệnh khẳng định chủ quyền Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam của Việt Nam Cộng hòa. Trong khi đó, Đài Loan (tức chính phủ Trung Hoa Dân Quốc) và Trung Quốc (tức chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) đều không chấp nhận chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo, cả hai chính phủ này đều có chung lập trường rằng Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của người Trung Hoa.

Trong thời gian 1964-1970, Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng hòa chạm súng liên tục trên hải phận Hoàng Sa, nhưng không đưa đến thương vong.[11] Trong thời điểm đó, Việt Nam Cộng hòa cũng thiết lập một sân bay nhỏ tại đảo Hoàng Sa.

 Theo giáo sư Lý Hiểu Binh (Xiaobing Li), Đại học Central Oklahoma trong bài viết gửi BBC cho rằng vào tháng 3/1969, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bắt đầu rút khỏi lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giảm dần từ 16 sư đoàn, gồm 150 nghìn quân xuống không còn đơn vị nào vào tháng 7/1970, đồng thời Trung Quốc giảm viện trợ quân sự và dân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Liên Xô thay thế Trung Quốc trở thành quốc gia hỗ trợ kinh tế, quân sự nhiều nhất cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Trung Quốc ngày càng lạnh nhạt, thay vào đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem Liên Xô là đồng minh quan trọng nhất. Cùng thời điểm này, mối quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc xấu đi.

Tham chiến

Naval Ensign of the People's Republic of China.svg Hải quân Quân đội giải phóng nhân dân Trung hoa

Flag of the South Vietnamese navy.png Hải quân Việt Nam Cộng hòa
Cờ Mạnh như sóng thần.png Thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng hòa

Chỉ huy

Ngụy Minh Sâm
Lưu Hỉ Trung[1]

Đề đốc Lâm Ngươn Tánh

   

Lực lượng

2 tàu quét lôi
2 tàu chống ngầm lớp Krondstadt
2 tàu chở quân cùng 4 tiểu đoàn thủy quân lục chiến

3 khu trục hạm
1 hộ tống hạm
1 đại đội hải kích
1 nhóm biệt kích quân
1 trung đội địa phương quân

Tổn thất

Trung Quốc:
4 tàu bị hư hại
18 thủy thủ chết
67 bị thương

VNCH:
1 hộ tống hạm chìm, 3 khu trục hạm hư hỏng nặng
74 thủy thủ chết
16 bị thương
48 bị bắt làm tù binh
Hoa Kỳ:
1 cố vấn bị bắt

 

 

Kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa bị đình chỉ

  …Ông Nhã cho rằng Việt Nam Cộng hòa đã không có liên hệ nào nhằm phối hợp với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên phương diện ngoại giao cũng như quân sự nhằm tái chiếm Hoàng Sa do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thái độ im lặng khi Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa. Mặt khác, ông Nhã nói Nguyễn Văn Thiệu đã tìm hiểu thái độ và lập trường của Mỹ qua điện thoại, nhưng chỉ nhận được lời trả lời "khó tin" rằng người Mỹ đã "không hề hay biết gì". Dùng từ ngữ "dối trá chính trị", ông Nhã khẳng định Hoa Kỳ đã có sự thông đồng với chính quyền Bắc Kinh khi đó và đã làm ngơ trước hành động của Trung Quốc.[14]

Theo Nguyễn Thành Trung - khi đó là trung úy phi công Không lực Việt Nam Cộng hòa, ngày 19/1/1974, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu điều 5 phi đoàn F-5 bao gồm 120 máy bay và 150 phi công (mỗi phi đoàn có 24 máy bay), 4 phi đoàn ở sân bay Biên Hoà, 1 ở sân bay Đà Nẵng, ra Đà Nẵng chuẩn bị tái chiếm quần đảo Hoàng Sa.[45] 40 năm sau, theo đánh giá của phi công Nguyễn Thành Trung, cựu trung úy, thì việc tái chiếm Hoàng Sa là hoàn toàn khả thi với sức mạnh áp đảo của không quân bao gồm 120 chiếc F-5 đang chờ lệnh ở Đà Nẵng. Thời điểm năm 1974, không quân Trung Quốc chỉ có MiG-21 là loại máy bay có tầm bay ngắn, không đủ nhiên liệu bay ra Hoàng Sa, còn hải quân Trung Quốc chỉ có khoảng 40 tàu ở Hoàng Sa (không có tàu lớn, tất cả là tàu loại nhỏ chỉ có khả năng phòng không yếu). Trong khi đó, mỗi máy bay F-5 đủ sức tác chiến tại Hoàng Sa trong 20 phút, mỗi chiếc mang được tới 3 tấn bom. Như vậy, cứ 3 máy bay đánh 1 tàu thì chỉ cần sau nửa ngày là có thể đánh chìm toàn bộ 40 tàu Trung Quốc. Ông Trung tin rằng "phần thắng là chắc chắn 100%, vì tàu Trung Quốc không thể chạy nổi (do máy bay có cận tốc nhanh hơn rất nhiều), mỗi tàu chỉ cần 1 quả bom là xong... Trung Quốc đi ra Hoàng Sa là bằng tàu thôi, nếu mà diệt hạm đội này là họ cụt ngòi". Các phi công lúc bấy giờ cũng cho rằng chiến dịch khá dễ dàng, chỉ trong vòng 12 giờ là 40 tàu Trung Quốc sẽ chìm hết.[26]

Nhưng cuối cùng, lực lượng không quân Việt Nam Cộng hòa đã nhận được lệnh không được cất cánh. Cũng theo lời thuật của Nguyễn Thành Trung, kế hoạch này cuối cùng đã không được thực hiện do "Mỹ đã cảnh báo Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không được hành động". Ông cho rằng "Nếu ngày đó chiến dịch diễn ra đúng kế hoạch thì bây giờ và các thế hệ con cháu đỡ biết bao nhiêu. Bây giờ Trung Quốc đã chiếm đóng bất hợp pháp ở Hoàng Sa rồi, cái di sản, cái gánh nặng để lại cho các thế hệ con cháu Việt Nam thật là quá nặng nề"[26].

2-Bài học từ Hải chiến Hoàng Sa 1974:

http://nghiencuuquocte.org/2014/06/21/bai-hoc-tu-hai-chien-hoang-sa-1974/ :

 Vì sao Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa

40 năm trước, ngày 19/1/1974, một biến cố trọng đại trong lịch sử Việt Nam hiện đại đã diễn ra – hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc. Sau trận chiến, quần đảo Hoàng Sa – một bộ phận thiêng liêng và không thể tách rời của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm giữ.

Suốt nhiều thế kỷ, Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hòa bình và công khai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền bất cứ quốc gia nào. Từ thế kỷ XVII, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện hiệu quả chủ quyền với hai quần đảo này và luôn bảo vệ các quyền, danh nghĩa của mình trước mưu đồ và hành động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam với hai quần đảo thiêng liêng của mình.

Đầu thế kỷ XX, nhận thấy vị trí chiến lược cũng như tầm quan trọng của biển Đông nói chung và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa nói riêng, một số quốc gia (điển hình là Trung Quốc) đã xâm chiếm bất hợp pháp các vùng lãnh thổ này của Việt Nam.

Trung Quốc luôn coi biển Đông, đặc biệt là các quần đảo của Việt Nam là bàn đạp quan trọng để thực hiện chiến lược bành trướng xuống Đông Nam Á. Vì vậy, giới cầm quyền Trung Quốc từ Trung Hoa Dân Quốc cho đến Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã không ngừng đẩy mạnh thực hiện âm mưu độc chiếm biển Đông.

Lợi dụng tình hình rối ren khi Nhật đầu hàng đồng minh và việc giải giáp quân Nhật theo Hiệp định Postdam 1945, Trung Hoa Dân Quốc đã đem quân chiếm giữ đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa) vào cuối năm 1946. Sau đó Trung Hoa Dân Quốc rút quân khỏi Hoàng Sa, và Nhật rút quân khỏi quần đảo này theo Hòa ước San Fransisco 1951. Sau khi Hiệp định Geneva 1954 được ký kết, Pháp rút khỏi Đông Dương, ngày 21/1/1956 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đưa quân chiếm đóng đảo Phú Lâm và Lin Côn.

Năm 1974, nhận thấy thời cơ đã chín muồi, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực toàn bộ nhóm đảo Trăng Khuyết phía tây nam quần đảo Hoàng Sa. Thời cơ này xuất phát từ tình hình, bối cảnh quốc tế và trong nước.

Đầu thập niên 1970, phong trào phản đối chiến tranh tại Việt Nam diễn ra sôi nổi và rộng khắp trên thế giới khiến Mỹ ngày càng xa lánh Việt Nam Cộng hòa; đặc biệt sau khi ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh phải rút quân khỏi Việt Nam. Do không muốn tham gia vào một cuộc chiến đã bước vào hồi kết, tháng 6/1973 Lưỡng viện Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật “Case-Church” cấm cơ quan hành pháp nước này tái can thiệp quân sự vào ba nước Đông Dương trừ khi được chấp thuận của Lưỡng viện.

Ngoài ra, Mỹ được cho là có một “toan tính” sâu xa hơn khi không can dự vào trận Hải chiến 1974 vì khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đều đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa. Việc Washington “làm ngơ” cho Bắc Kinh ngang nhiên chiếm Hoàng Sa sẽ tạo thù địch giữa Hà Nội và Bắc Kinh, dẫn đến chia rẽ giữa các nước cộng sản. Khi người “bảo trợ” đã ra đi, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa rơi vào tình thế đơn độc và bất lợi trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa.
Ngưng trích.

3-Trận hải chiến Gac Ma 1988 giữa Hải Quân CSVN và Hải Quân Trung Cộng:
 Ai ra lệnh không được nổ súng trong trận Gạc Ma?
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/who-ord-no-fir-in-garma-03122015052720.html

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-03-12

Tàu chiến Trung Quốc trực xạ bắn vào tàu vận tải công binh của Việt Nam khiến 64 chiến sĩ Hải quân VN đã hy sinh cùng với lệnh không được nổ súng...

Files photos

Mỗi năm vào ngày 14 tháng Ba, hình ảnh cuộc tàn sát 64 bộ đội công binh Quân đội Nhân dân Việt Nam lại ám ảnh gia đình họ và người có quan tâm. Những cái chết này là một sự kiện lịch sử cần phải làm rõ ai là thủ phạm trực tiếp, trói tay bộ đội bằng chính sách kềm chế trước đội quân hung hãn Trung Quốc

Lệnh không được nổ súng

Từ đầu năm 1988 Trung Quốc đã có những hành động lấn chiếm các đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa bằng cách đưa hai chiến hạm thị uy chung quanh khu vực. Trước hành động khiêu khích công khai ấy Việt Nam đã khởi động chiến dịch có tên Chủ quyền 88 viết tắt là CQ-88 bằng cách gửi bộ đội công binh mang vật liệu xây dựng tới nhóm đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma để xây dựng các cơ sở tại đây nhằm khẳng định sự có mặt của Việt Nam trên nhóm đảo quan trọng này.

Tuy biết trước sự hiếu chiến và quyết tâm chiếm đảo của Trung Quốc nhưng bộ đội công binh Việt Nam lại không được trang bị vũ khí và quan trọng hơn nữa họ được lệnh không được bắn trả lính Trung Quốc. Chỉ một vài bộ đội trên tàu mang vũ khí cá nhân và nhóm bộ đội tiến vào cắm cờ trên đảo Gạc Ma đã tay không đối diện với giặc. Anh Nguyễn Văn Thống một người sống sót trong khi tiến vào Gạc Ma xác nhận với Đài Á Châu Tự Do lệnh không được nổ súng này

-Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bất kỳ giá nào cũng không được nổ súng.

Câu chuyện của 27 năm về trước vẫn nằm im trong những trang sử của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lời kể của những bộ đội công binh không đủ sức thuyết phục dư luận cho đến khi chính một vị tướng chính thức lên tiếng về việc này. Ông là thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, từng giữ chức Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam nói trước cuộc tọa đàm kỷ niệm cuộc chiến Gạc Ma do Trung tâm Minh triết tổ chức vào năm ngoái, Tướng Lê Mã Lương cho biết:

-Nó có một câu chuyện như thế này: Có đồng chí lãnh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như đánh chiếm cái đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa. Không được nổ súng! Và sau này nó có một câu chuyện và nó đã được ghi vào tài liệu mà ta đã rõ rồi là khi trong một cuộc họp của Bộ Chính Trị, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đập bàn và nói là ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?

Những người lính hy sinh đầu tiên ấy cộng thêm con số bộ đội bị quân Trung Quốc sát hại nâng lên 64 người là một vết thương lớn cho người lính bất cứ quân đội nào khi họ không được cầm súng chống lại quân thù, tướng Lê Mã Lương chia sẻ:

-Trong lịch sử của Hải quân Nhân dân Việt Nam chưa có trận nào mà hải quân ta chỉ có mấy phút thôi chúng ta chết đến hơn nửa đại đội. Không có chuyện lịch sử Hải quân, lịch sử của các đơn vị chiến đấu bộ binh chỉ trong mấy phút mà tiêu như thế, trừ bom, nó bỏ trúng đội hình đang hành quân hoặc là nó thả trúng đội hình đang đóng quân còn trong đánh nhau ta cũng trong thế chủ động thì không có chuyện đó. Cho nên đó là cái nỗi đau mà nỗi đau này nó âm ỉ và nó sẽ đi với người lính cho tới khi kết thúc sứ mệnh trên cái đất này.

TS Nguyễn Văn Khải người tham dự buổi hội thảo cho biết nhận xét của ông về việc tướng Lương công khai điều mà Bộ quốc phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam giấu kín sau sự cố Gạc Ma:

-Câu đó của Lê Mã Lương là hoàn toàn đúng bởi vì những năm 80 tôi là TS Thiếu tá và có anh họ là Lê Ngọc Hiền là Thứ trưởng Quốc phòng, Lê Trọng Tấn là Tổng Tham mưu trưởng quân đội cho nên những chuyện này chúng tôi biết cả.

Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh

Ông Nguyễn Khắc Mai giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Minh Triết cho biết vai trò của ông Lê Đức Anh lúc ấy là Bộ trưởng Quốc phòng, người được xem là đã ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng:

-Ngài Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh đã ra cái lệnh như vậy mà anh Lê Mã Lương đã tường thuật trong hội thảo tưởng niệm Gạc Ma của chính Trung tâm Minh Triết tổ chức ở Khách sạn Công đoàn năm ngoái, thì bây giờ ta phải công khai cái này.

Một Bộ trưởng Quốc Phòng thấy giặc nó xâm lấn bờ cõi của mình mà ra lệnh không được chống lại, đứng im như thế cuốn cờ lên người mình để cho nó nã súng nó bắn!

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một nhà ngoại giao kỳ cựu, am hiểu sâu sắc vấn đề Trung Quốc đánh giá quyết định không nổ súng của Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh:

-Tôi cho rằng lúc bấy giờ ông Lê Đức Anh được đưa lên làm Bộ trưởng Quốc phòng mà làm cái việc như thế là một việc phản quốc. Ra lệnh không được bắn lại để cho Trung Quốc nó giết chiến sĩ của mình như là bia sống thì tôi cho đó là một hành động phản động, phản quốc.

Ông Lê Đức Anh là cai đồn điền cao su của một người tình báo của Pháp chứ ông ta không phải tham gia cách mạng lâu dài gì đâu. Chẳng qua ông ấy khai man lý lịch rồi thì được lòng ông Lê Đức Thọ, ông Lê Đức Thọ cứ đưa ông ấy lên vù vù trở thành Bộ trưởng Quốc phòng, sau này thành chủ tịch nước. Cái điều đó những người biết chuyện như tôi lấy làm đau lòng lắm và cho là một nỗi nhục của đất nước.

Sau khi bị tàn sát, thi thể những người lính tay không súng ống ấy không phải đều được về nhà mà một số rất lớn đã trôi dạt khắp vùng biển quê hương bởi Bộ Quốc phòng Việt Nam không có một một cố gắng nào mang họ về đất liền như tất cả mọi quân đội khác trên thế giới phải làm. Ông Nguyễn Khắc Mai nhận xét:

-Cho đến hôm nay 64 người anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma đấy nhiều người xác vẫn còn nằm dưới biển và cái ông Nông Đức Mạnh nguyên Tổng bí thư lại trả lời rằng thôi cứ để yên như thế! Đáng lẽ anh phải can thiệp với Chữ thập đỏ quốc tế để tìm cách vớt và đưa thân xác của các liệt sĩ ấy về quê mẹ thì anh lại để im, bởi vì anh sợ Tàu mà. Động chạm đến Tàu thì anh run lên vì anh bị cầm tù rồi.

Tại sao cứ im lặng? chỉ cho mấy cái anh cấp người phát ngôn Bộ Ngoại giao nói tới nói lui một điệp khúc nhàm chán vô cùng và bọn Trung Quốc nó không thèm đếm xỉa gì tới, nó coi đấy là cái chuyện tào lao thì đấy là cái đau, đấy là cái nhục về Gạc Ma.

Ngày 14 tháng Ba mỗi năm không những là ngày giỗ chung của 64 gia đình liệt sĩ nhưng còn là ngày mà lịch sử Việt Nam sẽ phải làm rõ ai là thủ phạm chính trong cuộc tàn sát này. Mặc dù nó được phóng lớn lên thành cuộc chiến Gạc Ma nhưng người trong cuộc biết rõ đó là một cuộc chiến mà bên bị hại không được nổ súng.
Ngưng trích.

Bình luận của Long Điền:
Khi tình thế thay đổi thì lòng người(đồng minh) cũng thay đổi, Hoa Kỳ giúp MNVN bão vệ lãnh thổ , đồng thời MNVN cũng giúp Hoa Kỳ ổn định toàn vùng Đông Nam Á chống sự tràn ngập chủ nghỉa CSQT xuống phía Nam. Năm 1972 khi mà Hoa Kỳ thân mật bắt tay TC hứa hẹn giúp 4 Hiện đại Hóa quân đội TC, đổi lại TC sẽ nghiên về phía Hoa Kỳ làm suy yếu tiềm năng CSQT, gây chia rẽ 2 cường quốc CS là Liên Xô và Trung Cộng thì Hoa Kỳ bỏ rơi MNVN.  
Thế liên kết giữa Mỹ và CSVN hiện nay rất lỏng lẽo, vì quyền lợi của Hoa Kỳ chỉ là an ninh khu vực và tự do giao thông hàng hải. Hoa Kỳ sẽ không nhúng tay vào khi có cuộc chiến giữa Việt Cộng và Trung Cộng. Chuyện bão vệ lãnh thổ VN là phải do chính toàn dân VN, đảng CSVN phaỉ đứng về phía Dân Tộc VN, không vì quyền lợi riêng tư (còn đảng còn mình), không vì cùng phe Cộng Sản với Trung Cộng mà lảng quên quyền lợi dân tộc.  

Hoa Kỳ hữu hảo với VC hiện nay là do nhu cầu một con tốt thí để đối đầu vói Trung Cộng, khi tình thế nguy hiểm, có thể cuộc chiến Việt- Trung không phải cái giá mà Hoa Kỳ phải nhảy vào cuộc chiến thế giới với TC. Nhật cũng đắn đo, thận trọng khi hợp tác với Hoa Kỳ chống sự bành trướng của Trung Cộng và sự diên rồ của Bắc Hàn. Hơn nữa hai quả bom nguyên tử năm 1945 của Hoa Kỳ dội trên đất Nhật không cho phép Nhật tham gia vào đại chiến hạch tâm ngoại trừ vì lý do tự vệ khi bị TC hay BH tấn công trước.

Bởi thế trong bất cứ công cuộc chống ngoại xâm nào thì chủ yếu phải dựa vào thế toàn dân, liên kết vói cường quốc nào cũng phải đề phòng vì quyền lợi, khi tình thế thay đổi đồng minh liên kết cũng thay đổi.

Việt Nam đứng kế bên một cường quốc luôn có dã tâm thôn tính, thế liên kết với đồng minh khu vực như Nhật, Úc, Ấn Độ, Nam Hàn …. và khối Asean kể cả Hoa Kỳ là cần thiết. Khi bị ngoại xâm thì phải chống tới cùng, không được hèn nhát co đầu rút cổ như CSVN đã làm trong mấy chục năm qua.

Long Điền tháng 10/2017

     © Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.

      © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam  

Đọc các bài liên quan của cùng tác giả tại đây.

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT