DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Bảo Đại - Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam 9/3/1945 - 30/8/1945, Trước khi bão lụt tràn tới -Tác giả: Phạm Cao Dương

E-mail Print

                                   Truyền Thống Việt xuất bản tháng 2.2017

                                    Tái bản tháng 09.2017 - Có sửa chữa và bổ sung

                                        de quoc VN

                                                          Sách dầy 784 Trang, hiện đã bán trên Amazon.com

                                               https://www.amazon.com

Đế Quốc Việt Nam là quốc hiệu chính thức của nước Việt Nam trong những ngày đầu tiên độc lập sau một thời gian dài thuộc Pháp. Quốc hiệu này không mang ý nghĩa thông thường có liên hệ tới bá quyền, tới chiến tranh, bạo lực, đô hộ và áp bức mà là một sự bao gồm tất cả các cộng đồng người do chính họ lựa chọn, sống hòa hợp với nhau trên một lãnh thổ chung dưới sự lãnh đạo của một vị hoàng đế,người Việt hay người Kinh chỉ là chiếm đa số.
 
Đây cũng là thời của Hoàng Đế Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng của Triều Đại Nhà Nguyễn và cũng là cuối cùng của chế độ quân chủ ở Việt Nam. Mặt khác, đây cũng là thời của Nội Các của Nhà Giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim, một trí thức được rất đông người trong nước từ Bắc chí Nam biết tiếng và yêu mến qua các bộ sách Giáo Khoa Thư, gồm có Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư, v..v… dùng cho bậc tiểu học và tác phẩm Việt Nam Sử Lược, cuốn sử gối đầu giường của nhiều thế hệ người Việt rất lâu về sau này, đồng thời cũng là nội các của những người có học nổi tiếng trong nước đương thời.
 
Cuốn sách nhỏ này là để tưởng nhớ những người thuộc thế hệ trí thức Tây học đầu tiên của nước Việt Nam mới, còn giữ được tinh thần sĩ phu truyền thống, cùng với tuổi trẻ đương thời đã đứng ra làm việc nước và đã ra đi trong nhiều oan khuất.
 
Đây là một trong những trang sử đẹp của dân tộc Việt Nam, với những người đẹp, việc đẹp, ước nguyện đẹp, tác giả xin được trang trọng gửi tới các Bạn Trẻ Việt Nam bây giờ, sau này và mãi mãi.
 
                                   de quoc VN

                                          Sách dầy 784 Trang, hiện đã bán trên Amazon.com.

https://www.amazon.com

                      ******

GS Phạm Cao Dương Nói Về Đế Quốc Việt Nam

"Nếu không có cách mạng 19/8/1945  Việt Minh cướp chính quyền, Việt Nam đã có Tự Do, Dân Chủ và Tiến Bộ như Đại Hàn và các nước Đông Nam Á khác mà không ph̉ải trải qua hai cuộc chiến đẫm máu với hàng triệu người phải hy sinh..."


 Ý kiến độc giả:

  Mừng anh Dương có sách mới in lại và được đón nhận tích cực của học giới. Từ lâu tôi biết anh Dương viết lách cẩn thận và có nhiều suy nghĩ độc lập về vấn đề mình viết để đưa ra cái nhìn mới, trong lịch sử, địa hạt của anh Dương, là trả lại sự thật lịch sử cho vấn đề, không phải chỉ cho một nhân vật nào… Trong chiều hướng đó, tôi lấy kinh nghiệm của người đọc anh ngày trước để đánh giá quyển sách gần đây nhứt của anh.
Gs Nguyễn Văn Sâm
(Oct, 1. 2017)

-----------

GS Phạm cao Dương mới hoàn tất cuốn sử ”Bảo Đại- Trần trọng Kim và Đế Quốc Việt nam”.

Đây là thời kỳ quan trọng của dân tộc Việt, một thời kỳ Việt nam vừa mới bắt đầu nền độc lập tiếp theo giai đoạn đô hộ của thực dân Pháp. Chính Phủ Trần Trọng Kim, một chính quyền đầu tiên của quốc gia Việt nam độc lập với các nỗ lực xây dựng nền móng cho một tương lai tốt đẹp cho dân tộc , thì bị Hồ chí Minh dưới sự lãnh đạo của Cộng Sản Nga Tàu dùng các mưu thuật cướp chính quyền qua cuộc biểu tình của công chức ở Hà nội vào ngày 19 tháng 8, 1945 và đưa nước Việt vào một ngã rẽ quan trọng và dân tộc Việt phải chịu một thảm trạng to lớn từ đó đến nay.

Các anh chị cựu SVVH, nhất là các khoá học đầu tiên, sau khi tốt nghiệp đã có dịp tham dự và tiếp nối công tác phát huy những gì mà chính phủ Trần trọng Kim đã đề ra, nên có cuốn sử này trong tay để biết thêm về giai đọạn lịch sử tốt đẹp này.

Cuốn sử này của Thày Dương có thể giúp chúng ta có tài liệu so sánh giữa giai đoạn độc lập phôi thai , nhưng ngắn ngủi của dân tộc, trong đó có các đóng góp to lớn, vô giá của các nhà lãnh đạo có nhiều tâm huyết với dân tộc hầu như bị bỏ quên và giai đoạn Cộng Sản thống trị.

Sử học là một môn khoa học, Thày Dương đã áp dụng đúng phương pháp Khoa Học Sử để đạt cái “chân” của ngành này.


Gs Nguyễn Văn Canh

__________________

Tôi có duyên hạnh ngộ với Giáo Sư Phạm Cao Dương và phu nhân của ông là giáo sư Khánh Vân từ trong các sinh hoạt Cộng Đồng tại Nam Cali. Tuy gọi là quen biết, nhưng tôi xem như tôi là học trò của hai người về đủ phương diện... nên khi được chị Khánh Vân (Giáo Sư Khánh Vân bắt buột tôi xưng hô theo tình bằng hữu) đích thân đến tệ xá tặng trực tiếp tác phẩm quý của GS Phạm Cao Dương vừa mới phát hành; thì tôi vô cùng cảm động!
Sách tôi được tặng mang một cái tên rất là lạ đối với nhiều người: "ĐẾ QUỐC VIỆT NAM". Tác phẩm nầy, giáo sư Phạm Cao Dương, tuy sức khỏe của tuổi 80, một vài lần phải giải phẩu tim; nhưng đã cố gắng miệt mài mấy năm trời để hoàn thành. Có thể nói đây là tim óc, là sức lực còn lại của một đời người, một "Nhân Sỹ" có lòng với văn học và lịch sử Việt Nam.

Chúng ta không thể tưởng tượng, với sức khỏe hạn chế như vậy mà giáo sư đã cần mẫn, kiên trì tham khảo đủ các tài liệu cho một tác phẩm để đời! Cuốn sách dày 782 trang (không kể bìa và vài tờ giành cho những ai muốn ghi chú biên khảo). Hình bìa là cửa Ngọ Môn Huế, bìa sau là lời giải thích nguyên nhân của tên sách "Đế Quốc Việt Nam", vài hàng về tác giả. Bên dưới là hình ngôi mộ Hoàng Đế Bảo Đại tại Pháp cùng một đoạn tán thán về tương lai tổ quốc. Toàn thể cuốn sách rất giản dị, thuần chất Việt nam!Nếu phải viết đầy đủ tên sách, ta có thể đọc được:

Khi Bão Lụt Tràn Tới - Bảo Đại - Trần Trọng Kim và ĐẾ QUỐC VIỆT NAM (9/3/1945 - 30/8/1945). Có thể nói giáo sư Phạm Cao Dương xoay quanh những dữ kiện, thời gian và không gian cho cuốn sách rất dày nầy về sự "giao thoa"lịch sử, chuyển giao từ Thực Dân Pháp cho một chính phủ thuần Việt Nam! Pháp chuyển giao chính quyền cho Hoàng Đế Bảo Đại. Hoàng Đế chỉ thị cho Nhân Sỹ Trần Trọng Kim thành lập chính phủ Quốc Gia Việt Nam, mang quốc hiệu là "ĐẾ QUỐC VIỆT NAM". Thời gian chính phủ Trần Trọng Kim chỉ kéo dài từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 đến ngày 30 tháng 8 năm 1945 là chấm dứt. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy kịch tính và mang nhiều đau thương, thống hận nghiệt ngã nhất, sau đó là một trường hận chiến tranh, dẫn đến chia đôi đất nước. Hoàng Đế Bảo Đại cũng phải thoái vị trong thời gian nầy. Làn sóng bạo lực Cộng Sản Quốc Tế, núp dưới hình thức liên minh các đảng phái quốc gia là Việt Minh đã nhấn chìm con tàu Việt Nam do Hoàng Đế Bảo Đại lèo lái với một chính phủ mới vừa thành lập ngắn ngủi chỉ vài tháng trời!

                                    blank

Giáo Sư Phạm Cao Dương đã trân trọng những lời đầu trang để cám ơn người bạn đời - GS Khánh Vân - đã sát cánh, khuyến khích, chăm sóc từng miếng ăn, viên thuốc và cả thời gian giáo sư nằm trong bệnh viện. Đúng như lời người xưa, có thể diễn tả là: "Sự thành công của người đàn ông luôn có bóng dáng người đàn bà...!". Quả thật cái bóng giáo sư Khánh Vân bên cạnh tác giả, đúng là rất có ý nghĩa!

Tác phẩm "Đế Quốc Việt Nam" được biên soạn rất công phu, rất chi tiết. Mục đích của tác già là đả phá những luận điệu phản dân tộc của những bồi bút Cộng Sản viết lịch sử cận đại về Việt nam trong giai đoạn từ 1945 -1975 cho đến cả dòng lịch sử sau 30-4-1975! Lịch sử là phải trung thực, những biến cố xãy ra theo thời gian phải được viết lại chính xác!
Sách được chia làm ba phần:

- "Phần Thứ Nhất" mang tên: CHÍNH PHỦ TRẦN TRONG KIM, CHÍNH PHỦ ĐẦU TIÊN ĐỘC LẬP VÀ DUY NHẤT CỦA ĐẾ QUỐC VIỆT NAM.

- "Phần Thứ Hai" mang tên: ĐẾ QUỐC VIỆT NAM - BẢY MƯƠI NĂM NHÌN LẠI.

- "Phần Thứ Ba" mang tên: PHỤ LỤC: TÀI LIỆU VÀ HÌNH ẢNH.

Trong "Phần Thứ Nhất" được diễn tả trong 10 Chương về tất cả những diễn tiến lịch sử và các âm mưu, các mánh khóe chính trị của các bên liên quan. Những thủ đoạn chính trị chánh tà và các hệ quả khóc hại của toan tính quyền lực... Mỗi Chương là một đề tài ta cần đọc kỹ và nghiên cứu. Xem hết Phần thứ Nhất ta mới thông cảm và hiểu tại sao Hoàng Đế Bảo Đại phải thoái vị và vì sao chính phủ non trẻ do một người nổi tiếng, đầy uy tín như Nhân Sĩ Trần Trọng Kim phải thúc thủ như thế nào!

Tác giả phân tích và đi sâu vào hệ thống tổ chức của chính phủ Trần Trọng Kim, các nhân vật đảm trách các chức vụ, dự thảo Hiến Pháp, giáo dục. thanh niên... Điều quan trong là chính phủ Trần Trọng Kim đã đặt nên tảng cho việc khai lập quốc kỳ, quốc ca, dặt tên Việt Nam cho các đường phố...Thống nhất ba miền đất nước! Nhưng thời gian quá ngắn cho những dự án quốc gia trọng đại vì các thế lực phản động phá nát, chính phủ phải từ chức chỉ sau mấy tháng cầm quyền đầy bảo tố.

"Phần Thứ Hai" tác giả chuyên sâu về phân tích trong bảy (7) Chương. Theo tác giả, sau bảy mươi năm nhìn lại quá khứ, hào quang của Chính Phủ Trần Trọng Kim dưới danh nghĩa một "ĐẾ QUỐC VIỆT NAM" đã làm được gì, những nhân vật lịch sử của giai đoạn ấy tại sao không thoát ra được vòng kim cô lịch sử! Những phân tích rất trung thực và khách quan đã làm cho cuốn sách mang tên "ĐẾ QUỐC VIỆT NAM" có chỗ đứng vững chắc trong nên văn học Việt Nam viết về lịch sử cận đại.

"Phần Thứ Ba" là phần Phụ Lục, liên quan đến các tài liệu được tra cứu tham khảo trong các văn khố, các bảo tàng lịch sử khắc nơi trên thế giới liên quan đến thời gian và không gian mà Hoàng Đế Bảo Đại về nước chấp chính và chính phủ do Nhân Sĩ Trần Trọng Kim ra đời như thế nào, phải từ chức như thế nào với khung cảnh đầy tang thương nghiệt ngã của Tổ Quốc!

Tôi đọc "ĐẾ QUỐC VIỆT NAM", càng đọc càng thấm buồn và đau xót cho quê hương dân tộc. Số phận nhược tiểu không những bị các thế lực Đế Quốc, Thực Dân rắp tâm lợi dụng, mà còn bị các lý thuyết ngoại lai Mác Lê, Mao ít liên kết khống chế tư tưởng con người Việt Nam. Bảy mươi năm sau - theo ý của nhà biên khảo - GS Phạm Cao Dương - ta nhìn lại khúc quanh lịch sử đầy kịch tính với máu và nước. Những dấu mốc lịch sử bi đát ấy kéo dài cho đến khi chính nghĩa Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ - Việt Nam Cộng Hòa là những chính phủ nối tiếp chính phủ Trần Trọng Kim - Bây giờ, sau ngày 30-4-75, Tổ Quốc Việt Nam càng ngày càng bị ngoại bang khống chế dưới tà quyền Cộng Sản đang bị sát nhập vào nước Tàu. Thân phận dân tộc Việt Nam trong tương lai rồi sẽ ra sao!
Cám ơn tác giả, Giáo Sư Sử Học Phạm Cao Dương, đã cố gắng hết sức lực ghi lại toàn cảnh một giai đoạn lịch sử bi đát đầy đau buồn nghiệt ngã; thời gian giao thoa giữa Chủ Nghĩa Thực Dân, Chủ Nghĩa Cộng Sản, giữa nội thù và ngoại xâm rất trung thực khách quan! Đây là tài liệu đáng được trân trọng gìn giữ cho con cháu sau này học tập và nghiên cứu.
letamanh (Lê Anh Dũng)
tháng tư năm 2017

_____________________

Kính Anh Phạm Cao Dương,
Tôi vừa đến nhà Anh Nguyễn Đôn Phong để nhận quyển Bảo Đại -Trần Trọng Kim của Anh Chị tặng chúng tôi. Thật là một tác phẩm đồ sộ, hiểu theo nghĩa hình thức và nội dung, bởi lẽ với một thời gian lịch sử non 6 tháng, anh đã sưu tầm và phân tích để hình thành một sử liệu non 800 trang, một mảng lịch sử ở vào một thời điểm làm thay đổi vận mạng đất nước mà nhiều sử gia đã bỏ qua hay bỏ quên. Tôi sẽ dành thời giờ đọc thật kỹ để thu nhận. Cầm quyển sử trong tay, tôi đọc lướt qua nhưng đã ghi nhận ngay hai điều đặc biệt . Trước hết là cách đặt tựa và tiểu tựa không conventionel, là một loại sommaire très succinct (xin lỗi tôi dùng mấy chữ «tiếng Tây» vì Cựu Sorbonne hiểu rõ hơn ai hết cái nghĩa trọn vẹn của mấy danh từ nầy, nhưng cái index thì thật vô cùng công phu) và lời cám ơn của anh với chị tuy mộc mạc nhưng thực ân tình, thực là «nhà giáo». Biết được Anh vừa mổ tim, mà hoàn thành một quyển sử như vậy, phải hiểu là tấm lòng của Anh với Sử học không sao đo lường được và sự hỗ trợ của Chị , trong một hoàn cảnh như vậy, cũng không sao nói lên hết được. Thành thực cám ơn và càm phục Anh.

Gs Lâm Văn Bé (Lâm Vĩnh Bình)

__________________

Ngày 17 tháng 4/2017
Ông Dương thân
Tôi đã nhận được cuốn sách của ông rồi. Mở ra, thấy nó dầy suýt soát cuốn tự điển Merriam Webster. Mà phát ngán. Tuy rằng tôi là người thích sử. Nhờ lúc còn nhỏ được nghe những chuyện anh hùng nước Nam: bà Trưng, bà Triệu, Trần bình Trọng, Bùi thị Xuân, cô Giang cô Bắc…Và nhờ hai ông thầy dậy sử địa trung học: giáo sư Bùi đình Tấn, “hắc” nổi tiếng trường Chu Văn An, và Lê Ngọc Huỳnh, người dậy sử theo tôi, hay nhất Chu Văn An. Ông Tấn, người gầy, trắng trẻo , mặt không lúc nào thấy có nụ cười, bài soạn khô khan ngắn ngủi. Ông Huỳnh người cao, mặt vuông, ăn nói dẽ dàng, những điều ông nói ra là vô cùng đặc biệt, hấp dẫn, và thích thú (ít ra là đối với tôi), nghe rồi không thể quên. Lúc thi lục cá nguyệt trong lớp, nếu có thuộc nguyên văn bài của giáo sư Tấn viết ra, đứng nhất lớp chỉ được chừng 11-12/20. Đa số là dưới trung bình 10/20. Thi lục cá nguyệt với giáo sư Huỳnh thì thoải mái, 16/20- 14/20 là thường. Tôi bực ông Tấn cho nên về nhà mò mẫm tra cứu bổ túc vào những điều ngắn ngủi của bài ông soạn, vì thế bao giờ điểm thứ nhất của tôi cũng cách xa người thứ nhì 1 ½ hay 2. Tôi khoái ông Huỳnh cho nên thích đọc thêm sử để lôi ra những điều hấp dẫn khác ông nói chưa hết, và nghe chưa đã, vì giới hạn thời gian trong lớp.

Kể cho bạn như thế để giải thích lý do tại sao nhìn quyển sử của bạn mà tôi “ngán”, trong khi sử và địa là hai môn tôi thích. Không phải vì nó dầy như quyển tự điển. Mà vì từ những năm gần đây tôi đã không đọc những quyển viết về sử cận đại và hiện đại nữa, Việt nam cũng như ngoại quốc. Bởi vì qua kinh nghiệm sống và suy nghiệm, tôi đã hiểu rằng nhiều điều là những chuyện tầm phào, tưởng tượng viết ra hay chép theo những sách vở và truyền thông ngoại quốc đầy thiên lệch vì nhiều lý do, mà một lý do là phục vụ nhu cầu giải trí quần chúng để bán kiếm tiền và để ảnh hưởng vào quan niệm chính trị của quần chúng. Ngay cả những thứ gọi là tin “tình báo” hay “giải mật”. Tôi có đọc một số sách viết của các nhà chính trị và lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa (hồi ký và sưu khảo) thì chí thấy rằng họ muốn cho thấy sự vô tội vô can của họ, (và ngay cả khoe khoang cái khả năng suy nghĩ của họ) - trong những diễn tiến dẫn đến sự sụp đổ của VNCH. Tôi cũng có đọc một số bài mới viết trong vài năm gần đây, nói về những sự kiện cách đây cả nửa thế kỷ với những chi tiết và đối thoại như thực, làm như là lấy ra từ các băng thu âm thu hình. Chỉ cần suy nghĩ một chút là thấy giá trị của các bài viết này là như thế nào. Tôi không nói đến những tác phẩm của các văn công VC như Huy Đức và cuốn Bên thắng cuộc, với những dụng ý tuyên truyền bằng lối viết học được từ kỹ thuật truyền thông Hoa kỳ. (Nhiều nhà chính trị và truyền thông hải ngoại đã quảng cáo cho cuốn sách này một dạo!).
Tuy nhiên, cầm cuốn sách ông cho tôi, khi nhìn giòng đề tặng ngắn ngủi, mà chữ còn thấy rõ nét chân phương với chữ ký không dấu nổi vẻ huê dạng, tôi không thể không nẩy ra cái ấn tượng “sợ và phục”.

“Sợ” vì ông còn giữ được sự miệt mài làm cái công việc mà tôi (và có thể nhiều người khác) đã không có mấy quan tâm, là đọc và sắp sếp các tài liệu lịch sử Việt nam giai đoạn 9/3/1945- 30/8/1945, bởi vì biểu kiến đó là một giai đoạn giao thời ngắn ngủi không đáng để ý.

“Phục”, vì thấy ông có cái khả năng là ngồi còm cọm trước computer để ghi lại những điều ông gom góp cho người ta trình bầy đem in. Trong trường hợp ông không dùng computer mà vẫn ngồi viết tay thì cũng không thể không phục. Tôi biết nói thế này là thừa, nhưng vẫn phải nói, là ông có cái đặc tính của một thầy giáo, một nhà hàn lâm.

Tuy nhiên không phải vì sợ và phục mà tôi có thể kiên nhẫn đọc quyển sách dầy cộm của ông. Tôi đọc vì cái câu ngắn ngủi đề tặng “để nhớ lại thời chúng mình còn 9, 10 tuổi”. Lúc đó, chúng mình không biết nhau, ông ở miền Bắc, tôi ở miền Trung, thành phố Vinh. Tôi đã bị đánh thức dậy vì tiếng súng đảo chính Nhật kéo dài chừng hơn một tiếng đồng hồ, ngày mồng 9 tháng 3/1945. Để hôm sau, ra cửa thấy lính Nhật đứng gác loáng thoáng trên con phố nhà tôi ở: phố Cửa Tả ngắn ngủi chừng nửa cây số từ ga xe lửa Vinh đến cửa Tả thành Vinh. Để một buổi chiều nào đó sau đó, thấy cả phố gọi nhau ra xem một cảnh tượng chưa từng xẩy ra, là có thằng Tây con mười mấy tuổi kéo chiếc xe nhà chạy trên phố. Có người biết chuyện bảo rằng đó là con thằng Công sứ Tây kéo xe cho mẹ và em nó vào thành thăm thằng Công sứ bị giam. Cũng thời gian đó, một hôm đi học về, tôi thấy có một người gầy guộc dơ xương nằm chết đói trên đường phố. Và một buổi sáng, khi mở cửa ra ngoài hè, tôi thấy ngay nhà bên cạnh một người nằm chết trong quần áo như là giẻ rách và chung quanh là chấy rận bò ra đen cả gạch. Trường tiểu học tôi học lúc đó đang tên là Cao Xuân Dục đổi thành Phạm hồng Thái. Rồi chỉ ít lâu sau, vào một buổi chiều nắng xiên khoai chiếu vào cửa sổ nhà tôi, thấy có tiếng lao xao ngoài đường, tôi chạy ra xem. Thì thấy hai thanh niên đi xe đạp cầm loa hô hào kêu gọi đại khái mời “đồng bào đến 3 giờ chiều ngày chủ nhật ra sân vận động biểu tình giành độc lập”. Đó là lần đầu tiên tôi nghe thấy mấy chữ độc lập, biểu tình… mà không hiểu là gì. Và chẳng mấy lâu sau thì một buổi sáng hai anh em tôi cùng dân hàng phố chạy ra chỗ bờ thành Vinh xem bắn hai tên Việt gian mà tôi còn nhớ tên là Trần Văn Cống và Tống gia Liêm đã bị xử tử vì tội tố giác Đội Cung cho Tây.

Tất cả giai đoạn mà ông viết trong cuốn sách, tôi chỉ biết có thế. Cho nên tôi quyết định bỏ thì giờ ra đọc để biết thêm. Sau đó là cách mạng tháng tám, là Việt Minh, là kháng chiến chống Pháp, là vùng tề, là vùng quốc gia, là đấu tố, là Việt Cộng, là chính phủ quốc gia, là di cư, là Việt Nam Cộng hòa vân vân mà tôi thương và tôi ghét… mà tôi đã sống và trải qua với những tâm sự và tâm trạng khác nhau. Với các cảm tính dào dạt của từng giai đoạn.

Đọc cuốn sách của ông, tôi lại càng phục vì ông không bị lôi bởi những cảm tính sôi nổi. Ông kiên nhẫn đọc đủ mọi nguồn tài liệu đối nghịch. Để mà phân tích, nhận định. Ông trích dẫn quan điểm và hành động của nhóm Thanh Nghị, của những nhà trí thức thành danh, của những sinh viên có lòng, có suy nghĩ, và của những nhà chính trị đủ xu hướng. Của những trí thức nằm vùng theo Cộng sản lúc đó, và sau đó quy phục chế độ, và qua những bài viết về sau này khi chế độ toàn trị VC biến thái. Vân vân… Rồi đưa ra quan điểm của ông, cũng một cách dè dặt chừng mực, không mang tính sôi nổi thuyết phục hay ẩn ý chính trị. Nhưng mà dù sao, có một điểm nổi bật là ông mang tính lạc quan: Nhìn thấy cái đẹp trong một toàn cảnh không có mấy điều như ý. Vì ông quyết định “giảm thiểu chuyện Việt gian, thân Nhật, bù nhìn của Nhật của hoàng đế Bảo Đại hay chính phủ Trần trọng Kim, một chuyện đã được các sách báo với các tác giả cả Việt nam lẫn ngoại quốc viết trước đây nói tới quá nhiều rồi” (trang 34). Và nhiều lý do khác tôi không kể ra đây vì muốn để dành cho những người đọc sách của ông.
Tôi sẽ hơi thất vọng về câu ông viết cho tôi “để nhớ lại thời chúng mình còn 9, 10 tuổi”, nếu trong cuốn sách không nhắc đến những bài hát yêu nước và dân tộc, không sặc mùi Cộng sản, mà tôi say mê thời đó như Gò Đống Đa, Chi Lăng, Bạch đằng… ca tụng chiến tích của các anh hùng dân tộc. Và cũng là đặc biệt cái lối khai thác sấm Trạng Trình thời đó mà Phạm Khắc Hòe, ngự tiền tổng lý văn phòng của Bảo Đại theo Cộng sản nằm vùng, khai thác để quảng cáo cho Hồ chí Minh hòng lôi Bảo Đại thoái vị, với ba câu:
Đụn Sơn phân giải,
Bò Đái thất thanh
Nam Đàn sinh thánh.
Chuyện này nhỏ nhưng nó nhắc lại cái thời đó, tôi nghe người lớn ca tụng Hồ chí Minh có hai con ngươi và là hậu thân của trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.Tình trạng mê tín này còn kéo dài tới nay, nhưng đó là chuyện khác.
Cám ơn ông nhiều.
Chỉ nói cám ơn ông mà không nói gì đến bà là một lỗi nặng. Bởi có món ăn ngon mà không có người chỉ ra, hay đem tới cho mà ăn thì chẳng thể nào có cơ hội thưởng thức. Bà đóng vai quan trọng trong việc hoàn thành cuốn sách mà ông đã viết lời cám ơn. Ông viết sách mà nếu bà ấy không mất công ra nhà bưu điện gửi cho tôi thì kể là “có cũng như không”, nhất là như đã nói ở trên tôi không có cái thích đọc sử hiện đại nữa. Tôi biết chắc là bà gửi, vì ông lúc này thì chẳng còn đi đâu nữa. Vậy tôi xin long trọng cám ơn bà.
Bs Trần Xuân Ninh

__________________

Đã lâu chúng tôi không thấy anh em thân hữu của mình ra mắt sách hay có những tác phẩm mới, lúc ấy mới chợt nghĩ rằng ở tuổi của mình sức viết có thể đã bị chậm lại. Một nỗi buồn se sắt thoáng qua nhớ lại câu nói của học giả Nguyễn Bá Học: "...Đến lúc tuổi càng cao, kinh lịch càng lắm, lúc bấy giờ mới biết sự đời là khó, tài mình là hèn. Chân đã mỏi, đường còn xa..."

Đấy thực sự chỉ là bản thân của chính mình và thấy chân đã mỏi thực sự. Nhưng khi nhìn thấy một công trình mới của sử gia giáo sư Tiến sĩ PHẠM CAO DƯƠNG chúng tôi lại như mới được chích một liều thuốc bổ, tâm hồn hưng phấn trở lại. Đó là một công trình nghiên cứu về
ĐẾ QUỐC VIỆT NAM
Bốn chữ này chúng tôi đã được nghe từ lâu lắm, cũng khoảng bẩy chục năm nay, bây giờ chúng tôi nghe vừa thấy lạ lẫm, thấy thấm thía, vừa thấy nuối tiếc. Cũng chỉ tai thời gian được mang quốc hiệu này của dất nước ta quá ngắn ngủi, 175 ngày không trọn, chưa được 6 tháng.
Không hiểu khi chọn đề tựa cho cuốn Sử này tác giả có mang một cảm giác u hoài như chúng tôi ngày hôm nay không?
Chắc chắn là CÓ. Nhìn vào hai trang bìa với sự lựa chọn tỉ mỉ từ màu sắc, hình ảnh đến vị trí đặt từng tấm ảnh, mỗi hàng chữ chúng ta đều thấy có sự chăm sóc chu đáo, gói tròn một giai đoạn thương yêu hãnh diện của lịch sử nước ta vào thuở mới chập chững làm quen với Độc Lập với Tự Do với Nhân Quyền mà đã sớm bị cướp đi thì cái cảm giác u hoài kia chắc chắn là phải CÓ. Cái u hoài mà tác giả đã truyền lại cho chúng tôi cũng chỉ nhận được một phần. Viết ra một câu thơ, thi sĩ chỉ gieo lên được 80% cảm súc của tâm hồn minh là nhiều, đến lượt người đọc như chúng tôi chỉ nhận được vào khoảng 70%.

Với chiều dài 175 ngày lịch sử của một dân tộc quả thật là quá ngắn mà Sử gia đã biên khảo được 784 trang sách, là một công trình không nhỏ. 21 năm khảo cứu, bộ sách sẽ là một tài liệu quý giá cho các nhà khảo cứu sau này cũng như những người hằng quan tâm đến tổ quốc và dân tộc. Nhà Sử Học đã viết:
"Đây là một trong những trang sử đẹp của dân tộc Việt Nam, với những người đẹp, việc đẹp, ước nguyện đẹp,, tác giả xin được trang trọng gửi tới các bạn trẻ Việt Nam bây giờ, sau này và mãi mãi." ( Giáo sư Tiến sĩ PHẠM CAO DƯƠNG)

Bộ sách này được in bằng giấy trắng dầy, khổ chữ lớn rất dễ đọc là nhu cầu cần thiết cho những độc giả lớn tuổi như chúng tôi.
Bìa sách trắng sáng có màu tím nhẹ nhàng phớt qua. Tôi hiểu ý tác giả muốn đánh dấu màu tím cổ truyền thân thương của xứ Huế. Nói về HUế mà vắng bóng tím cũng như thiếu đi một nửa mùa xuân.

Cửa Ngọ Môn sừng sững giũa trời, từng viên ngói mới được tô lại như thách thức với thời gian của cả triều Nguyễn

Nói đến ĐẾ QUỐC VIỆT NAM chúng ta không thể không nói đến vị vua cuối cùng của triều Nguyễn là Hoàng Đế Bảo Đại. Hoàng Đế Bảo Đại là một vị vua trẻ, thông minh, được huấn luyện bằng cả hai nền văn hóa Đông và Tây và cả hai cùng huấn luyện để Ngài làm vua. Cũng vì thế, khi thời cơ đến, Hoàng Đế đã sẵn sang chấp chánh ngay và đồng thời cũng có ngay chương trình phục vụ đất nước và đặc biệt là chương trình phục vu cho thần dân của Ngài. Cho nên ngay khi quyết định chấp chánh, trong Dụ số 1 Ngài đã viết:

"...Nay trẫm có trách nhiệm đối với lịch sử và thần dân, nên tự cầm lấy quyền để bảo vệ quyền lợi cho tổ quốc và giáng dụ rằng:
Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu "DÂN VI QUÝ"....

Cũng vì thế cửa Ngọ Môn cũng còn có liên hệ đến những ngày đầu của Đế Quốc Việt Nam cho nên cửa Ngọ Môn vẫn có lý do đứng oai nghiêm trong trang đầu cuốn sách vì sự tự nguyện tham chính và vì lý tưởng quyết tâm phục vụ toàn dân của Hoàng Đế Bảo Đại với khẩu hiệu" Dân Vi Quý" mà Ngài đã chính thức chỉ thị cho Nội Các Trần Trọng Kim thực hiện ngay trong Đạo Dụ đầu tiên, Dụ số 1 và là điều số 1 của Đạo Dụ điều này nói lên bầu nhiệt huyết với mối quan tâm hàng đầu của Ngài.

Cũng là vận nước, song song với Đế Quốc Việt Nam non trẻ quyết tâm phục vụ Tổ quốc với khẩu hiệu Dân Vi Qúy lại xuất hiện thêm một thế lực khác có âm mưu cướp chính quyền và thề phanh thây uống máu.
Họ đã cướp và cướp được chính quyền. Họ thề phanh thây uống máu và họ đã phanh thây tất cả các đảng phái VN hồi đó và cuối cùng là phanh thây hằng triệu quân và dân miền Nam trong ý đồ cướp sống miền Nam, ấy là chưa kể hằng triệu thanh niên miền Bắc đã bắt buộc hy sinh cho những âm mưu đen tối của Đảng CS miền Bắc.

Chẳng có quân cướp nào đi cướp được lại đem của cải kiếm được dâng cho người khác. Cướp được chúng đem chia cho đảng của chúng với nhau. Dân nào hưởng chút gì!

Cuối cùng thì chỉ có dân là khổ vẫn hoàn khổ. "Dân Vi Quý" chưa được hưởng nhưng đã bị cướp mất hết.

Trang bìa sau là mộ phần của Hoàng Đế Bảo Đại nơi đất khách quê người. Thiện Chí của Ngài là "đem thân phục vụ đất nước", ước mơ của Ngài là "tất cả cho toàn dân". Quân cướp đã làm tan nát mộng ước của Ngài để đến nỗi tác giả đã u uẩn ghi bên cạnh mộ phần của Ngài:
Trăm năm còn có gì đâu? (Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều)
Kẻ cướp được thì lầu các nguy nga, lăng nọ tẩm kia, rồi cuối cùng họ đã đem cả đất nước của tổ tiên ra bán, họ đang âm mưu với kẻ thù phương Bắc nhằm tiêu diệt cả dân tộc Việt Nam ta. Về điểm này Đức Đạt Lai lạt Ma đã nói về con người Cộng Sản như sau:

“Người cộng sản làm cách mạng không phải là để mang lại hạnh phúc cho người dân, mà họ làm cách mạng là để người dân mang lại hạnh phúc cho họ”.
Riêng tác giả vẫn mang một tinh thần lạc quan, Việt Nam ta sẽ là Minh Châu Trời Đông cho nên dù Đế Quốc Việt Nam đã không thành tựu được như mong ước nhưng tác giả vẫn để bản đồ "Việt Nam Minh Châu" tỏa sáng khắp vùng Đông Nam Á.

Trên đây chỉ là một vài nhận xét rất thô thiển và có tính cách cá biệt khi lướt qua mấy trang bìa của bộ sách quý giá. Những ý kiến trên đây nếu vì quá hâm mộ đề tài mới mẻ này mà có những điều không hợp ý với tác giả, chúng tôi xin được lãnh ý.

Trong tinh thân chân quý bộ sách gần như tuyệt đối, chúng tôi nhiệt liệt trân trọng giới thiệu bộ sách ĐẾ QUỐC VIỆT NAM với quý cụ tuổi hạc đã cao mà học giả Nguyễn Bá Học cho là "chân đã mỏi đường còn xa", với những bạn trẻ, những bạn chưa có dịp đọc hoặc khảo cứu giai đoạn này của lịch sừ cận đại, và mọi tầng lớp người Việt Nam để biết thêm và yêu quý thêm dân tộc mình và đất nước mình đồng thời cũng để chúng ta có một nhãn quan công bằng trước lịch sử.

Gs Phạm Quang Chiểu

_____________________

Cả cuộc đời anh Dương là cuộc đời của một sĩ phu đúng nghĩa nhất nên anh đã để hết tâm lực và trí lực vào tác phẩm này. Đây là chuyển điểm và một khúc quanh lịch sử vô cùng quan trọng khi Nhật trao trả độc lập. Ngày 17 tháng 4 chính phủ Trần Trọng Kim đã thành lập chính phủ. Ngày 8 tháng 5 Hoàng Đế Bảo Đại đưa ra Hiến Pháp cho một nước VN độc lập và thống nhất. Hiến Pháp đã qui định quyền tự do chính trị,tự do tôn giáo và tự do thành lập nghiệt đoàn. Các cơ cấu khắp lãnh thổ đã được tổ chức từ thành thị đế thôn quê---với khẩu hiệu "DÂN VI QUÝ".

Khốn thay chính Hồ Chí Minh và bọn cộng sản đội lốt Việt Minh đã lừa Hoàng Đế Bảo Đại và cụ Trần Trọng Kim để cướp chính quyền. Trong lúc phôi thai ấy,bọn cộng sản chỉ khoảng hơn 5000 người mà thôi. Với sự trợ giúp của Nhất chính phủ Trần Trọng Kim có thể tiêu diệt và nhổ tận gôc rễ bọn cộng sản thì đất nước VN đâu có chiến tranh VN và đâu có cái đại họa cộng sản.

Chị Vân ơi !Anh Dương đã nhìn thấy tất cả sự thật ấy. Là một người sĩ phu anh nuối tiêc giai đoạn lịch sử đó với hình ảnh của một vị Hoàng Để cực kỳ thông minh và nhân từ,bên cạnh ngài là những khuôn mặt sĩ phu ưu tú và khả kính của dân tộc. Chúng ta có thể xây dựng lại đất nước dân chủ,tư do và độc lập. Đất nước VN sẽ đẹp biết bao. Cuối cùng chỉ vì tính sai một nước cờ bí mà bao thảm họa dội trên dóng sử mệnh Việt cho đến hôm nay.

Vì thế những trang sử của anh Dương đưa ra hôm nay, không chỉ có tuổi trẻ phải học mà chúng ta tất cả dân tộc này phải học những bài học thực tế lịch sử đó để rút tỉa kinh nhiệm cho tương lai. Đúng là "nhất thất túc thành Thiên Cổ hận" là đây. Truyền thống sĩ phu khác truyền thống nho quan rất nhiều.
Người sĩ phu có thể làm quan nhưng nhiệm vụ chính của họ là làm ÁNH ĐUỐC SOI ĐƯỜNG CHO TOÀN DÂN.

Trước bào đau khổ và bao lầm lạc mà cả một dân tộc phải nhận bao cái chết đắng cay. Nhưng dân tộc này vẫn còn mê ngủ. Những người sĩ phu phải đánh thức họ dây để tìm kiếm một bình minh.

Lịch sử càng tăm tối thì càng cần những người sĩ phu. Chúng ta trân trọng với người sĩ phu, bởi vì trước hết họ là những người trong ĐẠO LÝ và thường có TÂM ĐẠO nên thường quên thân mình để hy sinh cho dân cho nước. Cái gọi là "trí thức thời nay) (modern intellectual) không mấy ai biệt TRỌNG ĐẠO và thường không có TÂM ĐẠO chị ạ.

Cuối cùng chỉ có người si phu truyền thống mới làm nên lịch sử. Những người thí thức thời nay đánh mất truyền thống sĩ phu của Đất Việt rồi. Buồn thay.
Xin có lời cảm phục người sĩ phu Phạm Cao Dương.
Ts Nguyễn Anh Tuấn

_______________

Thưa anh chị,
Nhận đưọc tập nghiên cứu lịch sử của anh, tôi để mấy ngày đọc những chương mà tôi cho là hấp dẫn, trước khi để dành thì giờ đọc hết.
Cám ơn anh đã để công nghiên cứu, đọc,và gom góp, cô dọng và viết thành hệ thống. Tôi tưởng mình cũng biết nhiều và đọc khá nhiều về lịch sử giai đoạn đó, nhưng thật ngạc nhiên, anh đã cho biết thêm nhiều điều rất thích thú, mà lần đầu tiên tôi đọc được.
Những cuốn sách như thế nầy vô cùng giá trị, để mở mang trí óc, soi sáng cho các thế hệ đương thời, và cho cả các thế hệ mai sau, khi mà lịch sử đã bị CS nhào nặn, bóp méo, và làm sai lạc sự thật.
Cám ơn tấm lòng của anh đối với lịch sử của quê hương Việt Nam.
Nhà Văn Tràm Cà Mau

_________________

Cầm cuốn sách của GS Phạm Cao Dương trên tay, tôi muốn...nóng lạnh bởi độ dày và muôn vàn sự kiện lịch sử trong một giai đoạn thật ngắn: 9/3/1945 - 30/8/1945 , được "gói ghém" trong 792 trang (kể cả bìa trước và sau).

Để hoàn thành tác phẩm này, tác giả với tấm lòng của một sử gia sĩ phu chân chính, đã miệt mài suốt hơn 21 năm (8/1995-đầu năm 2017).
Thật ngưỡng mộ công trình khảo cứu của GS Dương, ở tuổi bát tuần GS đã không ngại sức khỏe yếu vẫn mong muốn phổ biến "... một trong những trang sử đẹp của dân tộc Việt Nam, với những người đẹp, việc đẹp, ước nguyện đẹp, tác giả xin được trang trọng gửi tới các Bạn Trẻ Việt Nam, bây giờ, sau này và mãi mãi. " (trang 9 trong tác phẩm ).

Thành thật tri ân GS Dương đã khổ công hoàn thành tác phẩm Bảo Đại - Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam.
Học trò của THÀY,
Lưu anh Dũng

Nhân đây cũng xin kính phổ biến tới toàn thể Thân Hữu, sách được bán trên Amazon.
Ngoài phần mở đầu và phần giới thiệu tác giả và các tác phẩm, sách gồm BA phần :
1. Phần thứ nhất gồm 10 chương (chương 1-10 ; trang 43-512)
2. Phần thứ hai gồm 7 chương (chương 11-17 ; trang 513-664)
3. Phần thứ ba gồm 2 chương (chương 18-19 ; trang 665-777)

Đặc biệt, để thuận tiện cho người đọc và để dễ dàng cho các bạn trẻ suy luận và phán đoán theo quan điểm riêng, sau mỗi chương tác giả ghi ngay những nguồn tài liệu và chứng cứ liên hệ.

Đây là một nguyên tắc không thể thiếu trong ngành sử học , là tính khách quan của phương pháp sử, tuỳ theo những nguồn sử liệu và nhận định riêng của từng người nghiên cứu sử, các sự kiện lịch sử có thể được nhận định dưới nhiều lăng kính khác nhau.

Ngoài ra, tôi cũng tự nghĩ : " phải chăng tác giả muốn người đọc nên ...ung dung từ tốn đọc và suy ngẫm từng sự kiện lịch sử qua từng chương và nếu có thể, tìm tòi thêm những nguồn tư liệu để sáng tỏ hơn nữa, biết đâu sẽ góp phần cùng tác giả ngày càng hoàn thiện thêm một giai đoạn ĐẸP của lịch sử Việt Nam ". Cũng giống như khi ta thưởng thức một bình trà ngon, phải dùng chén hột mít chiêu từng ngụm từ từ ; chứ không thể... ngưu ẩm.

Lưu anh Dũng

© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam

Phần 2: Vì Sao Việt Cộng Thu Hồi Hồi Ký Của Cố TT Trần Trọng Kim? 

 

 

NHÂN CÁC VỤ LƯU HIỂU BA, LYSENKO và THU HỒI CUỐN "MỘT CƠN GIÓ BỤI"

CHE DẤU, BỊA ĐẶT, BÓP MÉO và LẨN TRÁNH SỰ THẬT

Đọc tác phẩm "Trước khi bão lụt tràn tới:  Bảo Đại - Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam (9/3/1945 - 30/8/1945)"

Tác giả:  Phạm Cao Dương

Người đọc:  Bùi Khiết

Bùi Khiết là một Dược sĩ, tốt nghiệp Đại Học Dược Khoa Saigon, thời đầu thập niên 1960. Sau năm 1975, ông là công sự viên nghiên cứu khoa học tại University of California, San Diego, California. Bài điểm sách dưới đây cho ta thấy mặc dầu là một người học dược, một ngành thuộc khoa học thực nghiệm khác hẳn với Sử học, một khoa học nhân văn, tác giả lại tỏ ra quan tâm nhiều đến lịch sử của đất nước ông, có kiến thức rộng rãi và tinh thần phân tích sắc bén rất đáng chú ý, từ trước tới nay ít ai để ý tới. Điều người ta có thể nói lên được sau khi đọc bài ông viết là khoa học, dầu là chính xác, thực nghiệm hay nhân văn cũng đều là khoa học mà mục tiêu tối hậu luôn luôn là sự thật và là sự thật được đem lại bởi những phuơng pháp dù có đôi phần khác biệt.

* * *

Tôi cảm thấy vô cùng hân hạnh nhận được một công trình nghiên cứu mới về sử học của tác giả Phạm Cao Dương, một nhà giáo và cũng là một nhà nghiên cứu sử học quen thuộc ở Miền Nam trước năm 1975 và hiện ở Hải Ngoại, tác phẩm: Trước Khi Bão Lụt Tràn Tới: Bảo Đại-Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam 9/3/1945 - 30/8/1945, Amazon in ấn và phát hành đầu năm 2017. Đây là một công trình soạn thảo rất công phu . Sách in đẹp rõ ràng và không có lỗi ấn loát. Tôi đọc cẩn thận và cũng nhân dịp này có một vài cảm nghĩ về tác phẩm của ông.
Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam Hiện Đại rất phức tạp và bi thảm bao quanh bởi một ý thức hệ không tưởng (utopia) cùng với bạo lực và tuyên truyền làm chủ đạo, chân lý lịch sử bị nhào lặn giả tạo được phát hiện rất nhiều. Thời mà quan niệm chính trị bao trùm trên mọi sinh hoạt suy tưởng đã bẻ quẹo ngòi bút theo hướng mà chính trị đã định đoạt. Thế nên giữa những lý luận giả trá, sai trái được xô đẩy vươn lên tràn đầy trên môi trường chữ nghĩa thì tác phẩm của Phạm Cao Dương là hòn đá tảng vững chãi giữa dòng lũ vẩn đục. Với một chứng nghiệm sau đây của bản thân, tôi đã hình dung ra được hành trình của tác phẩm này.
Trong lịch sử nghiên cứu khoa học, đã nhiều lần Liên Xô nhận được những quả đắng do sự gian dối. Nhân quả là một điều hiển nhiên, nhưng những thế lực chính trị vẫn mù vẫn điếc để dẫm đạp lên điều hiển nhiên đó.
Vào năm 1961, chính phủ Pháp đã đề cử một khoa học gia rất nổi tiếng sang giảng dạy tại trường Đại Học Y - Dược Saigon. Đó là Giáo Sư Pierre Georges Delaveau. Về trình độ chuyên môn Ông có bằng Tiến Sĩ Dược Khoa (Docteur en Pharmacie). Tiến Sĩ Y Khoa (Docteur en Médecine), Tiến Sĩ Khoa Học về Sinh Lý Thực Vật (Docteur es-Science, Physiologie Végétale).
Tới Saigon, Ông nhận trách nhiệm giảng dạy môn Thực Vật Học cho sinh viên Dược. Sau đây là một trong những gì ông dạy:
Năm 1960 Liên Sô công bố một nghiên cứu rất thành công do Khoa Học Gia Trofim Denisovich Lysenko thực hiện. Sự thành công của nghiên cứu này sẽ làm đảo lộn sản xuất nông nghiệp trên toàn thế giới. Giáo Sư Delaveau tiếp nhận được tài liệu nghiên cứu trên cũng như các khoa học gia tại Pháp, rất hân hoan. Liên Xô và Pháp có trao đổi với nhau về các thông tin khoa học.
Lysenko là khoa học gia Nông Học (Agrobiologist). Tại Liên Sô, ông và các cộng sự viên công bố đã hoàn chỉnh nghiên cứu về đề tài “ Sự thay đổi nhiệt độ ảnh hưởng lên chu trình đời sống của cây cỏ” (The effect of temprerature variation on the life-cycle of plants). Theo ông sự thay đổi nhiệt độ nhân tạo có thể biến lúa mì mùa đông (winter wheat) thành lúa mì mùa xuân (spring wheat). Với kết quả này người ta có thể sản xuất bất cứ loại nông sản nào vào bất cứ thời gian nào trong năm.
Tại Saigon, sinh viên Dược Khoa năm 1961 được trực tiếp nghe Giáo Sư Delaveau giảng dạy theo kết quả mà Liên Xô đã công bố. Lysenko gọi kết quả của sự biến đổi trên là jarovization, dịch ra Pháp Ngữ là vernalisation và Anh ngữ là vernalization. Có thể nói Ông Delaveau rất say mê giảng dạy đề tài này. Tôi là một sinh viên Dược năm đó. Một sinh viên di cư từ Bắc vào Nam, Tôi rất để ý đến nông nghiệp miền đồng bằng Sông Cửu Long nên từ bài giảng này tôi mơ tưởng ra sự giàu có vô vàn của cả 2 miền Nam, Bắc Việt Nam. Tôi cám ơn ông Delaveau đã chuyển tới chúng tôi một khám phá mới đang làm chấn động hoàn cầu. Tôi yêu mến vô vàn Lysenko. Sau 4 tháng giảng dạy, Giáo Sư Delaveau giã từ chúng tôi trở lại Paris. Đời sống hối hả của một đất nước chiến tranh khiến chúng tôi chẳng bao giờ có dịp để gặp mặt Giáo sư nữa. Nhưng trong tôi hai cái tên một Pháp Delaveau và cái tên Nga Lysenko không bao giờ tôi quên. Kỳ thi khoá hai năm đó (1961) Giáo Sư Nguyễn Thị Lâu đã ra đề thi vernalisation et photoperiodisme thay Giáo Sư Delaveau. Tôi lại nhớ tới Bà Lâu từ nụ cười tới giáng dấp của Bà. Đề thi phải viết gồm ba câu hỏi. Phải viết tất cả chứ không chọn một như những kỳ thi tú tài. Hai câu tiếp theo của Bà Lâu là Hemicellulose và La Fougère mâle. Sở dĩ tôi nhớ tới hai câu cuối của Giáo Sư Lâu là vì tôi nhớ tới câu ra thi vernalisation của Ông Delaveau. Xem vậy, Delaveau và Lysenko là thần tượng của tôi. Câu chuyện này xẩy ra cách đây 56 năm.
Đầu thập niên 1980 tại Hoa Kỳ, gia đình tôi sống tại một căn nhà nhỏ dành cho graduate student thuộc trường Đại Học UCSD (San Diego - California). Tôi có rất nhiều cơ hội và thời giờ vào tra cứu tại thư viện của nhà trường, và than ôi! qua nhiều sách rất đáng tin cậy tôi đã được biết rằng kết quả của công trình do Lysenko công bố là kết quả không đúng sự thật. Nói theo tiếng Việt là ‘xạo” là “giả” là “gian dối”. Nhiều bài viết gọi “Lý thuyết” của Lysenko là lý thuyết pseudoscientific. Và nặng nề hơn nữa họ gọi các công trình giả được báo cáo là Lysenkoism. Thế giới khoa học nhạo báng Lysenko. Từ Hoa Kỳ tôi không biết khi Giáo Sư Delaveau nhận được những tin tức xấu này, ông đã nghĩ gì? Nhưng tôi tin rằng Ông Delaveau không sai. Cái sai trái này thuộc về Liên Xô, thuộc về Lysenko. Khoa học thế giới thường tin vào lương tâm và sự trong sáng của các khoa học gia. Việc làm của Lysenko là một vết nhơ quá lớn.
Tra cứu thêm tài liệu để tìm hiểu nguyên nhân nào dẫn tới sự gian dối này. Có nhiều giả thuyết được nêu lên. Có thể vì tiền. Có thể vì danh vọng. Nhưng tôi lại để ý tới một ý kiến được nhiều người đồng ý là Liên Xô là một quốc gia liên tục hàng năm thiếu thực phẩm. Cơ bản nhất là lúa mì. Họ thường hãnh diện là một siêu cường đối đầu với Mỹ. Nhưng họ cũng khó dấu được hổ thẹn hàng năm phải muối mặt điều đình để mua lúa mì của Mỹ. Phải chăng kết quả nghiên cứu này là cái bánh vẽ của giớí chính trị vẽ lên để lòng dân được yên ổn tin vào tương lai của thể chế. Chẳng lẽ mục tiêu của chính trị lại dơ bẩn như vậy? chẳng lẽ cứu cánh biện minh cho phương tiện?
Nhưng hậu quả của Lysenko khiến nhiều khi người ta nghi ngờ các thống kê, các nghiên cứu khảo cổ, nghiên cứu Lịch Sử, xã hội, y tế v.v...của Liên Xô.
* * *
Sở dĩ tôi đã dài dòng về kinh nghiệm của bản thân với chuyện nghiên cứu của Lysenko vào thập niên 1960 để nhắc nhở tới công trình nghiên cứu của Phạm Cao Dương.
Cái may mắn của Phạm Cao Dương là được hưởng một nền giáo dực phi chánh trị. lấy nhân bản, dân tộc, khai phóng làm cơ sở. Tại Pháp hay tại Hoa Kỳ Giáo Sư Dương đều được học và làm việc trong một môi trường nghiên cứu ít ô nhiễm. Nhờ những bệ phóng có giá trị này mà Giáo Sư Dương có những phản sạ (reflex), dị ứng với những hành động sai trái của Lysenko.
Cuốn sách Bảo Đại-Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam khá dầy. Nó dầy tới 782 trang. Một phần là khổ chữ khá lớn giúp người đọc cao niên dễ dàng lãnh hội. Cái đáng quý của nó không phải là dày mà là nó chứa chất nhiều dữ kiện hiếm hoi, ít người biết tới.
Thời điểm 1945 tại Việt Nam là một thời kỳ nhiều biến động nhất. Sự xung đột giữa chính quyền Bảo Hộ với nhiều đảng phái cách mạng Việt Nam. Mâu thuẫn giữa Quân đội chiếm đóng Nhật Bản với người Pháp. Việc Hoa quân nhập Việt với tham vọng của người Trung Hoa về lãnh thổ Đông Dương. Việc du nhập ý thức Cộng Sản đã được biểu hiệu bằng hành động tuyên truyền và võ trang. Việc khó khăn của chính quyền hợp pháp nhưng rất yếu của Vua Bảo Đại và Thủ Tướng Trần Trọng Kim. Việc những nhà ái quốc không Cộng Sản từ Trung Quốc, lưu lạc nhiều năm, nay trở về. Tất cả mọi phía đều cất tiếng nói và có tiếng nói riêng biệt với chân lý về mình. Giờ đây những chứng từ, những tiếng nói ấy gom góp lại thành nhiều dữ kiện rất tương phản, mâu thuẫn của một thời kỳ bát nháo.
Nghiên cứu của Giáo Sư Dương được giới hạn trong một đoản kỳ từ ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương. Ngày 15/8/1945 Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh và giới hạn cuối cùng là ngày 19/8/1945 Việt Minh Cướp Chính Quyền, Vua Bảo Đại thoái vị (30/8/1945). Như vậy tổng cộng 5 tháng 20 ngày.
Trước khi cơn bão táp tràn tới Vua Bảo Đại và Thủ Tướng Trần Trọng Kim đã hành sử như thế nào và kết quả ra sao? Một tổng kết sơ khởi cho thấy
- Vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập
- Thu hồi đất Nam Kỳ về với tổ quốc Việt Nam
- Tiếp thu và cải tiến nền hành chánh theo tiêu chuẩn Việt Nam
- Tổ chức và chuyển ngữ ngành Giáo Dục Việt Nam
- Bổ nhiệm những cá nhân có tài, đức vào những chức vụ quan trọng trong chính quyền.
- Tổ chức cứu đói tại Bắc Việt. Một nạn đói khủng khiếp.
- Cố gắng giữ gìn an ninh v.v...
Tất cả những thành quả đã được Giáo Sư Phạm Cao Dương nghiên cứu, phân tích rất khúc chiết. Trong giai đoạn lịch sử này, Đảng Cộng Sản Việt Nam cướp được chính quyền. Sự thành công của Đảng Cộng Sản rất dễ hiểu. Thứ nhất các lãnh tụ Đảng đều là đảng viên quốc tế được huấn luyện kỹ lưỡng về chính trị, tổ chức và tuyên truyền. Thứ hai có một đội ngũ cán bộ kỷ luật, nồng nhiệt và đi sát với quần chúng. Thứ ba là kết hợp nhuần nhuyễn giữa bạo lực cách mạng với tuyên truyền để tiêu diệt đối phương.
Và sự nghiệp của Thủ Tướng Trần Trọng Kim kết thúc tự đây.
Trong đống dữ kiện phức tạp, mâu thuẫn như mớ bòng bong đó. Tôi thấy Giáo Sư Dương đã kiên nhẫn thu thập, thời gian thu thập chắc là rất lâu. Nhất là những tài liệu lấy từ nước ngoài. Rồi ông sắp xếp theo đặc tính dữ kiện và theo thời gian.
Là một học giả hàn lâm (academic), những bước đi trong nghiên cứu rất rõ ràng, khiến độ khả tín rất cao. Với cách nhìn khách quan, ông đã tránh đi những thiên kiến về các tài liệu quá khích, ngược ngạo và mâu thuẫn (contradictory sources). Sau đó Giáo Sư Dương đã sắp xếp lại những dữ kiện đáng tin cậy nhất, kể cả những chứng cớ gián tiếp.
Bước kế tiếp Giáo Sư xử dụng kiến thức sử học chuyên môn để đối chiếu, so sánh (comparison), lý gỉải (historical reasoning). Tôi đã chú ý rất nhiều đến những footnotes (ghi chú hướng dẫn).
Ngôn từ sử dụng để phán xét của Giáo Sư Dương rất từ tốn lễ phép. Đối với các nhân vật lịch sử còn sống hay đã khuất dù đứng trên bất cứ lập trường nào ông cũng rất tôn trọng. Họ là những người chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, chứ họ không phải là ân nhân hoặc tội nhân trước các sử gia để được đề cao ủng hộ hoặc dè bỉu đả kích. Sử gia là khoa học gia tìm kiếm, phân tích và kết luận về các su hướng, hành động, hành sử của các nhân vật chính trị. Sử gia không phải là một chánh án có trách nhiệm phán xét rõ rệt sự đúng, sự sai.
Một chính trị gia có bản lãnh thường có nhiều ẩn dụ khó hiểu. Tuỳ theo hoàn cảnh của từng thời điểm họ có những chiến lược, chiến thuật biến hóa. Chúng ta có rất nhiều thí dụ.

  1. Tổng Thống Soekarno còn có khi viết là Sukarno (6/6th/1901 – 6/21/1970) là người Indonesia. Là nhà yêu nước chống lại sự đô hộ của người Hoà Lan. Nhưng trong Thế Chiến Thứ Hai, ông là là cộng tác viên đắc lực của người Nhật. Sau thế chiến, ông trở thành tổng thống.
  2. Tổng Thống Park Chung Hee (1917-1979) là người hùng, dựng lên một Hàn Quốc hiện đại hùng mạnh. Ông là một người thân Nhật , có tên Nhật là Takagi Masao và là một sĩ quan trong quân đội Nhật (trong Thế Chiến Thứ Hai)
  3. Thủ tướng Lý Quang Diệu Lee Kwan Yew (1923-2015) là một người thân Anh. Tốt nghiệp tại Cambridge Anh Quốc. Trong Thế Chiến Thứ Hai Ông lại thân Nhật và là một thông dịch viên (Japannese translator) cho quân đội Nhật.
  4. Thủ Tướng Abdul Rahman (1903-1990), thủ tướng đầu tiên của nước Malaysia độc lập năm 1957. Ông tốt nghiệp tại Cambridge University Anh quốc. Một người thân người Anh. Trong Thế Chiến Thứ Hai, Abdul Rahman đã có một thời gian dài cộng tác với quân Nhật và nhận chức quận trưởng (district officer) trong nhiều năm dưới sự cai trị của người Nhật.

Trên đây là những nhân vật rất quan trọng đã từng cộng tác với quân Nhật trong Thế Chiến Thứ Hai và sau đó lại là những nhân vật phụng sự rất đắc lực cho quốc gia họ. Còn Việt Nam được ân huệ gửi công nhân qua nước họ.
Vua Bảo Đại và Thủ Tướng Trần Trọng Kim đã không có được những may mắn như các vị kể trên.
Hầu hết các quốc gia như Cao Ly (Triều Tiên), Mã Lai, Nam Dương, Singapore đều nằm ngoài ảnh hưởng của Trung Hoa. Trước Thế Chiến Thứ Hai, Cao Ly (Triều Tiên) là thuộc quốc của Nhật Bản.
Việt Nam lúc nào cũng coi Trung Hoa là mẫu mực. Những danh từ việt gian hay ngụy đều lấy từ sản phẩm chính trị của Trung Quốc là Hán gian và Ngụy.
Quan niệm và lập luận vô lý và hẹp hòi này đã làm bể vỡ tình đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt. Nội bộ của mọi quốc gia thuộc Đông Nam Á đều chấm dứt hận thù. Chỉ trừ có Việt Nam, ngày nay trên sách báo vẫn tràn đầy các danh từ tay sai, phản động, liếm gót nước ngoài, việt gian, ngụy v.v...
Một lần nữa cần phải nói lại , chúng ta phải hối tiếc một triều đại nhân bản, yêu nước và hòa hiếu, thương dân đã vượt khỏi tầm tay của nhân dân ta để sau đó gánh chịu một cuộc chiến đẫm máu kéo dài từ năm 1945-1975. Tưởng chấm dứt. Ai ngờ vết thương khó lành.
Giáo Sư Phạm Cao Dương đã giải phẫu một vết thương lịch sử Bảo Đại-Trần Trọng Kim. Cái quý nhất của khảo cứu này được thực hiện ở một xứ sở văn minh, minh bạch. Cũng đã có những sử gia được đào luyện tại chính quốc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà hoặc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Các sử gia này là người Việt Nam rất thông minh bén nhậy nhưng không may mắn phải sống ở một môi trường mà mọi sự minh bạch đều bị giới hạn. Các tác phẩm của họ, tiếc thay, khó tồn tại với thời gian. Than ôi! Lysenko và Lysenkoism.
Tác giả Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, đã mất năm 1953. Tác phẩm lịch sử của Ông ra đời từ năm 1920 mà vẫn được tồn tại và tồn tại mãi mãi. Vì tính minh bạch, khoa học, tác phẩm của Phạm Cao Dương cũng sẽ được tồn tại. Trong Thế Kỷ 21 này sẽ có nhiều sử gia Việt Nam chân chính chiêm nghiệm về công trình của Phạm Cao Dương.
Đó là một may mắn quý giá.
Nhìn cuốn khảo cứu quá dầy, nghĩ tới tuổi đời quá cao, đã trên 80 tưổi của tác giả. Nghĩ tới căn bệnh tim hiểm nghèo vẫn còn lơ lửng treo trên sinh mệnh của Giáo Sư Phạm Cao Dương. Nghĩ tới và nghĩ tới. Vừa cảm phục vừa thương mến một con người đã chấp nhận định mệnh trên con đường tìm sự thực lịch sử mà ông đã lựa chọn và trung thành với nó.
Bùi Khiết
Mùa Hè 2017

 __________________

Anh Lâm Vĩnh Thế thân mến,
Sách của tôi, một chuyện ít người trong anh em chúng mình còn làm được. Nhiều anh em cho tôi biết là họ chỉ đọc từng đoạn như đọc một cuốn từ điển bằng cách xem mục lục hay sách dẫn và đọc lúc rảnh rang. Chưa hết, Anh còn bỏ thì giờ viết cho những lời thật chân tình của một người bạn, một đồng môn của hơn nửa thế kỷ trước nhưng vẫn mang tính cách chuyên môn của một người cùng làm nghề thày giáo, lúc nào cũng nghĩ đến tuổi trẻ, yêu mến tuổi trẻ và một nhà nghiên cứu nhìn thấu vấn đề và chủ ý của người viết. Hai chữ bão lụt tôi dùng trong nhan đề cuốn sách chẳng hạn, it ai để ý. Thú thật với Anh là khi viết đến đoạn Ông Nguyễn Văn Sâm, Khâm Sai Nam Kỳ, trên đường vào Saigon nhậm chức, đến "Đất Hộ" được đồng bào đứng suốt hai bên đường kéo dài cho đến tận Dinh Gia Long hoan hô, chào đón theo lời kể của ký giả Nguyễn Kỳ Nam, tôi lại nhớ tới các bạn xưa ở Dakao và có viết hồi ký về vùng này, trong đó có Anh với những kỷ niệm đẹp của thời trước năm 1975. Nói như vậy là bị tình cảm chi phối khi tìm hiểu lịch sử nhưng càng về già, tôi càng thấy khó mà viết sử với một "cái đầu hoàn toàn lạnh" như hồi trẻ mình mơ ước được.
Một lần nữa, xin cảm ơn Anh. Anh cho tôi gửi lời kính chào và thăm Chị. Bắt chước Anh, thân chúc Anh Chị một mùa hè tràn ngập vui tươi và hạnh phúc.
Phạm Cao Dương

* * *

-----Original Message-----

From: Vinh Lam < This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. >
To: Pham Cao Duong < This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. >
Sent: Wed, Jul 26, 2017 6:52 am
Subject: Về Cuốn Sách

Anh Dương kính mến:
Hôm nay, tôi đã đọc xong cuốn "Trước khi bảo lụt tràn tới: Bảo Ðại - Trần Trọng Kim và Ðế Quốc Việt Nam, 9/3/1945 - 30/8/1945" của anh, và xin có mấy lời chân thành gửi đến anh.
Tôi xin thú thật từ khi ra khỏi nước năm 1981 đến nay, tôi chưa từng được đọc một cuốn sách nào viết về giai đoạn lịch sử ngắn ngủi này rõ ràng, xúc tích và có giá trị nghiên cứu rất cao như cuốn sách đồ sộ này (782 trang) của anh. Sự kính trọng và ngưỡng mộ của tôi đối với anh, mà chắc anh đã biết rõ từ lâu, đã tăng lên thêm rất nhiều.
Anh đã không bỏ sót một tài liệu nào, dủ nhỏ nhặt đến đâu, và anh đã phân tích, đánh giá thật kỹ lưởng, và với thái độ thật nghiêm túc và hoàn toàn khách quan. Tất cả những nhân vật có tầm vóc và có đóng góp quan trọng trong giai đoạn lịch sử đó đã được anh nhìn thật rõ, đánh giá thật đúng vai trò, hoạt động, ý đồ và hạn chế của từng người.
Tôi thành thật nghĩ và tin rằng cuốn sách này sẽ được mọi người, đặc biệt là giới trẻ, trong nước và hải ngoại, đánh giá rất cao. Tất cả những người Việt Nam, nếu còn nghĩ đến đất nước và dân tộc, có may mắn đọc được cuốn sách này của đại huynh, sẽ hiểu rõ nguyên nhân của "trận bảo lụt" hiện vẫn còn đang tàn phá đất nước ta do đâu mà có.
Xin thành thật chúc mừng và chia vui với anh về tác phẩm để đời này.
Kính chúc Anh Chị những ngày Hè 2017 vui và khỏe.
Thế.

Lâm Vĩnh Thế: tốt nghiệp ĐHSPSG ban Sử Địa năm 1963 . Tác phẩm: "VNCH 1963-1967: những năm xáo trộn"      (ghi chú của admin).

Ngày 17 tháng 4/2017
Ông Dương thân
Tôi đã nhận được cuốn sách của ông rồi. Mở ra, thấy nó dầy suýt soát cuốn tự điển Merriam Webster. Mà phát ngán. Tuy rằng tôi là người thích sử. Nhờ lúc còn nhỏ được nghe những chuyện anh hùng nước Nam: bà Trưng, bà Triệu, Trần bình Trọng, Bùi thị Xuân, cô Giang cô Bắc…Và nhờ hai ông thầy dậy sử địa trung học: giáo sư Bùi đình Tấn, “hắc” nổi tiếng trường Chu Văn An, và Lê Ngọc Huỳnh, người dậy sử theo tôi, hay nhất Chu Văn An. Ông Tấn, người gầy, trắng trẻo , mặt không lúc nào thấy có nụ cười, bài soạn khô khan ngắn ngủi. Ông Huỳnh người cao, mặt vuông, ăn nói dẽ dàng, những điều ông nói ra là vô cùng đặc biệt, hấp dẫn, và thích thú (ít ra là đối với tôi), nghe rồi không thể quên. Lúc thi lục cá nguyệt trong lớp, nếu có thuộc nguyên văn bài của giáo sư Tấn viết ra, đứng nhất lớp chỉ được chừng 11-12/20. Đa số là dưới trung bình 10/20. Thi lục cá nguyệt với giáo sư Huỳnh thì thoải mái, 16/20- 14/20 là thường. Tôi bực ông Tấn cho nên về nhà mò mẫm tra cứu bổ túc vào những điều ngắn ngủi của bài ông soạn, vì thế bao giờ điểm thứ nhất của tôi cũng cách xa người thứ nhì 1 ½ hay 2. Tôi khoái ông Huỳnh cho nên thích đọc thêm sử để lôi ra những điều hấp dẫn khác ông nói chưa hết, và nghe chưa đã, vì giới hạn thời gian trong lớp.
Kể cho bạn như thế để giải thích lý do tại sao nhìn quyển sử của bạn mà tôi “ngán”, trong khi sử và địa là hai môn tôi thích. Không phải vì nó dầy như quyển tự điển. Mà vì từ những năm gần đây tôi đã không đọc những quyển viết về sử cận đại và hiện đại nữa, Việt nam cũng như ngoại quốc. Bởi vì qua kinh nghiệm sống và suy nghiệm, tôi đã hiểu rằng nhiều điều là những chuyện tầm phào, tưởng tượng viết ra hay chép theo những sách vở và truyền thông ngoại quốc đầy thiên lệch vì nhiều lý do, mà một lý do là phục vụ nhu cầu giải trí quần chúng để bán kiếm tiền và để ảnh hưởng vào quan niệm chính trị của quần chúng. Ngay cả những thứ gọi là tin “tình báo” hay “giải mật”. Tôi có đọc một số sách viết của các nhà chính trị và lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa (hồi ký và sưu khảo) thì chí thấy rằng họ muốn cho thấy sự vô tội vô can của họ, (và ngay cả khoe khoang cái khả năng suy nghĩ của họ) - trong những diễn tiến dẫn đến sự sụp đổ của VNCH. Tôi cũng có đọc một số bài mới viết trong vài năm gần đây, nói về những sự kiện cách đây cả nửa thế kỷ với những chi tiết và đối thoại như thực, làm như là lấy ra từ các băng thu âm thu hình. Chỉ cần suy nghĩ một chút là thấy giá trị của các bài viết này là như thế nào. Tôi không nói đến những tác phẩm của các văn công VC như Huy Đức và cuốn Bên thắng cuộc, với những dụng ý tuyên truyền bằng lối viết học được từ kỹ thuật truyền thông Hoa kỳ. (Nhiều nhà chính trị và truyền thông hải ngoại đã quảng cáo cho cuốn sách này một dạo!).
Tuy nhiên, cầm cuốn sách ông cho tôi, khi nhìn giòng đề tặng ngắn ngủi, mà chữ còn thấy rõ nét chân phương với chữ ký không dấu nổi vẻ huê dạng, tôi không thể không nẩy ra cái ấn tượng “sợ và phục”.
“Sợ” vì ông còn giữ được sự miệt mài làm cái công việc mà tôi (và có thể nhiều người khác) đã không có mấy quan tâm, là đọc và sắp sếp các tài liệu lịch sử Việt nam giai đoạn 9/3/1945- 30/8/1945, bởi vì biểu kiến đó là một giai đoạn giao thời ngắn ngủi không đáng để ý.
“Phục”, vì thấy ông có cái khả năng là ngồi còm cọm trước computer để ghi lại những điều ông gom góp cho người ta trình bầy đem in. Trong trường hợp ông không dùng computer mà vẫn ngồi viết tay thì cũng không thể không phục. Tôi biết nói thế này là thừa, nhưng vẫn phải nói, là ông có cái đặc tính của một thầy giáo, một nhà hàn lâm.
Tuy nhiên không phải vì sợ và phục mà tôi có thể kiên nhẫn đọc quyển sách dầy cộm của ông. Tôi đọc vì cái câu ngắn ngủi đề tặng “để nhớ lại thời chúng mình còn 9, 10 tuổi”. Lúc đó, chúng mình không biết nhau, ông ở miền Bắc, tôi ở miền Trung, thành phố Vinh. Tôi đã bị đánh thức dậy vì tiếng súng đảo chính Nhật kéo dài chừng hơn một tiếng đồng hồ, ngày mồng 9 tháng 3/1945. Để hôm sau, ra cửa thấy lính Nhật đứng gác loáng thoáng trên con phố nhà tôi ở: phố Cửa Tả ngắn ngủi chừng nửa cây số từ ga xe lửa Vinh đến cửa Tả thành Vinh. Để một buổi chiều nào đó sau đó, thấy cả phố gọi nhau ra xem một cảnh tượng chưa từng xẩy ra, là có thằng Tây con mười mấy tuổi kéo chiếc xe nhà chạy trên phố. Có người biết chuyện bảo rằng đó là con thằng Công sứ Tây kéo xe cho mẹ và em nó vào thành thăm thằng Công sứ bị giam. Cũng thời gian đó, một hôm đi học về, tôi thấy có một người gầy guộc dơ xương nằm chết đói trên đường phố. Và một buổi sáng, khi mở cửa ra ngoài hè, tôi thấy ngay nhà bên cạnh một người nằm chết trong quần áo như là giẻ rách và chung quanh là chấy rận bò ra đen cả gạch. Trường tiểu học tôi học lúc đó đang tên là Cao Xuân Dục đổi thành Phạm hồng Thái. Rồi chỉ ít lâu sau, vào một buổi chiều nắng xiên khoai chiếu vào cửa sổ nhà tôi, thấy có tiếng lao xao ngoài đường, tôi chạy ra xem. Thì thấy hai thanh niên đi xe đạp cầm loa hô hào kêu gọi đại khái mời “đồng bào đến 3 giờ chiều ngày chủ nhật ra sân vận động biểu tình giành độc lập”. Đó là lần đầu tiên tôi nghe thấy mấy chữ độc lập, biểu tình… mà không hiểu là gì. Và chẳng mấy lâu sau thì một buổi sáng hai anh em tôi cùng dân hàng phố chạy ra chỗ bờ thành Vinh xem bắn hai tên Việt gian mà tôi còn nhớ tên là Trần Văn Cống và Tống gia Liêm đã bị xử tử vì tội tố giác Đội Cung cho Tây.
Tất cả giai đoạn mà ông viết trong cuốn sách, tôi chỉ biết có thế. Cho nên tôi quyết định bỏ thì giờ ra đọc để biết thêm. Sau đó là cách mạng tháng tám, là Việt Minh, là kháng chiến chống Pháp, là vùng tề, là vùng quốc gia, là đấu tố, là Việt Cộng, là chính phủ quốc gia, là di cư, là Việt Nam Cộng hòa vân vân mà tôi thương và tôi ghét… mà tôi đã sống và trải qua với những tâm sự và tâm trạng khác nhau. Với các cảm tính dào dạt của từng giai đoạn.
Đọc cuốn sách của ông, tôi lại càng phục vì ông không bị lôi bởi những cảm tính sôi nổi. Ông kiên nhẫn đọc đủ mọi nguồn tài liệu đối nghịch. Để mà phân tích, nhận định. Ông trích dẫn quan điểm và hành động của nhóm Thanh Nghị, của những nhà trí thức thành danh, của những sinh viên có lòng, có suy nghĩ, và của những nhà chính trị đủ xu hướng. Của những trí thức nằm vùng theo Cộng sản lúc đó, và sau đó quy phục chế độ, và qua những bài viết về sau này khi chế độ toàn trị VC biến thái. Vân vân… Rồi đưa ra quan điểm của ông, cũng một cách dè dặt chừng mực, không mang tính sôi nổi thuyết phục hay ẩn ý chính trị. Nhưng mà dù sao, có một điểm nổi bật là ông mang tính lạc quan: Nhìn thấy cái đẹp trong một toàn cảnh không có mấy điều như ý. Vì ông quyết định “giảm thiểu chuyện Việt gian, thân Nhật, bù nhìn của Nhật của hoàng đế Bảo Đại hay chính phủ Trần trọng Kim, một chuyện đã được các sách báo với các tác giả cả Việt nam lẫn ngoại quốc viết trước đây nói tới quá nhiều rồi” (trang 34). Và nhiều lý do khác tôi không kể ra đây vì muốn để dành cho những người đọc sách của ông.
Tôi sẽ hơi thất vọng về câu ông viết cho tôi “để nhớ lại thời chúng mình còn 9, 10 tuổi”, nếu trong cuốn sách không nhắc đến những bài hát yêu nước và dân tộc, không sặc mùi Cộng sản, mà tôi say mê thời đó như Gò Đống Đa, Chi Lăng, Bạch đằng… ca tụng chiến tích của các anh hùng dân tộc. Và cũng là đặc biệt cái lối khai thác sấm Trạng Trình thời đó mà Phạm Khắc Hòe, ngự tiền tổng lý văn phòng của Bảo Đại theo Cộng sản nằm vùng, khai thác để quảng cáo cho Hồ chí Minh hòng lôi Bảo Đại thoái vị, với ba câu:
Đụn Sơn phân giải,
Bò Đái thất thanh
Nam Đàn sinh thánh.
Chuyện này nhỏ nhưng nó nhắc lại cái thời đó, tôi nghe người lớn ca tụng Hồ chí Minh có hai con ngươi và là hậu thân của trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.Tình trạng mê tín này còn kéo dài tới nay, nhưng đó là chuyện khác.
Cám ơn ông nhiều.
Chỉ nói cám ơn ông mà không nói gì đến bà là một lỗi nặng. Bởi có món ăn ngon mà không có người chỉ ra, hay đem tới cho mà ăn thì chẳng thể nào có cơ hội thưởng thức. Bà đóng vai quan trọng trong việc hoàn thành cuốn sách mà ông đã viết lời cám ơn. Ông viết sách mà nếu bà ấy không mất công ra nhà bưu điện gửi cho tôi thì kể là “có cũng như không”, nhất là như đã nói ở trên tôi không có cái thích đọc sử hiện đại nữa. Tôi biết chắc là bà gửi, vì ông lúc này thì chẳng còn đi đâu nữa. Vậy tôi xin long trọng cám ơn bà.


Bs Trần Xuân Ninh

----------------

Đã lâu chúng tôi không thấy anh em thân hữu của mình ra mắt sách hay có những tác phẩm mới, lúc ấy mới chợt nghĩ rằng ở tuổi của mình sức viết có thể đã bị chậm lại. Một nỗi buồn se sắt thoáng qua nhớ lại câu nói của học giả Nguyễn Bá Học: "...Đến lúc tuổi càng cao, kinh lịch càng lắm, lúc bấy giờ mới biết sự đời là khó, tài mình là hèn. Chân đã mỏi, đường còn xa..."
Đấy thực sự chỉ là bản thân của chính mình và thấy chân đã mỏi thực sự. Nhưng khi nhìn thấy một công trình mới của sử gia giáo sư Tiến sĩ PHẠM CAO DƯƠNG chúng tôi lại như mới được chích một liều thuốc bổ, tâm hồn hưng phấn trở lại. Đó là một công trình nghiên cứu về
ĐẾ QUỐC VIỆT NAM
Bốn chữ này chúng tôi đã được nghe từ lâu lắm, cũng khoảng bẩy chục năm nay, bây giờ chúng tôi nghe vừa thấy lạ lẫm, thấy thấm thía, vừa thấy nuối tiếc. Cũng chỉ tai thời gian được mang quốc hiệu này của dất nước ta quá ngắn ngủi, 175 ngày không trọn, chưa được 6 tháng.
Không hiểu khi chọn đề tựa cho cuốn Sử này tác giả có mang một cảm giác u hoài như chúng tôi ngày hôm nay không?
Chắc chắn là CÓ. Nhìn vào hai trang bìa với sự lựa chọn tỉ mỉ từ màu sắc, hình ảnh đến vị trí đặt từng tấm ảnh, mỗi hàng chữ chúng ta đều thấy có sự chăm sóc chu đáo, gói tròn một giai đoạn thương yêu hãnh diện của lịch sử nước ta vào thuở mới chập chững làm quen với Độc Lập với Tự Do với Nhân Quyền mà đã sớm bị cướp đi thì cái cảm giác u hoài kia chắc chắn là phải CÓ. Cái u hoài mà tác giả đã truyền lại cho chúng tôi cũng chỉ nhận được một phần. Viết ra một câu thơ, thi sĩ chỉ gieo lên được 80% cảm súc của tâm hồn minh là nhiều, đến lượt người đọc như chúng tôi chỉ nhận được vào khoảng 70%.
Với chiều dài 175 ngày lịch sử của một dân tộc quả thật là quá ngắn mà Sử gia đã biên khảo được 784 trang sách, là một công trình không nhỏ. 21 năm khảo cứu, bộ sách sẽ là một tài liệu quý giá cho các nhà khảo cứu sau này cũng như những người hằng quan tâm đến tổ quốc và dân tộc. Nhà Sử Học đã viết:
"Đây là một trong những trang sử đẹp của dân tộc Việt Nam, với những người đẹp, việc đẹp, ước nguyện đẹp,, tác giả xin được trang trọng gửi tới các bạn trẻ Việt Nam bây giờ, sau này và mãi mãi." ( Giáo sư Tiến sĩ PHẠM CAO DƯƠNG)
Bộ sách này được in bằng giấy trắng dầy, khổ chữ lớn rất dễ đọc là nhu cầu cần thiết cho những độc giả lớn tuổi như chúng tôi.
Bìa sách trắng sáng có màu tím nhẹ nhàng phớt qua. Tôi hiểu ý tác giả muốn đánh dấu màu tím cổ truyền thân thương của xứ Huế. Nói về HUế mà vắng bóng tím cũng như thiếu đi một nửa mùa xuân.
Cửa Ngọ Môn sừng sững giũa trời, từng viên ngói mới được tô lại như thách thức với thời gian của cả triều Nguyễn
Nói đến ĐẾ QUỐC VIỆT NAM chúng ta không thể không nói đến vị vua cuối cùng của triều Nguyễn là Hoàng Đế Bảo Đại. Hoàng Đế Bảo Đại là một vị vua trẻ, thông minh, được huấn luyện bằng cả hai nền văn hóa Đông và Tây và cả hai cùng huấn luyện để Ngài làm vua. Cũng vì thế, khi thời cơ đến, Hoàng Đế đã sẵn sang chấp chánh ngay và đồng thời cũng có ngay chương trình phục vụ đất nước và đặc biệt là chương trình phục vu cho thần dân của Ngài. Cho nên ngay khi quyết định chấp chánh, trong Dụ số 1 Ngài đã viết:
"...Nay trẫm có trách nhiệm đối với lịch sử và thần dân, nên tự cầm lấy quyền để bảo vệ quyền lợi cho tổ quốc và giáng dụ rằng:
Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu "DÂN VI QUÝ"....
Cũng vì thế cửa Ngọ Môn cũng còn có liên hệ đến những ngày đầu của Đế Quốc Việt Nam cho nên cửa Ngọ Môn vẫn có lý do đứng oai nghiêm trong trang đầu cuốn sách vì sự tự nguyện tham chính và vì lý tưởng quyết tâm phục vụ toàn dân của Hoàng Đế Bảo Đại với khẩu hiệu" Dân Vi Quý" mà Ngài đã chính thức chỉ thị cho Nội Các Trần Trọng Kim thực hiện ngay trong Đạo Dụ đầu tiên, Dụ số 1 và là điều số 1 của Đạo Dụ điều này nói lên bầu nhiệt huyết với mối quan tâm hàng đầu của Ngài.
Cũng là vận nước, song song với Đế Quốc Việt Nam non trẻ quyết tâm phục vụ Tổ quốc với khẩu hiệu Dân Vi Qúy lại xuất hiện thêm một thế lực khác có âm mưu cướp chính quyền và thề phanh thây uống máu.
Họ đã cướp và cướp được chính quyền. Họ thề phanh thây uống máu và họ đã phanh thây tất cả các đảng phái VN hồi đó và cuối cùng là phanh thây hằng triệu quân và dân miền Nam trong ý đồ cướp sống miền Nam, ấy là chưa kể hằng triệu thanh niên miền Bắc đã bắt buộc hy sinh cho những âm mưu đen tối của Đảng CS miền Bắc.
Chẳng có quân cướp nào đi cướp được lại đem của cải kiếm được dâng cho người khác. Cướp được chúng đem chia cho đảng của chúng với nhau. Dân nào hưởng chút gì!
Cuối cùng thì chỉ có dân là khổ vẫn hoàn khổ. "Dân Vi Quý" chưa được hưởng nhưng đã bị cướp mất hết.
Trang bìa sau là mộ phần của Hoàng Đế Bảo Đại nơi đất khách quê người. Thiện Chí của Ngài là "đem thân phục vụ đất nước", ước mơ của Ngài là "tất cả cho toàn dân". Quân cướp đã làm tan nát mộng ước của Ngài để đến nỗi tác giả đã u uẩn ghi bên cạnh mộ phần của Ngài:
Trăm năm còn có gì đâu? (Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều)
Kẻ cướp được thì lầu các nguy nga, lăng nọ tẩm kia, rồi cuối cùng họ đã đem cả đất nước của tổ tiên ra bán, họ đang âm mưu với kẻ thù phương Bắc nhằm tiêu diệt cả dân tộc Việt Nam ta. Về điểm này Đức Đạt Lai lạt Ma đã nói về con người Cộng Sản như sau:
“Người cộng sản làm cách mạng không phải là để mang lại hạnh phúc cho người dân, mà họ làm cách mạng là để người dân mang lại hạnh phúc cho họ”.
Riêng tác giả vẫn mang một tinh thần lạc quan, Việt Nam ta sẽ là Minh Châu Trời Đông cho nên dù Đế Quốc Việt Nam đã không thành tựu được như mong ước nhưng tác giả vẫn để bản đồ "Việt Nam Minh Châu" tỏa sáng khắp vùng Đông Nam Á.
Trên đây chỉ là một vài nhận xét rất thô thiển và có tính cách cá biệt khi lướt qua mấy trang bìa của bộ sách quý giá. Những ý kiến trên đây nếu vì quá hâm mộ đề tài mới mẻ này mà có những điều không hợp ý với tác giả, chúng tôi xin được lãnh ý.
Trong tinh thân chân quý bộ sách gần như tuyệt đối, chúng tôi nhiệt liệt trân trọng giới thiệu bộ sách ĐẾ QUỐC VIỆT NAM với quý cụ tuổi hạc đã cao mà học giả Nguyễn Bá Học cho là "chân đã mỏi đường còn xa", với những bạn trẻ, những bạn chưa có dịp đọc hoặc khảo cứu giai đoạn này của lịch sừ cận đại, và mọi tầng lớp người Việt Nam để biết thêm và yêu quý thêm dân tộc mình và đất nước mình đồng thời cũng để chúng ta có một nhãn quan công bằng trước lịch sử.
Gs Phạm Quang Chiểu

______

Cả cuộc đời anh Dương là cuộc đời của một sĩ phu đúng nghĩa nhất nên anh đã để hết tâm lực và trí lực vào tác phẩm này. Đây là chuyển điểm và một khúc quanh lịch sử vô cùng quan trọng khi Nhật trao trả độc lập. Ngày 17 tháng 4 chính phủ Trần Trọng Kim đã thành lập chính phủ. Ngày 8 tháng 5 Hoàng Đế Bảo Đại đưa ra Hiến Pháp cho một nước VN độc lập và thống nhất. Hiến Pháp đã qui định quyền tự do chính trị,tự do tôn giáo và tự do thành lập nghiệt đoàn. Các cơ cấu khắp lãnh thổ đã được tổ chức từ thành thị đế thôn quê---với khẩu hiệu "DÂN VI QUÝ".
Khốn thay chính Hồ Chí Minh và bọn cộng sản đội lốt Việt Minh đã lừa Hoàng Đế Bảo Đại và cụ Trần Trọng Kim để cướp chính quyền. Trong lúc phôi thai ấy,bọn cộng sản chỉ khoảng hơn 5000 người mà thôi. Với sự trợ giúp của Nhất chính phủ Trần Trọng Kim có thể tiêu diệt và nhổ tận gôc rễ bọn cộng sản thì đất nước VN đâu có chiến tranh VN và đâu có cái đại họa cộng sản.
Chị Vân ơi !Anh Dương đã nhìn thấy tất cả sự thật ấy. Là một người sĩ phu anh nuối tiêc giai đoạn lịch sử đó với hình ảnh của một vị Hoàng Để cực kỳ thông minh và nhân từ,bên cạnh ngài là những khuôn mặt sĩ phu ưu tú và khả kính của dân tộc. Chúng ta có thể xây dựng lại đất nước dân chủ,tư do và độc lập. Đất nước VN sẽ đẹp biết bao. Cuối cùng chỉ vì tính sai một nước cờ bí mà bao thảm họa dội trên dóng sử mệnh Việt cho đến hôm nay.
Vì thế những trang sử của anh Dương đưa ra hôm nay, không chỉ có tuổi trẻ phải học mà chúng ta tất cả dân tộc này phải học những bài học thực tế lịch sử đó để rút tỉa kinh nhiệm cho tương lai. Đúng là "nhất thất túc thành Thiên Cổ hận" là đây. Truyền thống sĩ phu khác truyền thống nho quan rất nhiều.
Người sĩ phu có thể làm quan nhưng nhiệm vụ chính của họ là làm ÁNH ĐUỐC SOI ĐƯỜNG CHO TOÀN DÂN.
Trước bào đau khổ và bao lầm lạc mà cả một dân tộc phải nhận bao cái chết đắng cay. Nhưng dân tộc này vẫn còn mê ngủ. Những người sĩ phu phải đánh thức họ dây để tìm kiếm một bình minh.
Lịch sử càng tăm tối thì càng cần những người sĩ phu. Chúng ta trân trọng với người sĩ phu, bởi vì trước hết họ là những người trong ĐẠO LÝ và thường có TÂM ĐẠO nên thường quên thân mình để hy sinh cho dân cho nước. Cái gọi là "trí thức thời nay) (modern intellectual) không mấy ai biệt TRỌNG ĐẠO và thường không có TÂM ĐẠO chị ạ.
Cuối cùng chỉ có người si phu truyền thống mới làm nên lịch sử. Những người thí thức thời nay đánh mất truyền thống sĩ phu của Đất Việt rồi. Buồn thay.
Xin có lời cảm phục người sĩ phu Phạm Cao Dương.

Ts Nguyễn Anh Tuấn

--------

Thưa anh chị,
Nhận đưọc tập nghiên cứu lịch sử của anh, tôi để mấy ngày đọc những chương mà tôi cho là hấp dẫn, trước khi để dành thì giờ đọc hết.
Cám ơn anh đã để công nghiên cứu, đọc,và gom góp, cô dọng và viết thành hệ thống. Tôi tưởng mình cũng biết nhiều và đọc khá nhiều về lịch sử giai đoạn đó, nhưng thật ngạc nhiên, anh đã cho biết thêm nhiều điều rất thích thú, mà lần đầu tiên tôi đọc được.
Những cuốn sách như thế nầy vô cùng giá trị, để mở mang trí óc, soi sáng cho các thế hệ đương thời, và cho cả các thế hệ mai sau, khi mà lịch sử đã bị CS nhào nặn, bóp méo, và làm sai lạc sự thật.
Cám ơn tấm lòng của anh đối với lịch sử của quê hương Việt Nam.


Nhà Văn Tràm Cà Mau

-----

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT