DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Tóm lược tội ác của lãnh đạo Việt Cộng 1945-2017(10)_ Phạm Bá Hoa.

E-mail Print

Tội ác “biệt giam 16.000 anh hùng tử sĩ VNCH dưới mộ”.

                                                    Image result for du an nghia trang bien hoa

Năm 1965, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa được thành lập, trên diện tích 125 mẫu tây. Các công trình xây dựng trên mô hình Con Ong, như sau: (1) Trên lưng Con Ong là Nghĩa Dũng Đài, cao 43 thước. Phần dưới là Vành Khăn Tang. Từ Vành Khăn nhìn xuống triền đồi thoai thoải, sẽ là những ngôi mộ ngay hàng thẳng lối, và tất cả đều giống nhau. (2) Chung quanh thân mà phần đuôi dài ra trông như hình quả trứng, chia làm 8 Khu theo hình nan quạt, đủ chỗ cho khoảng 30.000 ngôi mộ, là nơi an táng những anh hùng tử sĩ của dân tộc. (3) Giữa đầu Con Ong là Đền Tử Sĩ, với ngôi mộ Chiến Sĩ Vô Danh. (4) Trước đầu Con Ong là Cổng Tam Quan. Trước Cổng Tam Quan là con đường, biểu tượng cho Cây Kim của Con Ong thẳng ra xa lộ. (5) Ngay đầu cây kim tại xa lộ, là Tượng Đài Thương Tiếc cao 5 thước, biểu tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, trong tư thế ngồi nghỉ trên bệ đá cao 3 thước, vẫn túi hành quân trên lưng, hai tay trên cây súng gác ngang bắp chân, với đôi mắt u buồn, nhìn xa xa phía trước ...

Ngay sau khi nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam ngày 30/4/1975, lãnh đạo Việt Cộng “quẵng ra đường”  hằng chục ngàn Thương Phế Binh Quân Lực VIệt Nam Cộng Hòa từ trong hệ thống Quân Y Viện, và Họ phải lê lết xin ăn! Hơn 16.000 đồng đội đã an nghĩ trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, bị lãnh đạo Việt Cộng "biệt giam" một cách nghiêm ngặt, không nén nhang hương khói! Một hàng rào kẻm gai bao bọc, với tấm bảng "khu quân sự, cấm lai vãng, cấm chụp hình". Tương tự như 28 vị Tướng và 362 Đại Tá trong số nửa triệu Quân Nhân, Viên Chức, và các vị Dân Cử Việt Nam Cộng Hòa, “bị đày đọa” trong hơn 200 trại tập trung từ Mũi Cà Mau cực nam đến trại Cổng Trời biên giới cực bắc, quanh năm với bo-bo thay gạo! 

Ngày 27/11/2006, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định 1568/QĐ bàn giao khu đất Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, với tên gọi là Nghĩa Địa Bình An cho tỉnh Bình Dương. Lúc ấy diện tích chỉ còn 58 mẫu tây, vì Việt Cộng cướp đất của người dưới mộ để xây cất nhiều cơ sở lấn vào nghĩa trang, thậm chí vào sát chân Nghĩa Dũng Đài. Họ trồng rất nhiều Cây Sao, Cây Hắc Hương, Cây Muồng, chen lẫn giữa các ngôi mộ, để khi lớn lên thì rễ của nó sẽ vào bên trong các ngôi mộ để giết người trong mộ thêm lần nữa!

Năm 2010, Hội Việt Mỹ (Vietnamese American Foundation) cố gắng vận động nhà cầm quyền Việt Nam trong công tác tu bổ nghĩa trang. Năm 2013, ông về Việt Nam theo lời mời của ông Lê Thành Ân, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Hai ông cùng lên Bình Dương, nêu yêu cầu họ về những bậc thang lên Nghĩa Dũng Đài, tráng xi măng lối đi, và xây bàn thờ tại Nghĩa Dũng Đài, để những ai muốn cầu nguyện có chỗ để lễ vật, và có lư hương cắm nhang. Trong khi thực hiện lời yêu cầu, thì Việt Cộng lại tung tin là nghĩa địa này sẽ bị giải tỏa. Điều đáng quan tâm, là ngôi mộ nào đã bốc hài cốt đi thì nhà cầm quyền tách khu đất đó ra khỏi nghĩa trang, vì vậy mà khi có khoảng 3.000 ngôi mộ do thân nhân đưa về quê cải táng, thì diện tích hiện nay của nghĩa trang chỉ còn lại khoảng 29 mẫu tây!

Liệu, bao nhiêu năm nữa thì họ sẽ công bố giải tán khu "Nghĩa Địa Nhân Dân Bình An" với lý do không còn ngôi mộ nào cả để triệt tiêu chứng tích tội ác của họ đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa để nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam?

Số 17. Tội ác về tiêu hủy văn hóa phẩm truyền thống (source: Wikipedia).

                                             Image result for toi ac tieu huy van hoa pham

Sau khi nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam ngày 30/4/1975, nhà cầm quyền Việt Nam cộng sản (= Việt Cộng) ra lệnh đình chỉ mọi hoạt động văn hóa, gồm: “Rạp hát, rạp chiếu phim, nhà xuất bản , nhà in, và báo chí phải  ngưng hoạt động và chờ lệnh. Thêm nữa, tất cả tác phẩm của 800 tác giả như Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Khắc Khoan, ..v..v.. bị cấm lưu hành. Các tác phẩm có nội dung chống cộng sản đều bị loại bỏ. Theo lệnh của lãnh đạo Việt Cộng, tất cả phương tiện truyền thông ở Việt Nam đều là tiếng nói của đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam,  nên có nhiệm vụ chánh là quảng bá đường lối và chính sách của đảng, và việc đưa tin là phụ.

Ngày 20/8/1975, Bộ Thông Tin Văn Hóa ra thông tri 218/CT75, ra lệnh cấm lưu hành các loại sách phản động. Tháng 9/1975, họ qui định danh mục sách bị cấm lưu hành, buộc các nhà bán sách báo và các nhà xuất bản thời chế độ cũ phải đem đốt tất cả. 

Tháng 5/1977, Việt Cộng Sài Gòn ra thông tri 1230/STTVH/XB, bắt dân chúng phải tiêu hủy hoặc mang nộp toàn bộ các ấn phẩm văn hóa thời Việt Nam Cộng Hòa, trong khi Công An mở chiến dịch càn quét truy lùng sách báo cũ, chặn bắt người mua bán, thậm chí họ còn được lệnh vào nhà dân lục soát tịch thu bất cứ lúc nào họ muốn.

Tháng 6/1981, trong cuộc truy lùng càn quét của Công An, đã tịch thu khoảng 3.000.000 (3 triệu) ấn phẩm sách và báo. Riêng tại Sài Gòn, tịch thu được 60 tấn sách vở các loại theo tường trình của tạp chí cộng sản. 

Tất cả có năm chiến dịch ở Miền Nam vào cuối 1975, đầu 1976, giữa 1977, giữa 1981, và giữa 1985. Ai lưu trữ ấn phẩm thời Việt Nam Cộng Hòa đều bị truy tố dưới điều luật 82, trong đó ghi rằng: “Việc làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống chế chế độ xã hội chủ nghĩa là "trọng tội", có thể bị tù từ 10 năm đến 20 năm”.

Ngoài ra, còn có những trường hợp tiêu hủy sách một cách vô cớ như vụ đốt sách ở Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Chăm ở Phan Rang năm 1978, do Giám Đốc Thư Viện tỉnh ra lệnh. Hàng trăm tấn sách biến thành đống tro. Một số học giả cố vớt vát nhưng chẳng được bao nhiêu.

Các văn nghệ sĩ Miền Nam cũng bị bắt. Tính đến năm 1980, đã có 200 nhà văn, nhà thơ, nhà soạn nhạc, trước năm 1975 đã bị đẩy vào các trại tập trung cải tạo.

Lệnh của Bộ Văn Hoá Thông Tin Việt Cộng buộc mọi người phải tiêu hủy toàn bộ văn hoá phẩm thời Việt Nam Cộng Hòa mà họ gọi là văn hóa phẩm đồi trụy và phản động. Họ mở chiến dịch truy lùng bắt giữ những ai tàng trữ, buôn bán, bắt giữ, và truy tố ra “tòa án nhân dân”. Chính sách này giống chính sách của vua Tần Thỉ Hoàng thời Trung Hoa phong kiến, và thời Mao Trạch Đông cộng sản trong Cách Mạng Văn Hóa vậy.

Từ cuối thập niên 1980, sau cuộc "cởi trói" văn nghệ sĩ có nhiều tác phẩm được phép xuất bản nhưng ngay sau đó bị thu hồi. Trước tiên là cuốn tiểu thuyết Ly Thân của Trần Mạnh Hảo. Sách vừa in ra thì có lệnh cấm ngay. Tiếp theo là sách của Dương Thu Hương với tác phẩm Những Thiên Đường Mù, tác phẩm Bên Kia Bờ Ảo Vọng, và Tiểu Thuyết Vô Đề. Bà Dương Thu Hương mạnh mẽ phản đối chính sách kiểm duyệt tại Đại Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1982. Kết quả là lãnh đạo Việt Cộng ra lệnh cấm mọi tác phẩm của bà không được in hay bán trong nước. Năm 1989 bà bị đuổi khỏi đảng, và bị bắt giam năm 1991. Năm 2006, nhà văn Dương Thu Hương lưu vong tại Pháp.

Năm 2001, có lệnh tịch thu và tiêu hủy tác phẩm Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn

Năm 2002 Bộ Thông tin Văn hóa Việt Nam ra lệnh tịch thu và thiêu hủy những tác phẩm:

1. “Suy tư và ước vọng” của Nguyễn Thanh Giang. 

2. “Đối thoại năm 2000 và Đối thoại năm 2001” của Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân

3. “Gửi lại trước khi về cõi” của Vũ Cao Quận.

4. “Nhật ký rồng rắn: của Trần Độ.

Năm 2006 cuốn “Tranh luận để đồng thuận” của nhà xuất bản Tri thức, có in lại bài bình luận của Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, và Nguyễn Đức Bình, nhưng vì có nội dung chỉ trích chánh phủ nên có lệnh cấm phát hành.

Đối với cuốn tiểu sử Ho Chi Minh: a Life của tác giả William Duiker, lãnh đạo Việt Cộng cũng đòi xóa bỏ những đoạn liên quan đến người vợ Tăng Tuyết Minh trong bản dịch sang Việt ngữ. Tác giả phản đối, không chấp nhận việc cắt xén khiến cuốn sách bị trở ngại không được lưu hành. Cuốn The Spy Who Loved Us của Thomas Bass xuất bản năm 2009, viết về điệp viên Phạm Xuân Ẩn qua phiên bản tiếng Việt, đã bị cắt xén sau 5 năm kiểm duyệt khiến tác giả phải than phiền. Những đoạn bị cắt bỏ là phần viết về cuộc Cải Cách Ruộng Đất trên đất Bắc vào giữa những năm 1950.

Năm 2014 cuốn Đèn Cù của Trần Đĩnh, xuất bản ở ngoại quốc và bán qua <Amazon.com> khi gửi qua bưu điện về Việt Nam thì bị giữ lại. Người mua phải viết giấy "từ chối nhận hàng vi phạm" vì không đúng với luật xuất bản 2012. Bưu Cục còn ghi rõ sách bị cấm vì "có nội dung nói xấu chế độ, xúc phạm lãnh đạo Việt Cộng, không được nhập cảng. Lệnh cấm có khi chỉ là chỉ thị truyền miệng mà không có văn bản như cuốn “Petrus Ký Nỗi oan thế kỷ” của học giả Nguyễn Đình Đầu. Sách đã được Cục Xuất Bản cấp lưu chiểu, nhưng đến hôm ra mắt sách vào đầu năm 2017 thì được lệnh hủy bỏ vì sách bị cấm lưu hành.

Ngay cả sách giáo khoa càng siết chặt hơn. Trong chiến tranh chống Trung Cộng hồi tháng 2/1979, theo Giáo Sư sử học Vũ Dương Ninh, người phụ trách bên soạn sách giáo khoa sử học lớp 12, đã thu gọn trong 4 trang, cũng bị cắt bỏ chỉ còn vỏn vẹn 11 dòng. Còn tình trạng mất một số Đảo và Đá Ngầm trên Biển Đông, cho đến năm 2016 cũng không có một trang nào, thậm chí không có một dòng nào trong sách giáo khoa môn sử cả. Theo blogger Phạm Viết Đào, giới sử học chỉ được viết môn sử trong bản thảo sách giáo khoa, còn xuất bản như thế nào là quyền của Ban Tuyên Giáo trung ương và nhà xuất bản.

 Tội ác trong đổi tiền 1975-1978-1985 (source: Wikipedia).

                                               Image result for dong bac vc sau 1975

Sau khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa ngày 30/4/1975, lãnh đạo Việt Cộng ngụy trang bộ máy cầm quyền dưới tên gọi Chánh Phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Lúc ấy, tổng số tiền giấy lưu hành là 615 tỷ đồng, và tồn trữ trong Ngân Hàng Quốc Gia hơn 1.000 tỷ đồng. Trong khi toàn bộ các ngân hàng bị niêm phong ngay chiều 30/4/1975. Và ngày hôm sau -1/5/1975- cộng sản ra lệnh quốc hữu hóa toàn bộ ngân hàng.    

Ngày 6/6/1975, cộng sản thành lập ngân hàng Quốc Gia Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, và thông qua danh nghĩa này để thừa kế vai trò hội viên của Ngân Hàng Quốc Gia thời Việt Nam Cộng Hòa trong các tổ chức tài chánh quốc tế.

Ngày 22/9/1975, tiền giấy Việt Nam Cộng Hòa đang lưu hành với mệnh giá từ 50 đồng trở lên bị cấm lưu hành, và đổi sang tiền mới. Thời gian đổi tiền mới, từ 11 giờ sáng đến cuối 10 giờ tối ngày 22/9/1975, chỉ có 12 tiếng đồng hồ.

Có hai loại hối suất:

(1) Từ Đà Nẳng vào cực Nam, thì 500 đồng Việt Nam Cộng Hòa bằng 1 đồng tiền mới.

(2) Từ Huế ra cực Bắc, thì 1.000 đồng Việt Nam Cộng Hòa bằng 3 đồng tiền mới.

Căn bản:  Mỗi gia đình, cứ 100.000 đồng Việt Nam Cộng Hòa đổi được 200 đồng tiền mới. Nếu là tiểu thương, cứ 200.000 đồng tiền cũ đổi được 400 đồng tiền mới.  Và nếu hảng xưỡng, cứ 500.000 đồng tiền cũ, đổi được 1.000 đồng tiền mới.. 

Trong số tiền đem đến đổi tiền mới theo căn bản nói trên, nếu số tiền còn lại tối đa là 100.000 đồng tiền cũ của mỗi gia đình, và tối đa là 1.000.000 đồng tiền cũ đối với mỗi hảng xưỡng, bắt buộc ký thác vào ngân hàng. Nhưng sau khi nhận tiền ký gởi số tiền còn lại thì ngân hàng đóng cửa. Đầu năm 1976, ngân hàng mở cửa lại, nhưng mỗi tháng gia đình chỉ được rút tối đa là 30 đồng tiền mới, nhưng phải làm đơn gởi cho nhà cầm quyền địa phương và chờ cứu xét. Nhưng, đến cuối năm 1976, gia đình cũng như hảng xưỡng, dù còn bao nhiêu tiền trong ngân hàng đều vuột khỏi nắm tay, vì tất cả thuộc tài sản của lãnh đạo Việt Cộng.

Về tỷ giá hối đoái với đồng mỹ kim lúc ấy:  1.51 đồng tiền mới, đổi được 1 mỹ kim.

Ngày 3/5/1978, lại đổi tiền. Lần này đổi tiền trên toàn cõi Việt Nam, theo căn bản: 1 đồng tiền cũ miền Bắc đổi được 1 đồng tiền mới. 1 đồng tiền mới năm 1975 của miền Nam đổi được 0.80 đồng tiền mới cả nước.   

Tiêu chuẩn số tiền tối đa được đổi tiền như sau:

Thành phố: 100 đồng cho gia đình 1 người. 200 đồng cho mỗi gia đình 2 người. Gia đình 3 người, thì người thứ 3 trở lên, mỗi người được 50 đồng. Tối đa cho mỗi gia đình là 500 đồng, bất kể số người là bao nhiêu.

Miền quê: 100 đồng cho gia đình 2 người. Gia đình trên 2 người, thì mỗi người từ người thứ 3 trở lên được đội 30 đồng. Tối đa cho mỗi gia đình là 300 đồng, bất kể số người là bao nhiêu.

Số tiền được đổi, nếu trên mức tối đa phải khai báo và bắt buộc gởi ngân hàng, khi cần sử dụng phải xin phép nếu có lý do chính đáng. Một điều kiện bắt buộc, người dân phải chứng minh số tiền trên mức tối đa là do đâu mà có.

Năm 1985, đổi tiền lần thứ 3. Cứ 10 đồng tiền của năm 1978, đổi được 1 đồng tiền mới năm 1985.

Tóm tắt. Qua lần đổi tiền 1975, cộng sản đã nhân danh nhà cầm quyền mà cướp một khoản tiền của người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ, khi bắt buộc gởi vào ngân hàng. Nhưng chỉ cho rút tiền rất giới hạn mà lại phải có lý do gọi là “chính đáng” trong đơn xin, và một năm sau tổng số tiền của đồng bào còn lại trong ngân hàng đều biến mất. Đúng là bản chất cướp đoạt của cộng sản.

Về tỷ giá hối đoái. Năm 1975, sau khi đổi tiền, thì 1.51 đồng tiền mới, đổi được 1 mỹ kim. Sau rất nhiều lần phá giá đồng bạc Việt Nam, đến ngày 11/2/2011, ngân hàng nhà nước Việt Nam ấn định tỷ giá mới là: 21.693 đồng Việt Nam, đổi được 1 Mỹ kim. Thử làm bài toán vể tỷ giá hối đoái giữa đồng bạc Việt Nam với đồng mỹ kim Hoa Kỳ:

- Năm 1975: Sau khi đổi tiền thì 1.53 đồng Việt Nam, bằng 1 mỹ kim.

- Năm 1985: Đồng bạc Việt Nam tự phá giá: 10 đồng của năm 1975, đổi được 1 đồng của năm 1985, tức đồng bạc 1975 mất giá đến 10 lần. 

© Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.
© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam
Đọc các bài liên quan của cùng tác giả  tại đây

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT