DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm (2)_Nguyễn Hữu Duệ.

E-mail Print

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  Image result for Tham Mộ Tong Thống Diệm

THĂM MỘ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
Biết mình đã già và đau yếu, nên tôi cố gắng một lần về Việt Nam, để thăm lại mồ mả tổ tiên mà gần nửa thế kỷ qua chưa được thăm nom. Nhất là tìm một số tài liệu về Tổng thống Ngô Đình Diệm mà tôi nghĩ là ông Hà Di, một nhiếp ảnh gia còn lưu giữ được. Tôi cũng hy vọng được gặp bà Võ Văn Hải, ông Hải vốn là chánh văn phòng Tổng thống, may ra được thêm chút tài liệu nào chăng. Rủi ro là ông Hà Di đã mất được mấy năm, và tôi đã không tìm được bà Hải.
Khi phục vụ Tổng thống Diệm, tôi chỉ là một sĩ quan cấp nhỏ, giữ một chức vụ khá khiêm nhường, nên không rõ được những việc lớn cấp quốc gia. Nhưng được luôn ở cạnh ông, lo an ninh cho ông, và nhất là được ông thương mến và tin cậy, tôi thấy hãnh diện, nên ngoài việc hết lòng phục vụ Tổng thống một quốc gia, tôi còn thương mến ông như một người cha. Thật vậy, ai ở gần ông, thấy nếp sống thanh bạch giản dị, và nhất là sự làm việc không mệt mỏi ông dành cho quốc gia dân tộc, thì chẳng ai không kính trọng ông.

Suốt thời gian khá dài ở cạnh ông, tôi chưa bị ông la rầy bao giờ. Kể cả các anh em khác ở gần ông cũng vậy. Gần ông riết, chúng tôi được ông coi như con cháu. Tuy chưa dám xin ông điều gì, nhưng tôi cứ yên trí là nếu cần xin, ông sẽ chấp nhận ngay. Đó là cảm tưởng của tôi. Thật ra, tôi thấy chả có điều gì cần phải xin, vì sống gần ông, tôi thấy thoải mái và vui vẻ lắm. Tuy không được thong thả về giờ giấc, nhưng lúc nào cũng thấy hãnh diện được ở gần vị nguyên thủ quốc gia xứng đáng về mọi mặt.

Tôi đi thăm mộ phần của ông ở Lái Thiêu, ngay cạnh quốc lộ (quốc lộ 13 thì phải). Người lái xe taxi cho tôi chưa biết mộ ông ở đâu, chỉ biết nghĩa trang Lái Thiêu. Đến nơi, tụi tôi phải đậu xe ở một chòi lá để hỏi thăm. Thật may, chỗ ấy chỉ cách mộ độ 200 thước. Một bà khoảng ngoài 50, và một em nhỏ khoảng 16 tuổi, thấy tụi tôi mang theo hoa thì hỏi ngay:
- Chắc ông đến thăm mộ ông huynh đệ phải không ?
- Dạ, thưa đúng, tôi trả lời.
- Kỳ này nhiều người đến thăm mộ các ông lắm, để tôi đưa các ông đi.
Tôi có cảm tưởng bà và em nhỏ này ở đây chỉ để đưa người ta đi thăm mộ trong nghĩa trang lấy tiền thưởng. Đưa đến mộ, bà nói:
- Các ông thấy không, tụi tôi làm cỏ sạch sẽ lắm.

Tôi biếu bà 50 ngàn (khoảng gần 4 dollars), bà mừng lắm. Mộ nhỏ bé sơ sài, để một hàng ngoài cùng phía bên trái là mộ đề tên Đệ (mộ ông cố vấn Nhu), rồi đến mộ bà cụ cố , rồi đến mộ đề tên Huynh (mộ Tổng thống Diệm), cách thêm ít mộ nữa là mộ ông Cẩn. Đặt hoa ở mộ các ông, tôi thấy lòng buồn và xót xa vô cùng. Tôi đứng rất lâu cạnh mộ Tổng thống, nói thì thầm như khấn nguyện cùng ông:

- Cụ sống giản dị, không ăn cao lương mỹ vị, cụ nằm phản không nệm, cụ không xa hoa phung phí, khi đương thời cụ chỉ lo cho quốc gia, chẳng lo gì cho bản thân, nay cụ được chôn ở đây, nghĩa trang sơ sài này, cạnh đồng bào nghèo khổ của cụ, chắc Chúa định vậy để hợp với đức tính khiêm nhường của cụ. Con mừng vì nơi thiên đàng cụ ở, cụ cũng còn thấy nhiều người nhớ đến cụ và đến thăm viếng cụ. Con từ nơi xa xôi về đây viếng mộ cụ, con thấy vui về nơi an nghĩ cuối cùng của cụ đúng với ý cụ.

Trên đường về và cả ngày hôm ấy, những kỷ niệm cũ cứ hiện lên trước mắt. Thấy mộ của ông, tôi nhớ lại ngày ông bị thảm sát. Đầu tiên chôn ở bộ Tổng tham mưu, sau chuyển ra nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, nay lại về đây. Cả ba nơi tôi đều đi viếng, nơi nào cũng sơ sài giản dị.
Có lần tôi gặp ông Võ Văn Hải, nguyên là chánh văn phòng của Ông, ông Hải hậm hực phàn nàn:

- Anh xem, Tổng thống Thiệu tệ bạc và bất nhân đến mức nào. Mộ hai ông chôn ở Mạc Đỉnh Chi cũng không yên. Ông Thiệu là Tổng thống, bố ông chết thì chôn ở đâu chả được, mà đem chôn ngay trên đầu hai ông. Chắc ông nghĩ chôn ở đó để yểm hai ông không hại đến ngôi vị của ông. Ổng làm hồ con rùa là cũng nghe mấy cha địa lý tầm bậy để ngôi vị được vững vàng.

Có những kỷ niệm tôi không sao quên được, chợt nhớ đến nên viết ra đây, không thứ tự đầu đuôi, chỉ ghi lại như những Tạp ghi. Ông thích cây cỏ vô cùng. Tôi nhớ một buổi sáng cuối tuần ở biệt điện số 1, nơi ông nghỉ tại Đà Lạt, ông xuống thăm vườn hoa và dừng lại rất lâu ở khu ươm cây giống, vì có một số cây tùng bút mới xin ở Nhật Bản về. Các cây này cao độ nửa thước tây trở xuống ông dặn người làm vườn giữ cẩn thận để đem một số về dinh Độc Lập trồng khi dinh xây xong. Thấy có khá nhiều, tôi cũng muốn xin một cây về tặng ba tôi trồng ở ngôi nhà mà ông đang xây. Tôi bảo người làm vườn:

- Chiều nay về Sài Gòn, anh sang vào giỏ cho tôi một cây nhé.
Anh này băn khoăn thưa lại:
- Cụ quý mấy cây này lắm, thiếu tá lấy em sợ cụ biết thì chết.
- Không sao đâu, nhiều quá mà! Chiều về cùng máy bay với cụ thì ai cũng thấy, có gì cụ la tôi, anh đừng sợ.
Tôi nghĩ trong bụng chả nhẽ cụ quý cây tùng hơn mình sao. Chiều hôm ấy, trên đường về, tôi xách cây tùng nhỏ trên tay, lên máy bay cùng ông. Ông nhìn tôi và nhìn cây tùng, rồi mỉm cười. Tôi mừng hết lớn. Nhớ lại nụ cười của ông sao dễ thương vậy. Cử chỉ của ông với thuộc hạ như vậy, sao mà quên được.
Một lần đi thăm công trường dinh Độc Lập, thấy cây cối, vườn hoa xác xơ, ông nói trung tá Khôi ở lữ đoàn có người lính già nào cho ông một người về chăm lo cây cảnh ở dinh này. trung tá Khôi thưa:

- Dạ ở lữ đoàn có một trung sĩ khỏe mạnh và giỏi về cây cảnh để cho lên săn sóc cây cối.
Ông liền cau mặt và nói:
- Ta nói đây là cho một anh nào già yếu và là lính, chứ trung sĩ ăn lương một đống tiền, để chỉ huy binh sĩ chứ lại coi cây cảnh sao.
Thế mà nhiều người chê ông không biết dùng người, tôi không tin.
Xưa nay, lữ đoàn phòng vệ phủ Tổng thống chỉ có chức tư lệnh lữ đoàn và tham mưu trưởng lữ đoàn. Riêng tôi, được ông cho làm tư lệnh phó, kiêm tham mưu trưởng.
Ngày về nhận việc làm, tham mưu trưởng lữ đoàn là trung tá Khôi đưa tôi lên trình diện ông. Ông cười vui vẻ và chỉ nói anh em về làm việc với nhau vui vẻ. Khi làm việc, tôi chú trọng nhất việc ứng trực và canh gác, nên duyệt sổ trực gác hàng ngày. Có một lần, thượng sĩ Ngô Đình Bá (là cháu gọi Tổng thống bằng chú, Bá là con người anh họ của Tổng thống, ông nội anh là anh cụ thân sinh ra Tổng thống - ngành trưởng) bỏ gác. Tôi gọi đại úy Huy là đại đội trưởng công vụ lên hỏi:
- Dạ thưa thiếu tá, anh này ở truyền tin, xưa nay bỏ trực gác luôn, vì cậy là cháu cụ nên chả ai nhắc đến.
Tôi phê ngay vào sổ trực: Phạt 15 ngày trọng cấm, đem giam ở quân vụ thị trấn, nếu tái phạm sẽ thuyên chuyển khỏi lữ đoàn. Tôi nghĩ bụng, nếu không phạt nặng thì không làm gương cho người khác được. Lữ đoàn cũng có nhiều con ông cháu cha lắm.

Đương sự nghe bị phạt, liền chạy lên phòng trung tá tư lệnh khiếu nại, làm cho tôi càng bực thêm. Trung tá tư lệnh không tiếp. Tôi gọi quân cảnh đón bắt ngay khi đương sự ở cửa phòng tư lệnh ra, đem đi giam ở quân vụ thị trấn. Tại đây, đương sự kêu la, và lấy dầu nóng uống dọa tự tử. Đêm đó, khoảng 1 giờ sáng, sĩ quan trực gọi dây nói cho biết đương sự là cháu Tổng thống, nên cũng ngại. Tôi hỏi sĩ quan trực:

- Nếu không phải là cháu của Tổng thống thì anh giải quyết sự việc này như thế nào ? - Dạ thưa thiếu tá, tôi sẽ cho y tá xem bệnh và nếu cần cho đi nhà thương.
- Vậy anh cứ giải quyết như quy định. Nếu tự tử giả thì cứ tiếp tục giam cho đến khi hết hạn. Anh nên nhớ, Tổng thống không bao giờ binh con cháu đâu.
- Dạ, thiếu tá chỉ thị như vậy, tôi xin thi hành.
Thượng sĩ Bá tiếp tục bị giam cho đến khi hết hạn. Mấy hôm sau, trung tá tư lệnh kể với tôi, mẹ đương sự sợ đương sự bị đổi đi nơi khác như tôi đã dọa, nên ra xin với ông Cẩn (cố vấn miền Trung). Ông Cẩn cũng không bênh, chỉ nhắn vào là xin phạt thôi, đừng đổi đi, vì đương sự là con một, và là ngành trưởng.
Sợ có người xuyên tạc và trình bậy với Tổng thống, tôi xin trung tá tư lệnh làm một phiếu trình sự việc lên Tổng thống, ông cũng chả nói gì và có vẻ bằng lòng.
Anh Bá này còn trẻ, đẹp trai và được các trưởng ty cảnh sát nể nang. Anh in danh thiếp là Ngô Đình Bá - Phủ Tổng thống nên nhiều vị trưởng ty cảnh sát cho anh mượn xe Jeep đi hàng ngày. Sau đảo chánh, anh bị đổi ra đơn vị. Khi tôi ở tổng cục chính trị, anh đến thăm. Tôi nói nếu anh muốn thì có thể xin cho anh về làm việc ở tổng cục, nhưng sau đó anh cho tôi rõ là được Trung tướng Đôn xin về làm việc với ông. Ngoài ra, còn một hạ sĩ quan nữa có họ với Tổng thống, là Ngô Đình Ánh, ở cận vệ. Anh này cũng chỉ làm việc, và được đối xử như những người khác.

Tổng thống có bốn sĩ quan tùy viên, lúc nào cũng có hai người ở cạnh ông, là các đại úy Lê Châu Lộc, Đỗ Thọ, Lê Công Hoàn và Đắc (tôi quên họ). Bốn người này đều tốt nghiệp trường Võ bị Quốc gia (khóa 12 thì phải). Lúc nào cửa phòng làm việc của Tổng thống cũng mở, có cận vệ gác ngay cửa. Ông làm việc và ngủ ngay trong phòng làm việc, có một chiếc phản gỗ không có nệm cho ông ngủ. Suốt gần chục năm trời, ông sống như vậy. Nhiều khi tôi tự hỏi, làm Tổng thống như vậy có gì vui không? Chả có gì giải trí, làm việc cả ngày đến gần nửa đêm mới đi ngủ, lúc nào cũng có người ở cạnh, còn gì tự do? Trừ phi phải có nghị lực, và lòng yêu nước vô cùng, mới giữ mình được như vậy.

Tôi còn biết đại úy Nguyễn Văn Tuyên, là cháu ruột ông, tôi gặp đôi lần trong dinh. Anh ở ngành Quân cụ, gặp tôi anh rất lễ phép và kêu tôi bằng cấp bậc. Anh là con của em gái TT, và là em Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, cũng chả được giữ nhiệm vụ gì quan trọng.

Riêng ông cố vấn Ngô Đình Nhu, có trung tá Phạm Thư Đường là chánh văn phòng, có sĩ quan tùy viên là đại úy Hạp, cận vệ lo an ninh cho ông mỗi khi ông cần. Ông làm việc gần như suốt ngày tại văn phòng của ông. Nhiều khi tôi thấy đèn ở văn phòng còn sáng đến quá nửa đêm. Ông sống rất giản dị, ăn mặc xuề xòa. Mỗi khi anh em gặp ông chào, ông đều mỉm cười, gật đầu đáp lễ. Nhiều lần ông đi săn, thì đi bằng máy bay Air Việt Nam, chỉ có một vài anh em tháp tùng. Ông chả bao giờ dùng máy bay riêng của Tổng thống, cũng không bao giờ dùng phòng danh dự.

Ông Ngô Đình Cẩn một lần ở Huế vào thăm Tổng thống cũng vậy, đi bằng Air Việt Nam, và không dùng phòng danh dự. Phòng danh dự rất ít khi mở cửa, hầu như chỉ dành riêng cho Tổng thống mà thôi. Sau cách mạng, phòng danh dự mở cửa luôn, hầu như ai dùng cũng được, kể cả các bà tướng. Có lần tôi lên sân bay tiễn một người bạn đi ngoại quốc, thấy phòng danh dự mở cửa, và gặp một sĩ quan bạn thuộc Vùng II ở trong đó. Tôi ghé chào, thấy bà trung tướng Nguyễn Hữu Có ngồi bên trong. Thì ra phòng danh dự mở để bà dùng khi lên Pleiku, và số người đưa đón cũng gần 20 người.

Tất cả những người làm việc trong dinh tôi kể trên đều thương quý nhau. Mỗi khi Tổng thống cần gì, gặp ai ở gần là ông sai. Tôi có cảm tưởng mọi người như anh em trong một gia đình, mà ông là người cha. Các sĩ quan tùy viên là những người gần ông nhất. Khi thấy có điều gì ông không bằng lòng, anh em nhắc nhau để sửa đổi, chả bao giờ phiền hà hay ganh ghét nhau. Gặp nhau là tươi cười vui vẻ, thường ngồi ở phòng tùy viên để chuyện gẫu và thông báo cho nhau tin tức hàng ngày. Tham mưu biệt bộ là nơi phải tập trung mọi tin tức đệ trình Tổng thống đọc buổi sáng. Chúa nhật ông xem lễ trong dinh, do cha Toán ở dòng Chúa Cứu Thế làm lễ. Bản tin hàng ngày các tỉnh phải trình thẳng về Tham mưu biệt bộ, nên việc gì xảy ra trong ngày, Tổng thống đều rõ cả.

Có lần ông đang nghỉ cuối tuần ở Đà Lạt, thì ở Phan Thiết có một vị sư trẻ mới 19 tự thiêu nhưng cứu sống được, chỉ bị phỏng thôi. Thế là ông đang vui tự nhiên sầu mặt lại, ngồi thừ ra, và đòi về Saigon ngay. Tôi nói với trung tá Hùng, tham mưu trưởng biệt bộ:
- Cụ ít lâu nay buồn nhiều và mệt mỏi quá rồi, sao những việc buồn như vậy mà cứ trình để cụ mệt thêm, tôi nghĩ nên bỏ đi là hơn.
- Không được toi ơi, không trình mà cụ biết được, cụ rầy chết. Trung tá Hùng trả lời.
- Cụ làm sao mà biết được, dù biết được thì chuyện cũng đã qua rồi, còn hơn là để cụ bực tức lo nghĩ.
Tôi cũng được biết đại tá Y, tổng giám đốc Cảnh sát có trình một vụ động trời nữa. Phía Phật giáo tranh đấu có một ban chuyên môn đi rủ rê những người nhẹ dạ để tự thiêu. Họ cho những người này tiêu xài, ăn chơi thỏa thích rồi kể là chính quyền đã giết hại các tăng ni, và đưa cho những người này ký giấy tự thiêu. Có một thanh niên sợ quá, phải đến trình diện cảnh sát để xin bảo vệ.
Theo tôi, trong việc dùng người, hình như Tổng thống không bao giờ để ý tới địa phương, là người Công giáo hay Phật giáo. Tôi là người Bắc và theo Phật giáo. Phần đông những người lớn ở cạnh ông đều là Phật giáo và người Nam, người Bắc nhiều hơn người Trung. Nhưng Tổng thống đã bị chống đối là kỳ thị. Chính ông cũng buồn phiền vì nghe tin này. Những lúc ông bực bội hay buồn phiền là lộ ra mặt. Ông để một tay sau lưng, đi đi lại lại, hút thuốc liên tục. Khi phòng làm việc có vẻ quá nhỏ hẹp, ông đi ra ngoài. Nhưng mỗi khi ông ra khỏi phòng, nào là cận vệ, tùy viên, có khi cả tôi nữa, luôn ở xung quanh, nên ông lại lững thững quay vào.

Lần mà tôi nghĩ ông khó chịu, và khó xử nhất, là lần ông mời vợ chồng ông đại sứ Mỹ cùng ông đi kinh lý, thăm khu dinh điền thuộc tỉnh Quảng Đức, rồi về Đà Lạt ăn cơm tối. Ông đại sứ Mỹ có ông trưởng cơ quan CIA sắp rời nhiệm sở về Mỹ đi cùng. Khi đến sân bay Quảng Đức, có xe cắm cờ VN và cờ hiệu của TT để ông đi. Ông bà đại sứ ngồi xe thứ hai theo dự trù. Nhưng ông lại mời ông bà Đại sứ đi cùng xe với ông. Ông ngồi bên tay mặt, bà đại sứ ngồi giữa và ông đại sứ ngồi bên tay trái. Ông bà đại sứ đều cao lớn, xe lại nhỏ nên hơi chật chội. Tôi để ý thấy ông có vẻ lúng túng khi ngồi sát cạnh bà này.

Khi vào thăm một trong những khu dinh điền của tỉnh này, ông Đại sứ tỏ vẻ ngạc nhiên vô cùng về sự sung túc của dân ở đây, nhà cửa khang trang, đều lợp tôn cả, cây cối tốt tươi, nhà nào cũng có vườn lớn trồng đủ mọi loại cây trái, rau khoai. Tôi thấy như là người miền Trung vào lập nghiệp ở đây. Có những xưởng cưa, xưởng mộc, xưởng làm nón và trưng bày cho Tổng thống xem những đồ mộc, nón và đặc biệt là những trái cây, có những củ khoai to đến nửa ký, có những trái bí ngô, bí đao, mướp v.v...trái nào cũng lớn hơn những trái tôi thấy ở các chợ Saigon.

Đón Tổng thống có các vị linh mục, mục sư và đại đức. Dân chúng ăn mặc tươm tất, ai cũng vui vẻ và mừng rỡ khi gặp Tổng thống. Tại đây, tôi gặp đại đức Thích Độ Lượng, làm tuyên úy Phật giáo của Trung đoàn 12 của tôi trước đây (ngày ấy chưa có ngành Tuyên úy Phật giáo, nhưng Trung đoàn của tôi có chùa và nhà thờ riêng, nên anh em Phật tử mời được đại đức Thích Độ Lượng về coi chùa). Vị đại đức này cũng có chùa ở đây và ở Ban Mê Thuột nữa. Sau này đại đức lên thượng tọa và làm Phó giám đốc nha Tuyên úy Phật giáo cho thượng tọa Thích Thanh Long. Sau 1975, hai vị này đều bị tù cải tạo, khi được tha hai vị đều chết cả vì yếu sức. Khi tôi ở tổng cục Chiến tranh Chính trị gặp ông, ông hay phàn nàn là Thật dại cả lũ, nghe Mỹ nó xui làm đảo chánh để bây giờ lộn xộn. Mấy năm nay tôi có được lên cao nguyên thăm chùa của tôi đâu, đường đi bây giờ đâu có được an ninh như thời của cụ Diệm. Thế mà trong cuốn sách của ông Nguyễn Vĩnh Phúc nói ở miền Trung nhiều người theo đạo Phật sợ phải đi dinh điền, nên xin theo đạo Công giáo để được ở lại. Tôi thấy khu dinh điền phần đông là người Công giáo, do các linh mục trẻ hướng dẫn đến lập nghiệp ở đây, và đời sống sung túc hơn ngày ở quê hương nhiều. Sau này tôi ở Huế, rất nhiều người xin đi dinh điền mà không được.

Tổng thống lấy hai cái nón tặng ông bà đại sứ, và một cây gậy chạm trổ rất đẹp tặng ông trưởng cơ sở CIA. Thấy Tổng thống và ông đại sứ vui vẻ, anh em chúng tôi cũng mừng, vì tụi tôi cũng biết tình hình rất căng thẳng giữa Mỹ và Việt Nam lúc bấy giờ.
Sau khi thăm Quảng Đức, phái đoàn đi Đà Lạt ở dinh số 2, và TT mời ông bà đại sứ ăn cơm tối ở dinh số 1. Khoảng 5 giờ chiều, TT chợt nghĩ là cần một bà để tiếp chuyện bà đại sứ Mỹ. Thấy tôi đứng cạnh, ông bảo: Anh mời bà dân biểu Đà Lạt tới ăn cơm để tiếp bà đại sứ, nhớ xin lỗi là bây giờ mình mới đến Đà Lạt nên không kịp mời trước.

Tôi vâng lệnh đi ngay, nhưng ra đến cửa lại giật mình, vì chưa biết bà Dân biểu tên là gì và ở đâu. Tôi định nhờ ông tỉnh trưởng Đà Lạt mời hộ và xin ông đi cùng. Rất may khi ra xe thì gặp ông bí thư Trần Sử đi đâu về, tôi lại nhờ ông lo hộ vì ông quen việc này. Tối đó, khi dự tiệc xong, Tổng thống và ông đại sứ nói chuyện riêng. Tôi chắc sự việc rất gay go, vì đến hơn 1 giờ đêm ông đại sứ mới ra về, còn ông thấy rõ vẻ đăm chiêu.

Sáng hôm sau, tôi còn đang ngủ, cận vệ đã đánh thức, báo Tổng thống đã dậy rồi. Ông đi lại ngoài vườn còn sương mù và hút thuốc liên tục, tỏ vẻ mệt mỏi nhiều. Tôi chắc đêm qua ông mất ngủ. Sau khi ăn sáng, ông đổi ý, không nghỉ ở Đà Lạt ngày hôm ấy (Chúa nhật) và đòi về Saigon ngay.

Sáng hôm sau (thứ hai) ông lại đi Cam Ranh và dùng xe đi thăm khắp vùng. Tụi tôi ai cũng biết là đại sứ Mỹ đề nghị ông nhường cảng Cam Ranh cho Hoa Kỳ. Ông bí thư Trần Sử cũng kể cho tôi nghe là Tổng thống rất khó xử khi người Mỹ muốn đem quân vào Việt Nam, và muốn Việt Nam nhường cảng Cam Ranh cho họ. Ông chỉ đồng ý là nhận thêm cố vấn Mỹ, nhưng những người này phải có thông hành như những người ngoại quốc vào Việt Nam. Ông phàn nàn là nếu để họ đem quân vào, và nhường cảng Cam Ranh thì còn gì là chủ quyền nữa, khác chi khi quân Pháp trước đây.

Thế là từ đó đến ngày đảo chánh, Ông không gặp riêng đại sứ Mỹ nữa. Khi đến khánh thành lò nguyên tử ở Đà Lạt, có nhiều vị đại sứ các nước đến dự, và trước khi đảo chánh, đại sứ Mỹ đưa đô đốc tư lệnh Thái Bình Dương đến thăm ông. Ông bị giết chết, theo tôi nghĩ là vì không chịu nhường Cam Ranh và cho Mỹ mang quân vào Việt Nam.
Oái oăm thay, Bác sĩ Phan Huy Quát đồng ý nhường Cam Ranh cho Mỹ và đồng ý cho Mỹ mang quân vào Việt Nam, cũng bị chết về bàn tay Việt cộng, vì bị Mỹ bỏ rơi.
Sau đảo chánh, thật là bối rối cho anh em ở lữ đoàn Phòng vệ. Nghe Tổng thống chết, ai cũng đau buồn. Rất nhiều người khóc lóc như cha chết. Thật vậy, tụi tôi coi ông như cha.
Khi tôi ở lữ đoàn đợi lệnh đi đơn vị mới, có một Frère (sư huynh) ở trường Taberd đến xin gặp. Tôi quên tên, nhưng thấy ông còn trẻ, khoảng tuổi tôi, ông gặp tôi để xin cho biết chi tiết về Tổng thống và cuộc đánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Tôi kể cho ông nghe, nhiều lúc ông vừa ghi vừa khóc, ông hỏi tôi: Có nhiều báo nói về hầm át- xít ở thành Cộng Hòa, và đường hầm ở dinh Gia Long ra ngoài v.v...Tôi đưa ông ra cửa và chỉ cho ông xem toàn thành Cộng Hòa. Còn về cái hầm ở dinh Gia Long, được làm ra chỉ để Tổng thống và nhân viên trú ẩn nếu bị pháo kích hoặc oanh tạc, chứ làm gì có đường ra ngoài. Thấy tôi buồn vì báo chí đua nhau nói xấu Tổng thống, ông an ủi: - Lịch sử không ai ghi chép ngay sau khi biến cố xảy ra, phải đợi một thời gian dài mới xét đoán được công hay tội của cụ Diệm. Như vua Quang Trung, khi vua Gia Long lên ngôi, ai dám ngợi khen ngài là anh hùng. Theo tôi, ai đảo chánh cướp ngôi mà được nhân dân kính phục, nhất là giết cụ Diệm một người đạo đức trong sạch, yêu nước. Thiếu tá cứ đợi xem kết quả sẽ như thế nào cho dân mình sau này.

Bây giờ tôi không biết vị sư huynh này ở đâu, và ông có giúp gì cho các nhà viết sử sau này về tài liệu ông ghi chép. Thật khổ cho anh em lữ đoàn Phòng vệ tụi tôi. Biết chắc là lữ đoàn bị giải tán, và anh em phải đổi đơn vị, mấy ngàn anh em toàn những người giỏi về tác chiến và chung thủy, nay bơ vơ không biết về đâu. Trước khi đảo chánh, anh em quân đội thương quý nhau, nay đâm ngờ vực chia rẽ nhau. Thậm chí, lính lữ đoàn trong khi chờ đợi đi đơn vị mới, không được trang bị vũ khí.

Tôi xin kể một câu chuyện nghe như khó tin. Hạ sĩ nhất Nguyễn Khắc Phương ở lữ đoàn, bị thương ở bụng và gẫy tay, vì bị pháo kích trong khi theo tôi và đại úy Bạch coi đại đội Phòng không đi coi chỗ đặt mấy khẩu súng không giật (57 ly). Anh được tải thương về bệnh viện Cộng Hòa. Hai hôm sau, phái đoàn của các thầy đi thăm thương binh và mang quà cho các chiến sĩ có công trong cuộc đảo chánh, khi đến giường hạ sĩ nhất Phương và biết anh ở Lữ đoàn Phòng vệ Tổng thống, thì khựng lại, bỏ sang giường khác. Cô y tá phản đối, nói ai cũng là thương binh, tại sao chia rẽ như vậy. Thế là phái đoàn bàn tán một lúc, rồi đem quà để đầu giường, không một lời thăm hỏi. Anh tức qua, cầm gói quà ném ra cửa (Anh Phương hiện ở chung cư Phạm Thế Hiển, và vẫn giữ liên lạc với tôi).
Người thay thế trung tá Khôi làm tư lệnh Lữ đoàn là thiếu tá Đầy. Ông và tôi quen nhau, ông nhờ tôi đưa anh em đến căn cứ chuyển vận để lên tầu theo lệnh thuyên chuyển ra các đơn vị thuộc vùng I và II. Lúc chia tay lên tầu, tôi muốn rơi nước mắt. Về phía anh em, có lẽ phần vì phải lo cho vợ con, phần nhớ đơn vị nên có đến 25% vắng mặt. Sau này, khi gặp lại anh em ở các đơn vị, tụi tôi đều vui mừng như ruột thịt gặp lại nhau. Đặc biệt là kỳ về thăm VN năm 2000, tôi có đến thăm trại gia binh của lữ đoàn cũ ở đường Hồng Thập Tự, hiện còn 40 gia đình. Tôi được gặp một số anh em, ai cũng tay bắt mặt mừng, nhưng đều già cả. Nhiều người đến hơn 70 tuổi rồi, và ai cũng nhắc đến Tổng thống, họ còn đưa tôi đến giới thiệu với cha xứ ở nhà thờ Lữ đoàn cũ nữa. Nhiều người kể với tôi, cứ đến ngày 2 tháng 11 hàng năm, đều xin lễ cầu cho Tổng thống. Nghĩ cũng an ủi cho ông, gần 40 năm rồi mà người ta vẫn nhớ đến ông, và công lao của ông với đất nước.

Vì chưa có gia đình nên ngày ấy tôi ở ngay trong thành Cộng Hòa, nhiều tối buồn tôi hay ra sân cờ chuyện gẫu với anh em nên tình thân càng thắm thiết. Khi giải tán Lữ đoàn, một số anh em đào ngũ nhưng một thời gian sau, nhiều người gặp tôi và tôi lại lo cho họ trở lại quân ngũ, và cũng có nhiều người về làm việc với tôi.

Một chuyện mà báo chí sau này đã làm ồn ào về việc xét chùa Xá Lợi để bắt một số tăng sĩ chống đối. Nhiều báo nói bà Nhu mặc quần áo rằn ri đích thân chỉ huy lính chính quy, trong đó có lính của Phủ Tổng thống và lính lực lượng Đặc biệt. Tôi xác nhận lính của lữ đoàn không tham dự, và đặc biệt là tuy ở Đặc khu 1 (Đặc khu quanh dinh Gia Long mà bất cứ đơn vị nào vào vòng đai này cũng phải báo trước cho bộ Tham mưu Lữ đoàn Phòng vệ rõ) mà cũng không hay.
Khuya đó (20-8-63), toán tuần cảnh do quân cảnh lữ đoàn đi tuần báo cho tôi biết cảnh sát đang bao vây chùa Xá Lợi, có cả một số binh sĩ của lực lượng đặc biệt yểm trợ ở ngoài (không một người lính của lực lượng Đặc biệt nào vào trong khuôn viên chùa). Tôi trình cho trung tá Khôi tư lệnh rõ, ông liền liên lạc với đại tá Tung và tỏ ý trách là tại sao vào trong Đặc khu 1 mà không thông báo cho Lữ đoàn Phòng vệ rõ. Đại tá Tung trả lời là quên, xin lỗi trung tá Khôi, và nói chỉ có một đơn vị nhỏ của lực lượng Đặc biệt hiện diện theo yêu cầu của đại tá Y (Đại tá Tung không có mặt), vì có tin các vị tăng sĩ có súng phóng lựu đạn và võ khí các loại.

Tôi ra tại chỗ xem thì lúc ấy đã yên rồi. Gặp thiếu tá Dần, người chỉ huy tổng quát và cũng là chỉ huy trưởng của Cảnh sát dã chiến. Ông kể cho tôi nghe là trong chùa có kháng cự rất hăng bằng gạch đá, dao, búa ở trên cao ném xuống, cả bàn ghế nữa, nhưng không có vũ khí. Tôi hỏi có bắt giữ những vị cao tăng nổi tiếng chống đối không?

- Thượng tọa Thích Trí Quang không có trong chùa, nhưng có thượng tọa Tâm Châu.
- Anh thấy thái độ của thượng tọa thế nào?
- Ông có vẻ run và nhờ tôi cho gặp ông đại tá Y, hay ông bộ trưởng bộ nội vụ, hoặc phó Tổng thống Thơ.
- Sao anh không để thượng tọa gặp mấy vị này
- Lúc đó lộn xộn lắm nên tôi chỉ báo cáo qua máy.
Tôi thấy sân chùa ngổn ngang gạch đá và bàn ghế, lối bậc thang lên chùa cũng ngổn ngang bàn ghế. Sáng sau là lệnh thiết quân luật ban hành và tôi thấy trung tướng Đôn, Đính đang ngồi trong phòng của Tổng thống.

Một chuyện nữa là vụ thương phế binh và dân vệ biểu tình phản đối trước chùa Xá Lợi khiến phía Phật giáo chống đối chỉ trích chính phủ. Ngày ấy, dân vệ do trung tá Chiêu làm Giám đốc. Tôi nhớ một buổi họp tối, mấy vị sĩ quan đến họp ở lữ đoàn bàn nhau để anh em thương phế binh biểu tình phản đối, vì nếu để vụ này kéo dài thì binh sĩ ngoài tiền tuyến mất tinh thần. Tôi thấy có trung tá Khôi, trung tá Chiêu và một số người nữa tôi quên. Đại úy Hồ Ngọc Tâm là thư ký phiên họp. trung tá Chiêu được giao trách nhiệm tổ chức cuộc biểu tình.

Chiều hôm sau, tôi tháp tùng Tổng thống lên Đà Lạt. Khi trở về đến sân bay, tôi thấy phó Tổng thống Thơ, thiếu tướng Nghiêm và ông bộ trưởng Phủ Tổng thống đón ở phòng danh dự. Phó Tổng thống trình sự việc cho Tổng thống nghe. Tôi chưa thấy ông giận dữ như vậy bao giờ. Ông cầm gậy đập xuống đất, mặt đỏ bừng và ra lệnh ngay tại chỗ:

- Bắt phạt ngay những người đứng ra tổ chức, và cách chức ngay trung tá Chiêu.
Trung tá Chiêu là người tôi quen nhiều, ông đã từng là tư lệnh sư đoàn và hết lòng trung thành với chế độ. Nhưng Tổng thống vẫn cách chức cho phía chống đối biết Tổng thống hết lòng muốn hòa giải, và nhượng bộ tất cả những gì họ yêu cầu.

Cho đến bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc, không hiểu Tổng thống hay ông Nhu có biết là sắp có biến cố xẩy ra hay không. Riêng tôi, ngày ấy nghe có tin đồn là sắp có đảo chánh. Nhất là trung tá Khôi kể cho tôi nghe có một phiếu trình Tổng thống, xin cho thiếu tướng Đính lên trung tướng làm bộ trưởng Nội vụ và để trung tướng Đôn làm bộ trưởng Quốc phòng, sau đó sẽ có biện pháp mạnh đối với phía tranh đấu (phiếu trình này do ông Đôn làm). Tổng thống không chấp thuận, và thiếu tướng Đính có vẻ buồn, lên Đà Lạt nghỉ ít ngày. Theo tôi nghĩ, Tổng thống không muốn có biện pháp mạnh đối với phía chống đối, nên từ chối đề nghị này.

Có lần tôi bàn với trung tá Khôi để xin Tổng thống ra lệnh, nếu có biến cố gì xảy ra, mà không có mặt Tổng thống thì phải làm sao. Sau khi trình, trung tá Khôi cho tôi rõ: Tổng thống bảo có thiếu tướng Khiêm và Đính đó.
Tuy là sĩ quan cấp nhỏ, nhưng lúc ấy tôi suy đoán là không có ai có thể đảo chánh được. Ngay cả một đơn vị lớn như sư đoàn 7, sư đoàn 5 hay nhẩy Dù hoặc Thủy quân lục chiến, cũng không thể nào tấn công vào dinh được, vì với Lữ đoàn phòng vệ và các loại vũ khí tối tân đủ để cầm cự một thời gian lâu. Ngoài ra, còn lực lượng đặc biệt, là đơn vị thiện chiến nhất lúc bấy giờ, thì làm sao có thể xảy ra đảo chánh bằng quân sự được. Chỉ lo về mặt chính trị, mà lại do Mỹ (CIA) đặt kế hoạch, thì mới là đáng ngại. Tuy nhiên có một số sự việc xảy ra.
1) Tôi có nghe tin là có người báo cho ông cố vấn Nhu biết là đại tá Đỗ Mậu rủ rê một số anh em đảo chánh, ông ra lệnh cho đại tá Tung điều tra và được trình lại là đúng như vậy. Đại tá Tung được lệnh cô lập ông Mậu để dằn mặt những người mưu toan. Rủi đúng ngày hôm ấy, trung tá Châu (nguyên là giám đốc nha Chiến tranh tâm lý) là tùy viên quân sự ở Hoa Kỳ được về phép để dự lễ mở tay của người em mới được thụ phong linh mục. Nhân gặp một số anh em trong Cần Lao kể cho nghe nội vụ, thế là ông Châu nhẩy bổ vào trình diện Tổng thống, khóc lóc than phiền là ông Nhu bây giờ hết tin anh em, đã đẩy ông đi xa, nay còn anh Mậu theo cụ từ bao lâu nay mà cũng ra lệnh bắt. TT gọi đại tá Tung hỏi sự việc, và cũng được trình là ông Mậu có rủ rê một số anh em thật. Ông Châu viện cớ Mậu là an ninh quân đội, nên phải dò xét mọi người, chứ sao mà phản Tổng thống được, ông coi Tổng thống như cha. Thế là Tổng thống ra lệnh ngừng có biện pháp với ông Mậu.
Đảo chánh xảy ra mấy ngày sau, lúc ông Châu còn ở Saigon. Tôi gặp ông trong bữa cơm ở nhà trung tá Khôi và có hỏi ông việc này, ông nhận là đúng. Nếu ông Châu đừng xía vô việc này thì ông Mậu bị bắt, như vậy các ông tướng sẽ không dám làm đảo chánh, tôi hỏi thêm ông Châu.Việc này có thể đúng, ông trả lời. Sau ông được ông Mậu xin với hội đồng tướng lãnh cho ra khỏi Việt Nam để về lại nhiệm sở cũ ở Hoa Kỳ, và bàn giao chức vụ tùy viên quân sự cho đại tá Nguyễn Phương. Ông Châu sau khi bàn giao thì chạy sang Pháp và không trở về Việt Nam nữa.
Sau khi mất nước, tôi có sang Pháp và gặp lại ông. Tôi hỏi ông về việc có anh em cho biết, khi tướng Văn Tiến Dũng sang Pháp, ông cũng có mặt trong phái đoàn đón hắn có đúng không? Ông trả lời có, vì ông muốn xin cho gia đình còn kẹt lại Việt Nam được sang đoàn tụ với ông.
- Từ khi cụ Diệm chết, moi thấy sớm muộn gì Việt Nam cũng mất về tay cộng sản.
Đó là lời nói cuối cùng của ông với tôi. Ông chết ở Pháp vì bệnh. Tôi có đọc cuốn sách của ông viết Ngô Đình Diệm và cuộc hòa bình dang dở.
2) Lực lượng đặc biệt là đơn vị có thể gọi là thiện chiến nhất lúc bấy giờ, và cũng là đơn vị trung thành nhất với chế độ. Xưa nay đại tá Tung ít khi đi họp, thế mà hôm ấy (1 tháng 11 năm 1963) ông lại đi, vì ông được trung tướng Đôn đích thân gọi đi họp. Trung tá Khôi kể với tôi là khi hai người bị giữ, trung tá Khôi được đại tá Tung phàn nàn là sao tôi sơ ý quá, đáng nhẽ tôi phải ở lại đơn vị lúc này.
Đại tá Tung là người trung thành với Tổng thống Diệm hết lòng. Ông quá kín đáo nên việc chống đảo chánh ông không bàn và giao phó cho trung tá Hộ, là phụ tá của ông. Ngoài ta, thiếu tá Phú (sau là thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn II) là chỉ huy trưởng lực lượng, cũng không được chỉ thị phải làm gì khi xẩy ra sự việc. Xưa nay chức tư lệnh phó là thiếu tá Trần Khắc Kính, anh rất thân với tôi, tiếc thay ông Tung nghe gièm pha nên tạm thời đẩy đi xa. Những lời gièm pha nói là Tổng thống và ông Cố vấn được trình là mọi việc tác chiến đều do thiếu tá Kính chỉ huy.
Thiếu tá Kính là phó mà có bằng nhẩy dù, ông Tung là trưởng mà không có. Anh Kính kể với tôi là một hôm ông Tung bàn với anh là đám Việt cộng xâm nhập vào Cam Bốt quá nhiều, nên ông Tung nhờ anh đích thân xuống Quân khu IV một thời gian, để phá vỡ sự xâm nhập của Việt cộng. Chức vụ tư lệnh phó của anh Kính vẫn như cũ.
Trước đảo chánh hơn một tháng, nhân đi thăm anh tôi làm quận trưởng Cái Răng ở Cần Thơ, sau đó tôi vào chào thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, là tư lệnh Quân khu IV lúc bấy giờ. Tướng Cao nói với tôi.
- Chiều nay có anh Tung đến thăm, tôi mời ăn cơm ở tư thất của tôi. Tiện anh ghé thăm, ở lại ăn cơm tối với tôi và tôi sẽ mời cả thiếu tá Kính ăn một thể.
Bữa ăn tối chỉ có bốn người: Thiếu tướng Cao, đại tá Tung, thiếu tá Kính và tôi. Lúc ăn cơm, thiếu tướng Cao và ông Tung nói chuyện với nhau, tôi và anh Kính cũng nói riêng với nhau. Tôi kể cho anh Kính nghe những tin đồn về đảo chánh sẽ xảy ra ở Saigon, và nói anh nên về sớm. Tôi lo nếu chuyện gì xảy ra, với thiếu tá Triệu là em ruột của ông Tung làm tham mưu trưởng, sợ không đủ uy tín điều động anh em, vả lại mới được ông Tung cất nhắc lên, chắc khó chu toàn nhiệm vụ chống đảo chánh, còn trung tá Hộ làm phụ tá thì mới đổi về. Anh Kính cũng đồng ý với tôi, và nói cho tôi rõ là chính ông Tung về đây là để cho anh biết nên giao công việc cho người phụ tá của anh sớm, để về Saigon. Nhưng anh trả lời là cần một thời gian để sắp xếp công việc đang làm, rồi sẽ về.
Anh Kính cũng phàn nàn với tôi là ông Tung thấy nhiều lần Tổng thống hoặc ông cố vấn gọi thẳng cho anh để hỏi việc và giao những công tác mật, nên ông Tung buồn mà viện cớ nhờ anh xuống miền Tây để lo đặt các cơ sở bên Miên chống lại sự xâm nhập của Việt cộng vào xứ này.

- Duệ thấy không, ông Tung tuy trung thành và khôn ngoan chứ đâu có kinh nghiệm chỉ huy như tụi mình, tôi cũng lo khi biến cố xảy ra thì lúng túng cho mà xem.
Quả nhiên, khi biến cố xảy ra, chả ai dám quyết định việc gì, vì ông Tung vắng mặt. Riêng tôi có liên lạc được với thiếu tá Phú là chỉ huy trưởng Liên đoàn 77 lúc bấy giờ, nhưng anh Phú cũng không theo đề nghị của tôi. Nếu anh Kính ở Saigon lúc biến cố, tôi tin là tình hình sẽ khác, vì chúng tôi rất tin nhau, thân thiết, cùng ở trong đảng và trung thành với chế độ. Trong lúc ăn cơm, tôi còn nghe thiếu tướng Cao phàn nàn là tại sao vụ Phật giáo chỉ xảy ra ở miền Trung và Saigon, còn vùng IV, vùng II và nhiều tỉnh ở vùng III không có sự chống đối nào. Chứng tỏ là sự việc xảy ra có ngoại quốc dính vào để thao túng về chính trị. Quả thật, cả vùng IV không có một chùa nào chống đối cả.

3) Sư đoàn 7 đang thuộc quyền của Quân đoàn IV và do đại tá Bùi Đình Đạm chỉ huy. Sư đoàn này rất thiện chiến, do các đơn vị ở ngoài Bắc di cư vào. Đột nhiên, bộ Tổng tham mưu đề nghị sát nhập vào Quân đoàn III do thiếu tướng Đính chỉ huy, và đại tá Lâm Văn Phát làm tư lệnh thay đại tá Đạm ( ????) kể từ 1 tháng 11 năm 1963, đúng là ngày đảo chánh. Nếu Sư đoàn này để như cũ, vẫn thuộc quyền thiếu tướng Cao và đại tá Đạm thì sự việc sẽ khác hơn, vì sư đoàn này rất trung thành với Tổng thống.

4) Vì quá chủ quan, nên Tổng thống không quan tâm đến vấn đề báo cáo là sẽ có đảo chánh. Còn nhớ, có lần tôi trình với trung tá Khôi là nếu các biến cố xảy ra thì Tổng thống có dự trù việc chống đảo chánh chưa, và Tổng thống giao cho ai lo việc này. Trung tá Khôi đã diện trình Tổng thống và ông nói cứ liên lạc với thiếu tướng Khiêm và thiếu tướng Đính. Sau đúng hai ông này phản thì sao mà chống đỡ được.
Lữ đoàn Phòng vệ, tuy gọi là lữ đoàn, nhưng chỉ bằng quân số một trung đoàn. Đã vậy, mỗi khi Tổng thống thấy chỗ nào cần, cũng đồng ý cho mượn quân của lữ đoàn giúp. Tuy tình hình nghiêm trọng, vậy mà Tổng thống còn chỉ thị biệt phái hai đại đội cho trung tướng Nguyễn Văn Là, để bảo vệ công trường làm đường từ Bình Dương qua rừng Cò Mi đến Thủ Đức, để cắt đường giao thông của Việt cộng. Sau thấy tình hình quá nghiêm trọng, tôi phải lên gặp trung tướng Là xin đem hai đại đội này về. Sự việc xảy ra trước khi đảo chánh gần một tháng.
Tổng thống cứ tin là ông làm việc cho quốc gia, các tướng lãnh đều do ông gắn lon, họ nỡ lòng nào mà phản ông. Tổng thống chỉ lo nếu có sự giao tranh, như tấn công vào tổng tham mưu để bắt các tướng lãnh phản loạn, thì quân đội sẽ tan vỡ, mất tiềm năng chống cộng, nên ông hy sinh từ bỏ quyền hành. Ông đâu ngờ những người ông vốn tin cẩn, đã vì danh vọng và quyền lợi cá nhân mà giết cả gia đình ông một cách thảm thương và dã man như vậy.
Còn một điều đáng tiếc nữa, là vì trọng nguyên tắc và không muốn để ai có thể làm áp lực với mình, nên ông không chịu nghe đề nghị của tướng Đôn và Đính để giao cho quân đội giải quyết vụ Phật giáo, cho tướng Đính lên trung tướng để coi bộ Nội vụ và để trung tướng Đôn coi bộ Quốc phòng. Thật ra, nếu chỉ thăng cho tướng Đính lên thêm một sao nữa, thì cuộc đảo chánh đã không xảy ra.
Trung tá Nguyễn Văn Minh, ngày đó là đại úy Chánh văn phòng của ông cố vấn Ngô Đình Cẩn, kể với tôi: Trước ngày đảo chánh độ mấy tuần, anh được Tổng thống gọi về để hỏi cho rõ những sự việc đã xảy ra tại Huế, và hỏi rõ về tình hình và thái độ của các vị lãnh đạo Phật giáo ngoài đó. Khi anh đợi ở phòng sĩ quan tùy viên thì gặp thiếu tướng Đính tới đây, cũng để gặp Tổng thống. Gặp anh, thiếu tướng mừng quá, hẹn là sau khi anh gặp Tổng thống, thì đến nhà ông chơi, để ông nhờ anh trình ông cố vấn mấy việc cần.
Tổng thống tiếp thiếu tướng Đính trước, và khi ra về, ông nhắc lại anh Minh là ông không về văn phòng, mà về nhà để đợi anh Minh. Khi anh Minh tới, ông mời anh lên lầu ngay, để nói chuyện cho kín đáo. Ông phàn nàn với anh Minh là ông bị bên Phật giáo thù ghét lắm, ông đã trình xin TT để thiết quân luật và làm mạnh với Phật giáo để chóng kết thúc. Ông chỉ mong Tổng thống hiểu rõ sự hy sinh và lòng trung thành của ông, để cho ông lên Trung tướng, nhưng Tổng thống vẫn chưa chịu, làm cho ông chán nản và rất buồn. Thiếu tướng Đính nhờ anh Minh về trình với ông cố vấn, để ông xin Tổng thống hộ.
Ngay chiều hôm ấy, anh Minh gặp đại tá Lê Quang Tung là tư lệnh lực lượng đặc biệt, anh cũng đã kể cho đại tá Tung rõ việc ông Đính phàn nàn và tỏ vẻ chán nản, sợ nếu không được lên trung tướng, ông sẽ bất mãn và bị mua chuộc chăng. Đại tá Tung nói với anh Minh là ông rất hiểu thiếu tướng Đính, tính ông này nóng nảy và thích danh vọng, nhưng ông cũng biết là Tổng thống không thể thăng cấp cho ông Đính lúc này được, vì lúc nào Tổng thống cũng muốn hòa giải với bên Phật giáo. Nếu thăng cấp cho thiếu tướng Đính lúc này sẽ làm cho bên Phật giáo hiểu lầm thêm. Vả lại, đại tá Tung rất rõ là Tổng thống không bao giờ muốn bị ai ép buộc cả, vì vậy dù có trình, Tổng thống cũng không thuận đâu.
Thiếu tướng Đính, sau khi giết được cụ Diệm thì lên trung tướng, và làm bộ trưởng Nội vụ như ông hằng mong ước. Nhưng chỉ được mấy tháng, rồi cũng mất tất cả. Năm 1975, ông cũng sang Mỹ tỵ nạn như nhiều người khác. Gần đây, ông được một tổ chức lưu vong phong làm Tổng tham mưu trưởng, có nhiều hy vọng lên đại tướng. Với người tham danh vọng, mà thiếu danh vọng thật, xài danh vọng hão huyền, cũng đỡ cơn ghiền.

TỔNG THỐNG TRẦN VĂN HƯƠNG
Không nhớ rõ là ngày nào, vào khoảng trước tết năm 1973 độ vài tháng, tôi đã được vinh dự gặp phó Tổng thống Trần Văn Hương. Cho đến bây giờ khi nhớ lại, tôi vẫn còn thích thú, vì không ngờ được ông tiếp lâu như vậy. Hơn nữa, ông đã giải thích rõ ràng những điều tôi thắc mắc, như một thầy giáo chỉ vẽ cho người học trò của ông vậy.
Tôi và trung tá Thạch, chánh võ phòng của ông là bạn - chúng tôi thân nhau, tuy ít khi gặp nhau sau ngày đảo chánh 1-11-63. Khi tôi làm tư lệnh phó kiêm tham mưu trưởng Lữ đoàn phòng vệ phủ Tổng thống, anh Thạch là đại đội trưởng của lữ đoàn.
Một hôm, anh đến thăm tôi tại tổng cục Chiến tranh chính trị, và cho một món quà mà tôi nghĩ là vô giá, vì lòng quý mến của anh với tôi. Đó là một tượng Phật chạm trổ rất sắc sảo, trên một cái nanh heo rừng lớn, dài đến hơn một tấc. Tượng được chạm trên đầu lớn của nanh heo. Đầu nhỏ nhọn hoắt, đã lên nước vàng đậm. Tượng đựng trong túi bằng da mầu đỏ. Anh nói với tôi: “Tượng này quý lắm, và là của cụ phó Tổng thống cho tôi. Nhưng tôi là người Công giáo, không đeo được. Vậy tôi xin biếu để đại tá đeo. Người ta nói ai giữ tượng này và chịu khó cầu nguyện, sẽ gặp nhiều may mắn.”
Tôi cảm động vô cùng, và cám ơn anh hết lòng. Khi hàn huyên, tôi được nghe anh kể về cụ Hương. Anh quý mến cụ nhiều, và khen cụ hết lời, như: cụ thương anh em ở gần; sự trong sạch cũng như tính cương quyết của cụ trong việc bài trừ tham nhũng, không nể nang bất cứ ai, kể cả các giới chức cao cấp v.v... Tôi hỏi anh Thạch:
- Thế phó Tổng thống có biết trước đây anh ở lữ đoàn lo an ninh cho TT Diệm không?
- Sao lại không biết, tôi thấy cụ không bao giờ tỏ vẻ bất mãn với TT Diệm cả. Mỗi lần đề cập đến TT Diệm cụ vẫn gọi là cụ Diệm, chứ không bao giờ chê trách gì. Để có dịp, tôi sẽ sắp xếp cho đại tá gặp ông cụ, tôi tin khi gặp, đại tá sẽ có cảm tình và quý mến cụ ngay, vì sự nhiệt tình yêu nước của cụ.
Tôi được may mắn ở gần TT Diệm, gặp quốc trưởng Dương Văn Minh, gặp phó TT Nguyễn Ngọc Thơ, gặp đại tướng Lê Văn Tỵ nhiều vị bộ trưởng và nhiều tướng lãnh. Tôi thường nghĩ các vị làm lớn giữ vận mệnh quốc gia, thế nào cũng có gì hơn người, nên muốn tìm hiểu xem họ có những gì đặc biệt. Nhất là về những đức tính của họ.
Cụ Hương từng làm đô trưởng Sài Gòn thời TT Diệm, có lúc đối lập với TT Diệm, trong nhóm Caravelle. Sau này, vào đầu tháng 11-1964, trong lúc đất nước rối ren, cụ nhận chức thủ tướng, lãnh đạo đất nước một cách cương quyết, và được tiếng là rất trong sạch. Có thể nói, cụ bị lật đổ vì không chịu chiều theo đòi hỏi của các nhóm tranh đấu nhân danh Phật giáo. Cụ đã phải lên tiếng thẳng trên đài phát thanh và báo chí, nghiêm khắc chỉ trích những hành động gây xáo trộn của các nhà tu hành, làm đất nước rối ren thêm.
Tôi rất mừng khi nghe anh Thạch nói sẽ thu xếp để tôi được gặp cụ trong một dịp nào đó.
Ngày ấy, mỗi dịp Tết, tổng cục Chiến tranh chính trị đều lo tặng quà cho binh sĩ ngoài tiền tuyến, nên đã phát động Cây mùa xuân chiến sĩ mà tôi là phụ tá của trung tướng tổng cục trưởng, đặc trách lo việc này. Chiến dịch này được nhân dân hưởng ứng nồng nhiệt; kết quả ngoài sự dự trù của Tổng cục, quỹ lên đến mấy trăm triệu và phong trào hậu phương yểm trợ tiền tuyến lên cao, anh em chiến sĩ cũng lên tinh thần. Có một cuốn sổ vàng để ghi lời phát biểu của TT và các vị ân nhân. Tôi nhớ TT Nguyễn Văn Thiệu bao giờ cũng ghi trang đầu, kêu gọi mọi người ủng hộ cây mùa xuân, và tặng 1 triệu đồng. Các thương gia, hội đoàn cũng tham gia đông lắm. Bao giờ tôi cũng để sẵn nhiều trang đầu, để khi các vị cao cấp muốn ký sổ vàng thì ghi ở những trang ấy.
Một hôm anh Thạch gọi tôi, nói phó TT Trần Văn Hương muốn ghi sổ vàng tặng anh em chiến sĩ tiền tuyến. Tôi xin ngày giờ hẹn để gặp. Anh Thạch sắp xếp để tôi gặp cụ lúc 7 giờ tối, sau khi cụ dùng cơm, để tôi có thể hầu chuyện cụ lâu một chút. Cụ tiếp tôi ngay tại bàn ăn ở tư dinh. Cụ ngồi đầu bàn, tôi ngồi ghế bên phải cụ, và được mời uống trà. Khi tôi được anh Thạch giới thiệu, cụ đứng dậy bắt tay tôi rất niềm nở, và gọi tôi là ông đại tá. Tôi thưa với cụ là cụ phó Tổng thống. Nhưng sau ít phút, cụ thân mật gọi tôi là anh. Tôi thưa cụ và xưng cháu.
Mặc dầu thấy tôi mang cuốn sổ vàng, nhưng cụ chưa ghi vội. Cụ hỏi thăm tôi rất nhiều về quân đội - nhất là về trại gia binh, việc ăn uống của binh sĩ - Một câu hỏi làm tôi ngạc nhiên là cụ so sánh mức sống ăn uống của anh em ở 4 vùng chiến thuật. Cụ nói anh em ở SG và vùng 4 vùng 3 giá sinh hoạt rẻ nhưng ở vùng 1 và vùng 2 chắc khó khăn hơn. Ngoài ra, cụ cũng nói đến việc nên cho anh em ở các đồn bót được tăng gia sản xuất như nuôi gà, heo, đào ao thả cá để ăn uống tốt hơn. Tôi chợt nhớ có lần TT Diệm đã đề cập đến việc cho các đơn vị tăng gia sản xuất, nhưng chưa thấy thi hành. Cụ Hương còn hỏi tôi về những vụ đấu thầu trong quân đội nữa. Tôi thưa là về vụ này, tôi không rõ. Cụ nhắc tôi là tiền quyên góp cây mùa xuân, nên cho anh em ngoài tiền tuyến nhiều hơn v.v... Sau cùng có một câu cụ hỏi làm tôi khó trả lời:
- Anh có bạn bè trong quân đội nhiều và cũng tiếp xúc với nhân dân nữa, anh thấy họ phàn nàn hay phê bình gì về tôi cứ cho tôi rõ.
Tôi dè dặt trả lời:
- Thưa cụ, cụ đã cho phép thì cháu xin được nói ý nghĩ của cháu và nhiều anh em bè bạn cũng bàn bạc như vậy - Riêng về cụ, ai cũng trọng đức tính thanh liêm và lòng can đảm của cụ. Cháu cũng thấy anh em nói về việc cụ đã thẳng tay bài trừ tệ nạn tham nhũng mà không kể gì đến những người cao cấp, nên anh em quý mến cụ lắm.
Nghe vậy, tôi thấy cụ không vui lắm, và nói một cách hết sức chậm rãi, đượm buồn:
- Tôi chỉ mới bắt một vài vụ để dằn lại những sự vi phạm sau này, chứ kể ra còn nhiều lắm. Người cộng tác thì ít quá và muốn cho công bằng thì phải xét kỹ nên không thể nào làm cho nhanh được. Việc gì cũng do người làm với mình trình lên chứ tôi lo sao cho hết. Thật ra, số người lo việc này chả có là bao nên càng ngày càng khó. Thấy cụ có vẻ cởi mở, tôi bạo dạn hỏi thêm: - Thưa cụ, cháu có mấy điều thắc mắc, xin cụ cho phép cháu được hỏi thêm ít điều.
- Anh cứ hỏi.
- Thưa cụ, nghe anh em nói, cụ ghét Bắc kỳ nên ít dùng người Bắc.
- Làm gì có chuyện này. Tôi là người học thức và là thầy giáo nữa. Tôi phải làm gương cho học trò noi theo. Cái điều sơ đẳng ai cũng biết, là người Việt Nam mình từ Bắc đến Nam cũng là dòng người Việt cả. Nhiều người Nam này đều có ông cha xuất xứ từ miền Bắc, như vậy chúng ta như gà một mẹ. Sao lại nói là tôi ghét người Bắc được. Có một điều là tôi sinh trưởng trong Nam này nên ít có bạn người Bắc. Tôi tìm người cộng tác hay mời những người tôi biết để làm việc chung, nên người ta hiểu lầm tôi.
Thấy tôi dám hỏi, cụ khuyến khích thêm.
- Anh có gì cần hỏi cứ nói đi.
- Dạ thưa cụ, cháu xin phép được hỏi thêm: cụ nghĩ sao về Tổng thống Diệm?
Ông gật gù suy nghĩ và trả lời:
- Tôi lúc nào cũng trọng cụ Diệm và biết cụ là người yêu nước thương dân. Tôi cũng từng cộng tác với cụ, nhưng rất tiếc tôi có những điều không đồng ý với cụ, nhất là với ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Sau này, khi đảo chánh xảy ra cho đến bây giờ, tôi vẫn tiếc thương về cái chết của cụ Diệm. Rồi ông hỏi lại tôi:
- Nghe anh Thạch nói anh hết lòng trung thành với cụ Diệm trong lúc đảo chánh, như vậy là phải.
- Cháu xin phép được hỏi thêm cụ. Cháu nghe nói khi làm thủ tướng, cụ cũng gặp những điều khó khăn với phía Phật giáo tranh đấu, nên cụ giận phải tuyên bố với báo chí và truyền thanh, cháu nghĩ cụ cũng là Phật giáo, đúng ra họ phải ủng hộ cụ chứ.
- Người học thức và kẻ sĩ thấy gì đúng là phải làm. Họ lợi dụng và quên cả việc tu hành mà chỉ muốn xen vào việc cai trị. Tôi quen nhiều vị lãnh đạo Phật giáo và họ chỉ muốn tu hành trong phạm vi tôn giáo mà thôi, nhưng lại có nhiều người lợi dụng quá đáng. (Cụ nói dài về việc này, nhưng tôi không nhớ hết và tóm tắt điều tôi hiểu là như vậy).
Thấy cụ hắt hơi, lấy khăn ra lau mũi và tôi xem đồng hồ đã thấy cụ tiếp tôi gần 2 tiếng rồi, sợ cụ mệt nên tôi thưa:
- Cháu được hầu chuyện cụ lâu như thế này, thật là vinh hạnh nhất trong đời cháu, bây giờ cháu mới rõ những điều khó khăn của các vị lãnh đạo. Cháu xin cám ơn cụ và xin phép để cụ nghỉ.
Sau đó, tôi trình cuốn sổ vàng, cụ hỏi:
- Tổng thống Thiệu tặng bao nhiêu?
- Dạ, Tổng thống tặng một triệu đồng.
- Tôi cũng tặng một triệu.
- Cháu xin cụ ghi cho mấy dòng để nói lên lòng thương mến của cụ với anh em chiến sĩ.
Cụ đã viết vào sổ những lời rất chân tình và cảm động. Tôi không còn nhớ rõ, nhưng đại ý cụ hiểu là đời sống anh em rất cực khổ và gian lao và cụ lúc nào cũng nhớ đến.
- Cháu xin phép cụ để được đọc những lời cụ viết trên đài phát thanh. Cháu sẽ nhớ mãi trong đời cháu là đã được cái vinh dự hầu chuyện cụ. Cụ đứng dậy bắt tay tôi và chậm rãi đi vào.
Anh Thạch nói với tôi:
- Thật là đặc biệt. Ít khi tôi thấy cụ tiếp ai lâu và vui vẻ như vậy.

Đức TỪ CUNG HOÀNG THÁI HẬU
Tôi được đọc tác phẩm Mây Tần của nhà văn Linh Bảo, trong đó có bài Chiếc áo vua ban. Chuyện này có nói về đức Từ cung, nhưng theo nhận xét qua những lần gặp ngài, tôi có cảm tưởng khác hẳn. Có lẽ những ngày còn nhiều quyền và ít tuổi, khác những ngày hết quyền và nhiều tuổi.
Cách đây mấy năm, nhân ngày giỗ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm ở Orange County, tôi có gặp ông Tôn Thất Thiết, nguyên là chánh sở nội dịch của Tổng thống Diệm. Gặp tôi ông mừng lắm, vì từ ngày đảo chính năm 1963, chúng tôi mới gặp lại nhau. Ông nói: Trước ngày sang đây, tôi có ra Huế chào đức Từ cung, thật ngạc nhiên khi đức Từ dặn: "Ông sang Mỹ, nếu có gặp ông đại tá Duệ tỉnh trưởng Thừa Thiên trước đây, cho tôi gửi lời thăm. Ngày làm việc ở đây, ông lo cho tôi nhiều lắm và rất quý mến tôi" . Rồi ông Thiết tiếp:

- Lạ thật, trước anh có nhiều vị tỉnh trưởng, và nhiều người là hoàng tộc nữa, bà không thăm hỏi ai, mà chỉ nói với tôi về anh. Gặp anh đây tôi mừng quá. Nhân tiện, cũng chuyển lời của đức Từ đã nhờ tôi nói với anh (ông Tôn Thất Thiết hiện ở Orange County).
Ngày mới ra nhận chức ở Huế, tôi nói với ông chánh văn phòng tòa Tỉnh, là tôi muốn dành những ngày nghỉ đi thăm những thân hào nhân sĩ ở đây, để chào hỏi. Ông đã lập cho tôi một danh sách dài, gồm các vị lãnh đạo tôn giáo, và rất nhiều người có tiếng tăm ở Huế. Tôi không thấy tên đức Từ cung hoàng thái hậu. Bèn hỏi lại ông:

- Tôi nghe nói ở đây còn có thân mẫu của đức quốc trưởng Bảo Đại nữa mà?
Ông trả lời:
- Vâng, đó là đức Từ cung hoàng thái hậu. Tôi không để tên trong danh sách, vì các vị tỉnh trưởng trước đây ít người đến thăm ngài một cách chính thức. Có thể các vị đó đến riêng tư mà tôi không biết.
- Tôi muốn đến chào ngài, ông xin cho một cái hẹn vào cuối tuần nào cũng được. Mời ông phó tỉnh trưởng và cả ông nữa cùng đi với tôi.
Tôi còn hỏi thêm:

- Khi gặp bà thì tôi phải xưng hô làm sao?
- Ở đây ai cũng thưa với ngài là Thưa Đức Từ hoặc Tâu Đức Từ.
Bà nhận lời tiếp ngay vào cuối tuần sau, và đã được tiếp đón khá long trọng.
Khi chúng tôi đến cửa ngoài, có mấy vị trong Hoàng tộc đón, trong đó có một bà vóc dáng mảnh mai, được giới thiệu là công chúa con đức Thành Thái, gọi là Mệ Sen, là bí thư của bà. (Sau này đánh mà chược với mấy bạn người Trung, ai mó được cây nhị sách, đều gợi là mệ sen, vì bà bí thư gầy ốm như cây nhị sách). Khi vào đến cửa trong, thấy bà ngồi ở đầu ghế tràng kỷ đứng dậy. Không muốn bà rời ghế, tôi vội chạy lại, chào:
- Tâu đức Từ, con là đại tá Duệ mới được đổi ra làm việc ở đây, xin đến chào đức Từ. Kính chúc đức Từ luôn an mạnh.
Bà tỏ vẻ hài lòng, mời tôi uống trà, và nói chuyện vui vẻ lắm. Tôi thưa với bà là mới ra làm việc ngoài này, công việc còn bỡ ngỡ, nếu có gì không đúng, xin bà chỉ cho. Bà cũng nói là nếu cần liên lạc với tôi, bà sẽ nhờ Mệ Sen. Bà biết tôi còn mẹ già, nên gửi lời thăm.
Ít ngày sau, nhân rằm âm lịch, khi tôi đi làm về, thấy có trái cây để ở bàn, và một giỏ lớn bánh thẻ bài của bà gửi cho, được dặn đó là quà của bà gửi, để biếu cha mẹ tôi.
Bánh thẻ bài giống như bánh khảo ngoài Bắc, có mứt và vừng trộn lẫn, hình chữ nhật, có cắt sẵn từng thẻ, khi ăn thì tách rời ra. Đặc biệt, phong bánh nào cũng đóng ấn riêng của bà. Bánh này tôi gửi cho mẹ tôi, bà thích lắm. Phần vì bánh ngon, phần để khoe với bạn bè là của đức hoàng thái hậu, mẹ vua cho, và cũng không quên chỉ cho họ xem dấu ấn riêng đóng ở giấy bọc ngoài.
Tuần sau đó, tôi đến cám ơn, bà giữ lại khá lâu để chuyện trò. Tôi hỏi thăm về hoàng đế Bảo Đại ở Pháp, bà cho biết vẫn được thư của ngài và ngài rất mạnh khỏe, chỉ phải cái ngài thiếu tiền, nên bà phải bán nhiều đồ cổ để gửi tiền cho ngài.
Tôi cũng phàn nàn là bà không có điện thoại, nên nhiều lần muốn đến thăm bà, phải cho người đến thưa trước, và rất sợ làm phiền bà. Bà trả lời: Ông tỉnh nghĩ xem (bà thường gọi tôi là ông tỉnh), tôi đâu có dư dả gì, cũng muốn có một cái điện thoại để liên lạc đây đó, nhưng nghe nói khó xin và đặt mắc lắm, ngoài ra còn phải tiền hàng tháng nữa. Tôi thưa sẽ tìm cách giúp bà.
Khi về, tôi nói với ông phó tỉnh trưởng để cố gắng giúp bà mắc điện thoại. Nếu không có quỹ nào, cứ lấy ở quỹ của phủ Tổng thống cho các tỉnh trưởng mà dùng. Khi có điện thoại, bà gọi ngay cho tôi và mừng lắm.
Bà vẫn có phụ cấp hàng tháng, tôi nhớ là 25 ngàn, được cấp cho bà từ hồi Tổng thống Diệm.
Từ đó, bà rất thân thiết với tôi, mặc dầu biết là tôi đã từng làm việc với Tổng thống Diệm, và được Tổng thống quý mến. Có lần bà hỏi khéo tôi về Tổng thống, tôi cũng thành thật thưa là tôi hết sức quý mến và kính trọng Tổng thống về đức độ và thanh liêm của người. Tôi cũng nói thêm là trong thời gian ở gần Tổng thống, tôi chưa bao giờ nghe ông nói điều gì bất kính với hoàng đế. Tôi còn kể cho bà nghe, một lần có phiếu trình lên Tổng thống về việc dành một thửa đất cho bà làm lăng, Tổng thống chấp thuận ngay.
Nhiều khi chính bà, hay Mệ Sen gọi, mời tôi dự những lễ giỗ của hoàng tộc. Ai ở Huế cũng biết việc cúng giỗ rất quan trọng, mà hoàng tộc thì bao nhiêu là giỗ. Riêng giỗ các vị hoàng đế cũng đã nhiều rồi. Tôi vì bận việc, nên ít đi dự. Tôi nhớ chỉ dự có ba lần, là giỗ đức Gia Long, đức Tự đức và đức Khải Định.
Có một kỷ niệm khó quên, là hôm giỗ đức Khải Định, tôi đến hơi trễ vì bận công tác. Khi vào đến tư dinh của bà, thấy có nhiều người đã đến trước tôi. Bà đón rất niềm nở, và giới thiệu tôi với mấy vị trong hoàng tộc.
Khi đến gần chỗ mấy bà khách, bà hỏi tôi:

- Chắc ông tỉnh biết bà trung tướng tư lệnh quân đoàn I, và bà thiếu tướng tư lệnh sư đoàn I rồi chứ?
Tôi thưa:
- Tâu đức Từ, con chưa được gặp mấy bà này.
Bà tỏ vẻ ngạc nhiên, đưa tôi lại giới thiệu với bà Trưởng. Tôi vội thưa:

- Thưa bà trung tướng, tôi ra đây đã khá lâu mà chưa có dịp đến chào bà. Khi vừa ra, trung tướng đã đưa ngay tôi ra Huế. Nhiều lần họp ở quân đoàn xong, tôi phải vội về ngay nên chẳng có dịp nào tới thăm bà.
Bà Trưởng đã trả lời hết sức nhã nhặn, khiến tôi không khỏi ngạc nhiên và kính nể:

- Chết, đại tá dạy quá lời. Đại tá làm việc với nhà tôi, chứ chúng tôi là đàn bà thì biết gì. Có điều nếu đại tá có dịp ra Đà Nẵng, mời đại tá đến thăm chúng tôi, thì tôi mừng lắm.
Rồi bà giới thiệu tôi với bà chuẩn tướng Điềm. Từ đó đến ngày mất nước, tôi không được gặp lại bà Trưởng. Cho đến ngày sang Hoa Kỳ, tôi có dịp đến thăm trung tướng Trưởng ở Washington D.C, nên mới có dịp gặp lại bà. Nhiều lần trung tướng và bà ghé thăm tôi tại San Diego.
Khi ăn cỗ giỗ, tôi ngồi với các vị trong hoàng tộc. Riêng đức Từ không ngồi ở bàn nào nhất định, mà đi hết bàn này tới bàn nọ mời mọc, tiếp đãi ân cần. Gặp tôi bà ghé tai nói nhỏ: ông tỉnh tự nhiên nhé, tôi ăn chay nên ăn sau. Cử chỉ thân mật của bà làm tôi cảm động. Nhìn một bà già ngoài 80 tuổi, người nhỏ bé, đi lại nhẹ nhàng một cách vương giả, tôi chợt nghĩ đến ngày nào bà không còn nữa, chắc hoàng tộc chả ai thay thế được.
Có một lần bà làm tôi bối rối, và khó xử hết sức. Một hôm, đích thân bà gọi điện thoại cho tôi, rủ đi lễ ở điện Hòn Chén vào ngày chúa nhật, để cầu phúc. Bà nhắc đi nhắc lại, ông cố đi với tôi vì tôi không có xe, và muốn cùng đi với ông.
Tôi thưa:
- Tâu đức Từ, con xin cố gắng đi cùng đức Từ, nhưng nếu có gì trở ngại bất thường, con sẽ trình lại đức Từ sau. Như đức Từ rõ, việc quân đội nhiều khi không tính trước được.
Bà nói:
- Nếu ông bận thì tuần sau cũng được.
Tuần ấy tôi không bận gì cả, và đến đón bà tại tư dinh. Tôi cũng nhờ ông quận trưởng Nam Hòa đón ở bến đò, để đi cùng đến điện Hòn Chén. Bà tỏ vẻ quen thuộc với phong cảnh trên đường đi, và chỉ cho tôi mọi thứ. Khi đến điện, thật không ngờ điện xây ở chỗ đẹp đẽ như vậy. Phong cảnh ở đây và xung quanh thật hữu tình. Ông quận còn kể cho nghe là vào ngày vía, có hàng trăm thuyền đến lễ, và ngồi đồng ngay trên thuyền, cộng với ngồi đồng nhiều nơi trên điện, sáng rực cả dòng sông, đẹp vô cùng.
Đức Từ vào lễ ở chánh điện, trông nghiêm trang lắm. Sau đó, tôi và ông Quận trưởng vào vái. Đợi tôi lễ xong, bà bước thẳng lên cung điện ở trên, và mang xuống một bọc bằng satin vàng, gói một số đồ vật bên trong.
Lúc đó, tôi không biết bà mang theo những gì, và nghĩ đó là sự thường, nên chẳng để ý đến. Rồi tôi đưa bà về. Bà tó vẻ vui và cảm ơn tôi nhiều.
Sáng thứ Hai, khi vừa đến văn phòng, tôi gặp ngay ông hội trưởng hội Thiên Thánh giáo, và mấy vị thân hào xã sở tại của điện Hòn Chén, ngồi đợi sẵn ở phòng khách. Dáng mặt mọi người có vẻ nghiêm trọng lắm. Chưa kịp ngồi, ông hội trưởng đã vội nói:


- Chúng tôi đến để xin đại tá giải quyết cho một việc hết sức quan trọng. Hôm Chúa nhật vừa qua, đại tá đã đi cùng bà Từ Cung đến điện Hòn Chén, khi về bà ấy đã mang theo ấn và hài của điện. Không ai dám nói gì. Chúng tôi hoang mang vô cùng. Nếu việc này lộ ra ngoài, thì không ai đến lễ ở điện nữa, vì ấn và hài đã bị lấy đi rồi.
Tôi hỏi tại sao không cho tôi rõ ngay lúc ấy? Được trả lời là thấy đại tá đi cùng bà nên không ai dám nói. Tôi hỏi thêm các ông có rõ tại sao đức Từ lại đến lấy ấn và hài đi như vậy? Chắc phải có lý do gì. Một ông trong ban quản trị trả lời. Chả là hôm ngài đến lễ, lúc ấy đông người quá, và lại toàn người tứ xứ nên chen lấn, làm đổ đồ lễ của bà, vì vậy bà giận.
Tôi nói với các ông ấy rằng, cả nước chỉ còn một bà hoàng thái hậu, các ông phải kính trọng ngài. Bà là mẹ của quốc trưởng, nếu khi quốc trưởng còn tại vị, các ông có dám để như vậy không? Các ông phải rõ, tại các nước, nếu mời được một vị hoàng thái hậu đến lễ như vậy, là cả một vinh dự. Vậy từ nay khi ngài đến lễ ở điện, các ông phải đón tiếp long trọng, và đừng để xẩy ra như vậy nữa. Tôi sẽ đến thưa với ngài để trả ấn và hài cho điện, nhưng các ông phải đến tạ lỗi với ngài.
Cách ngày sau vào buổi chiều, sau giờ làm việc, tôi đến thăm bà. Đến cổng thấy một ông ăn mày, mặt mũi có vẽ bặm trợn, đang ngồi nói lảm nhảm. Sau khi cho mấy cận vệ bảo người ấy đi, tôi chợt nghĩ: chỗ này không ai canh gác, nếu có người đến trộm đồ hoặc gây nguy hiểm cho bà thì thật tai hại. Vì vậy khi gặp bà, tôi hỏi ngay:
- Tâu đức Từ, ở đây có ai lo an ninh cho ngài không?
Bà nói chả có ai cả, chỉ có mấy cháu nhỏ ở đây giúp việc mà thôi. Tôi nói xin đức Từ để con lo việc này, và dùng ngay điện thoại của bà gọi cho ông trưởng ty cảnh sát, yêu cầu lo an ninh, và cử một người cảnh sát gác dinh cho bà.
Tôi cũng hỏi bà:
- Con nghe nói quốc trưởng có một chiếc xe để ngài sử dụng, sao đức Từ không dùng để đi cho tiện và an toàn?
- Ông nghĩ xem, tôi làm gì có tài xế. Vả lại, tiền đâu để mua xăng, xe này ăn tốn xăng lắm.
Tôi thưa:
- Nếu vậy để con biệt phái cho ngài một tài xế. Xin đức Từ cho con tên một người nào là bà con của ngài ở Địa phương quân, hoặc Nghĩa quân, mà biết lái xe, con sẽ cho về lái xe cho đức Từ, và cho mang cả súng về để giữ an ninh trong nhà. Ngoài ra, con cũng biếu đức Từ 200 lít xăng hằng tháng, và xe thì tu bổ ở ban công xa tỉnh.
Bà tỏ vẻ cảm động vô cùng, đột nhiên cầm lấy tay tôi, và nói:
- Ông lo cho tôi chu đáo quá, làm tôi cảm động. Thật từ ngày quốc trưởng bị truất phế đến nay, các tỉnh trưởng, kể cả các tỉnh trưởng người hoàng tộc nữa, chả ai lo cho tôi bằng ông. Thật ra, tôi quý ông như con cháu của tôi vậy.

Tôi cũng thành thật thưa:
- Con cũng quý đức Từ như bà nội con vậy.
Bà cầm tay tôi lâu lắm, nước mắt rung rưng. Tôi cũng cảm động, không cầm được nước mắt. Tôi thương bà, nghĩ bà đã quá già mà còn phải lo đủ mọi chuyện của hoàng tộc, không biết bà sẽ còn sống được bao lâu nửa.
Trước khi về tôi mới thưa chuyện với bà về việc xảy ra ở điện Hòn Chén. Bà nói:
- Thật tụi nó vô phép với tôi quá. Điện này là của nhà Nguyễn lập ra, mà tôi đến lễ, họ để mọi người chen lấn làm đổ cả lễ của tôi, vì vậy tôi mới lấy ấn và hài mang về, đó là đồ của tôi cúng cho điện. Hiện tôi còn để kia. Bà chỉ lên án thờ cho tôi thấy.
Tôi thưa:
- Con đã bảo họ đến tạ lỗi với đức Từ, xin đức Từ bỏ qua cho họ. Con cũng dặn họ từ nay, mỗi khi đức Từ đến, phải đón tiếp long trọng, không được để xẩy ra những sự việc đáng tiếc nữa. Bà bằng lòng làm theo ý tôi. Lần này khi ra về, bà đích thân dắt tay tôi, còn vỗ vai như đối với con cháu khi tôi từ biệt bà.
Từ đó, mỗi lần bà đi đâu, đều có xe đưa đi.
Có một lần, bà làm tôi ngỡ ngàng và quá cảm động. Buổi tối hôm ấy, tôi được điện thoại của bà mời, sau giờ làm việc ngày mai, đến chơi với bà. Rủi là chiều hôm sau trời mưa lớn, tôi gọi lại cho bà, hẹn chiều hôm sau sẽ lại. Bà không bằng lòng, nói ông chịu khó đến chơi, tôi đợi ông lâu rồi. Vì vậy tôi phải đến.
Đến cổng thấy hạ sĩ tài xế, là cháu của bà mà tôi đã biệt phái để lái xe, cầm dù đợi sẵn. Bà đón tôi một cách vui vẻ lắm, mời uống trà ướp sen, ăn bánh thẻ bài và mứt sen. Tại đây, tôi gặp ông giám đốc viện Bảo tàng Huế, cũng là người hoàng tộc (tôi quên tên). Ông nói với tôi:
- Đức Từ vời tôi đến để tiếp đại tá.
Lúc sau, bà gọi người nhà và hai người tớ gái khênh ra mấy cái rương sơn son thiếp vàng, chạm trổ rất đẹp. Mở ra, thấy có mũ hoàng hậu của bà. Mũ có chín con phượng bằng vàng, và hầu như cả cái mũ đều trạm vàng, trông rất cổ kính, và lộng lẫy vô cùng. Mở một cái rương khác, có áo hoàng hậu bằng gấm. Cũng thêu những con phượng bằng vàng lộng lẫy, trông nặng nề lắm. Ngoài ra, còn cái ấn bằng vàng nữa - lâu rồi, tôi không nhớ rõ chi tiết - cũng chạm phượng, to bằng cái ấm tích, chắc nặng cỡ 5-6 kí lô.
Ông giám đốc viện bảo tàng xuýt xoa nói:
- Trời ơi! Tôi không ngờ được cái diễm phúc này, thật là nhờ có đại tá. Tôi là con cháu mà chưa từng được xem những thứ này, chắc đức Từ chưa cho ai xem bao giờ. Thật không hiểu tại sao người lại quý đại tá đến như vậy. Thật là may cho tôi. (Tôi hy vọng ông giám đốc viện Bảo tàng Huế cũng chạy sang đây được).
Nhìn bộ mũ áo to lớn nặng nề, trong khi bà rất nhỏ nhắn, tôi tự nghĩ không hiểu bà làm cách nào để mang phẩm phục này. Tôi thưa với bà:
- Giá hôm nào đức Từ mặc áo đội mũ này, cho con được đứng hầu, để chụp một tấm hình kỷ niệm thì quý quá, và là điều hãnh diện cho con.
- Bộ mũ áo này có từ hồi tôi còn trẻ, và cũng ít khi dùng đến. Mỗi lần mặc, phải có nhiều người giúp đỡ. Bây giờ tôi mang sao nổi, nặng nề lắm. Có điều quý ông lắm, tôi mới cho ông xem. Các ông tỉnh trước tôi có cho ai xem đâu.
Bà khiến tôi cảm động quá. Nhìn bà, tôi có cảm tưởng như nhìn bà nội tôi vậy. Thật là một kỷ niệm khó quên trong đời. Trên đường về, tôi cứ suy nghĩ mãi, tại sao bà mời tôi đến trong cơn mưa gió, để cho xem những đồ quý như vậy. Có lẽ trong những lần gặp trước, bà đã kể cho nghe cuộc đời gian truân của bà khi còn trẻ, bây giờ bà muốn cho tôi xem những ấn, mũ, áo hoàng hậu, coi như những chứng tích cụ thể trong sự đổi thay của cuộc đời.
Lạ một điều là, bà thường chỉ ở nhà, ít đi đó đây mà biết rất nhiều chuyện. Việc gì xẩy ra ở Thừa Thiên bà cũng biết. Chắc có nhiều người đến thăm, kể cho bà nghe.
Có lần tôi đi thăm quận Phú Thứ, gặp các hội đồng xã, có ông lãnh sự Mỹ đi theo. Khi về, có hai ông già trên dưới 70 tuổi chạy ra nói với tôi:
- Xin quan đừng chấp, chúng tôi chưa được đi máy bay bao giờ, giá quan cho chúng tôi được lên bay một vòng, thì chết cũng thỏa dạ.
Tôi cười trả lời:

- Được, máy bay của tôi chở thêm được 5 người. Vậy ông quận trưởng cử thêm 3 người nữa, tôi chở về tận xã.
Tôi phải tạm để mấy người cận vệ ở lại, chở 5 cụ già về tận xã. Ngồi trên máy bay, các cụ sướng quá. Tôi bảo phi công bay thấp với tốc độ chậm, cho các cụ nhìn xuống, chỉ trỏ lung tung. Các cụ nhận ra từng xã, từng con kênh, cười nói ồn ào. Đến xã lại bay một vòng cho các cụ nhìn thấy nhà mình, thật là vui mừng.
Trở lại quận, tôi hỏi ông lãnh sự Mỹ có cách nào cho tôi mượn trực thăng của ông một ngày vào tuần tới không, ông nhận lời.
Tôi nói với trung tá quận trưởng:

- Tuần tới, tôi cho anh mượn trực thăng một ngày, để anh mời tất cả các cụ trên dưới 70 tuổi đến quận, rồi trực thăng sẽ đưa về từng xã. Anh làm xôi và thịt mời các cụ xơi.
Thế là tuần sau các cụ ở Phú Thứ được đi máy bay hết. Nhiều cụ về đến nhà rồi vẫn không chịu xuống, xin trở lại quận để đi bộ về. Thế mà thái hậu cũng biết, bà bảo tôi:
- Hôm nào ông đưa tôi về quê ở Vĩnh Lộc cho tôi thăm nhà.
- Đức Từ muốn đi lúc nào cũng được. Chỉ cần cho con biết trước một ngày, và trời tốt, chứ đi vào ngày mưa sợ Đức Từ mệt.
Lần ba tôi ra thăm, bà cũng biết, và gọi cho tôi, mời ông cụ dùng cơm. Ba tôi mừng lắm vì được đức hoàng thái hậu mời ăn. Cha con tôi được bốn vị trong hoàng tộc tiếp đón rất vui vẻ. Bà cũng nói chuyện với cha tôi thân mật như nói với tôi.
- Cụ cứ tự nhiên nhé, tôi ăn chay nên ăn sau.
Khi ra về, bà vỗ vai tôi và nói với ba tôi:

- Cái ông này ở đây lo cho tôi nhiều lắm, và tử tế với mọi người. Cụ thật có phúc được người con như vậy.
Nhiều người ngoại quốc, nhất là những nhà ngoại giao được bộ ngoại giao giới thiệu ra thăm Huế, ai cũng nhờ tôi để được yết kiến thái hậu. Nhưng phần nhiều tôi thấy họ là cấp thấp, nên không muốn phiền bà. Tôi chỉ xin bà tiếp một ông lãnh sự, do tôi hướng dẫn mà thôi. Ngoài ra, nhân ngày giỗ đức Tự Đức, tôi cũng xin bà cho tôi được mời thêm hai ông bà mục sư Jonhson Glen, làm ở hội Hoàn Cầu Khải Tượng, là người đã giúp tổng cục Chiến tranh chính trị rất nhiều về quà cho chiến sĩ. Ông được mời ra Thừa Thiên để giúp cho dân nghèo miền biển. Ông nói tiếng Việt rất sõi. Khi gặp bà, ông thưa:
- Tâu Đức Từ, con là mục sư Johnson Glen, rất hân hạnh được Đức Từ cho tiếp kiến. Con xin chúc Đức Từ vạn thọ.
Bà mục sư cũng bái nhún, trang trọng theo cung cách đối với vua chúa Tây phương, và thưa gởi rất lễ phép. Bà cười vui vẻ, hỏi thăm gia đình, và ngồi để hai ông bà mục sư đứng hai bên chụp hình kỷ niệm. Sau khi ăn, ông bà mục sư được mấy vị trong hoàng tộc dẫn đi thăm lăng. Tôi ngồi lại hầu chuyện bà. Tôi hỏi:

- Đức Từ cho con biết, lăng của Đức Từ đã sửa soạn đến đâu rồi?
Bà đập vai tôi, nói:
- Thật lạ là tôi cũng định nói với ông về chuyện này, sao đúng ý tôi quá. Ông biết đấy, ông Diệm có cho tôi một thửa đất để làm lăng, nhưng lâu nay bị tụi trẻ chăn trâu, chăn bò vào phá quá, làm nát cả, mà tôi đâu có giữ được.
- Để con lo cho Đức Từ.
Sau đó, tôi nhờ ông quận trưởng Hương Thủy, cũng là người hoàng tộc (thiếu tá Tôn Thất Biên), lo cho bà. Ông nói cần kẽm gai để rào lại, và sẽ yết bảng cấm xung quanh. Tôi phải lấy kẽm gai ở tư thất của tôi cho ông. Độ hai tuần sau, ông báo cáo đã làm xong. Tôi gọi cho bà rõ, bà trả lời là đã biết rồi:
- Vừa định cảm ơn ông, thì ông gọi. Ông tốt với tôi quá.
Trong thời gian ở Huế, bà là người tôi lui tới nhiều nhất, để được nghe kể chuyện đời xưa, và về các bà hoàng thái hậu trước. Bà cũng kể về hoàng đế Bảo Đại và các hoàng tử, Công chúa ngày còn nhỏ. Có lần bà nói với tôi là bà mong tôi ở đây mãi. Tôi cũng nói đùa với bà:
- Con cũng vậy, mong được ở đây đến khi Đức Từ trăm tuổi, để con được đi đưa đám Đức Từ.
Tình hình ở Quân khu I ngày một nặng nề. Các nhà giầu có ở Thừa Thiên đều lo lắng để di chuyển vào Đà Nẵng, hay Sài Gòn, khi thấy Quảng Trị di tản; dân về Huế ngày càng đông.
Tôi nhận được nhiều đơn xin chuyển tiền, vàng, đồ cổ về Đà Nẵng hay Sài Gòn, bằng xe hay ghe, thuyền. Thật không ngờ có nhiều nhà giàu thế. Không phải chỉ ở Huế, có nhiều người ở vùng quê cũng xin chuyển cả mấy trăm lạng vàng, và đồ cổ nữa. Tôi chợt nhớ đến Đức Từ, và những đồ cổ của bà, nhất là những bộ đồ và ấn của hoàng hậu mà bà đã cho tôi xem. Tôi cũng sợ là đồ của hoàng đế và nhiều đồ cổ của hoàng gia do bà giữ, sẽ có thể bị hủy hoại hoặc thất lạc.
Tôi đến gặp bà, thấy trong nhà không có gì thay đổi, và bà vẫn bình tĩnh. Chứng tỏ bà không lo lắng gì, và chưa chuyển đồ đạc đi. Gặp bà tôi mừng quá. Bà hỏi tôi ngay:

- Ông Tỉnh! Tình hình thế nào? Tôi nghe nói dân Quảng Trị chạy về đây đông lắm, và nghe nói ông Thiệu định bỏ Huế và Quảng Trị cho Việt cộng, chỉ giữ từ đèo Hải Vân về Đà Nẵng mà thôi?
Tôi thưa:
- Dạ, không có đâu Đức Từ. Con còn đây, và Thừa Thiên vẫn còn yên lắm, hôm qua con còn đi Phong Điền bằng xe mà. Con đến để thưa Đức Từ rõ, là cần xem lại hầm tránh pháo kích, và cũng xin chuyển những đồ quí giá của hoàng tộc vào Sài Gòn, để tránh pháo kích bị hư hỏng.
Bà đồng ý liền, và mượn tôi một chiếc G.M.C. để chuyển đồ về nhà một vị hoàng tộc ở Đà Nẵng.
Tôi cũng gọi dây nói cho cụ Mai Thọ Truyền, quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, để xin ngân khoản thuê Air Việt Nam, chuyển những đồ cổ của Huế vào Sài Gòn. Cụ đồng ý ngay. Tôi lập một ủy ban gồm ông phó thị trưởng Huế, mấy vị nghị viên và ông giám đốc viện Bảo tàng Huế, lo chuyển về Sài Gòn những đồ giá trị.
Sau này, tôi được một người bạn ở Sài Gòn viết thư sang kể lại, có một tờ báo tố cáo mấy ông lớn Việt cộng đã đánh tráo, và lấy cắp mất khá nhiều.
Ít tuần sau, đại tướng thủ tướng ra họp ở Đà Nẵng, để lo cho dân ty nạn, và cũng lo phương tiện chở một số dân vào trong Nam. Thấy tình hình nghiêm trọng quá, tôi xin với trung tướng Trưởng để mời đức tăng thống, đức tổng giám mục và đức hoàng thái hậu di tản trước. Trung tướng đồng ý ngay. Riêng cụ Thứ, chánh nhất tòa thượng thẩm, về bằng Air Việt Nam.
Với đức tăng thống, tôi cũng đã có dịp gặp nhiều lần. Lần đầu tiên là khi mới ra Huế, tôi đến chào ngài. Ông đã già lắm, tai to như tai Phật, hình như đã 98 tuổi. Ngài sống gần một thế kỷ mà còn mạnh khỏe và sáng suốt lắm, chỉ phải hơi nghễnh ngãng một chút. Tôi nói giọng Bắc, nên phải có một đại đức đứng cạnh ngài, để ghé tai nhắc. Tôi được mời uống nước nụ vối pha gừng, và ăn bánh in. Tôi khen nước uống ngon quá, ông nói là uống nước này tiêu hóa tốt, và ăn ngon. Nụ vối phải để lâu, gừng thì phải đợi đúng nửa đêm ngày 5 tháng 5, ra vườn nhổ mấy gốc già mang về thái ra, đem phơi sương đủ 15 ngày, rồi ủ với nụ vối, và cho vào keo đậy thật chặt. Ngài hay cười, nói chuyện giọng nghe sang sảng. Có một con chim bay ra bay vào, có khi đậu cả vào vai ông.
Lần thứ hai tôi gặp ông, vì lúc ấy các chùa ở Huế đều treo đầy biểu ngữ "Xin đừng bắn giết đồng bào ruột thịt của chúng ta", ý muốn khuyên binh sĩ không nên chiến đấu. Tôi xin ông ra lệnh cho các chùa không nên treo biểu ngữ đó. Ông trả lời:

- Ông tỉnh thấy không, chùa tôi có treo gì đâu. Các thầy ấy bây giờ còn trẻ và hăng hái lắm.
Rồi ông thở dài, mặt có vẻ buồn, ngồi lặng thinh. Tôi thưa:
- Đức tăng thống nghĩ xem, ai cũng mong dân Huế mình được bình yên để làm ăn, nếu cứ gây xáo trộn mãi chỉ dân là khổ.
Ông lại thở dài, và trả lời xuôi:

- Thôi ông tỉnh để tôi xem có lo gì được không.
Hai ngày sau, có một đại đức còn trẻ đến thăm tôi vào buổi tối, nói là bí thư của đức tăng thống, cho tôi biết ngài sai ông vào Sài Gòn, để đưa một thư riêng cho hòa thượng Trí Thủ. Tôi nhờ ông cảm ơn ngài. Sau đó một số chùa vẫn để biểu ngữ, và một số chùa tháo biểu ngữ đi.
Khi tôi gặp Đức Tăng thống, trình bày với ngài về việc di tản vào Sàigòn, ngài đồng ý ngay. Tôi đã lo trực thăng để ngài đi Đà Nẵng, và từ đây vào Sàigòn, ngài đi bằng hàng không Việt Nam.
Tôi cũng đến gặp đức cha Điền, ngài trả lời một cách dứt khoát sau khi cám ơn tôi:

- Tôi là chủ chiên ở địa phận này thì chiên của tôi ở đâu, tôi ở đó. Cám ơn đại tá có lòng, nhưng tôi dứt khoát không đi được.
Tôi biết ngài đang chữa bệnh ở Sài Gòn, mà phải về Huế gấp, vì nghe tình hình ngoài này lộn xộn.
Riêng về Đức Từ cung, Bà trả lời một cách khôn ngoan:

- Ông để tôi họp hoàng tộc, rồi trả lời ông sau.
Tôi hỏi lại:
- Nếu Đức Từ về Sài Gòn, thì đã có chỗ ở chưa? Nếu chưa, con sẽ trình về, để chính phủ lo cho Đức Từ.
Bà nói:
- Ở đâu cũng có người của Hoàng tộc, và ai cũng hết lòng lo cho tôi.
Ngay hôm sau, bà gọi dây nói cho tôi biết, bà không muốn di tản. Lý do là, nếu ra đi rồi ông Thiệu bỏ Huế cho Cộng Sản, làm sao bà có thể về lại Huế, để lo lăng miếu của nhà Nguyễn. Còn nếu giữ được Huế, thì bà cần gì phải di tản. Bà nói đùa với tôi:
- Nếu có đánh nhau ở Huế, ông đón tôi về cùng chiến đấu với ông, ông đã nhận tôi là bà nội mà. Tôi cũng nhờ ông nhắn với ông Thiệu, nếu ông ấy bỏ Huế, là có tội với lịch sử.
Ở Hoa Kỳ, ngày nghe tin bà mất, tôi nhớ thương vô cùng. Có lẽ bà là người tôi gần gũi nhất ở Huế, vì ngoài đó, tôi không quen biết nhiều. Địa bàn hoạt động phần lớn đời binh nghiệp của tôi, hầu như hoàn toàn ở trong Nam. Tôi nghe nói khi bà mất, Việt cộng cũng để hoàng tộc lo đám tang cho bà long trọng lắm. Chỉ tiếc là con cháu của bà ở xa không về đưa đám bà được
Nhắc đến bà Từ cung, tôi không khỏi nhớ tới bà thân mẫu của Tổng thống Diệm. Mặc dầu khi cụ mất ở Sài Gòn, cũng được bà con lo cho chu đáo, nhưng những con trai của cụ chẳng ai được gặp. Tôi không được dự đám tang của cụ, vì lúc đó đang bị giam ở An ninh quân đội. Nghe đại úy Minh là bạn thân của tôi kể, có trung tướng Đôn và trung tướng Đính cho người đem vòng hoa đến, nhưng hai ông không đến. Tôi nghĩ bụng, nếu mấy ông này còn chút liêm sỉ và lương tâm, thì chả làm cái trò hề như vậy. Tay đã nhúng vào máu của người đã gắn lon cho mình. Nếu cảm thấy hối hận, thì tự mình mang hoa tới chia buồn, như một cử chỉ tạ lỗi. Nếu coi gia đình Tổng thống như kẻ thù cần loại bỏ, tại sao lại gửi hoa? Nhất là lúc ấy, các ông có quyền thế lớn trong tay, trong khi người con duy nhất của cụ ở Việt Nam là ông Ngô Đình Cẩn bị giam ở Chí Hòa, người mà hai ông đã từng đến chầu hầu, nịnh hót, cũng không được giúp cho ra để nhìn mẹ lần cuối. Tôi chưa được biết mặt cụ cố, nhưng tất cả những người ở Huế mà tôi được gặp, ai cũng khen cụ là một người đàn bà hiền đức, tử tế và nhân ái với mọi người, nhất là hết lòng mộ đạo.
Tôi còn được nghe nói về bà cụ thân sinh ra Tổng thống Thiệu nữa. Ngày tôi theo học tại trường chỉ huy và tham mưu Fort Levenworth ở Hoa Kỳ, bạn cùng khóa với tôi là đại tá Ngô Hán Đồng, nguyên tỉnh trưởng Phan Rang, là quê của Tổng thống Thiệu. Chúng tôi ở hai phòng liền nhau, chung một phòng tắm, có cửa thông sang nhau. Tối nào tụi tôi cũng nói chuyện đến khuya, nhiều khi cùng nhau ăn miến gà hay cơm nguội (tiếc rằng anh đã mất về một tai nạn trực thăng trên hạm đội 7 của Hoa Kỳ). Có lần tôi hỏi anh:

- Chắc hồi mày làm tỉnh trưởng Phan Rang, cũng khổ với bà con gia đình ông Thiệu lắm phải không?
- Lạ lắm mày ạ! Ngày đổi ra ngoài ấy, tao cũng lo lắm, nhưng sự thật thì trái hẳn. Ra ngoài đó, việc đầu tiên là tao và ông phó tỉnh trưởng đến chào bà cụ thân sinh ra ông Thiệu. Khi tụi tao đến, bà đứng ở cửa đón, mặc áo dài cẩn thận, mời vào nhà uống trà tử tế. Tao đứng dậy định thưa đôi điều. Thấy tao đứng dậy, bà cũng đứng dậy. Tao nói: Thưa cụ, con được Tổng thống bổ nhậm ra làm việc ngoài này. Hôm nay con đến chào cụ, xin cụ chỉ dạy và giúp đỡ để con làm tròn nhiệm vụ Tổng thống giao phó. Bà mời tao ngồi xuống và nói nhỏ nhẹ:

- Đại tá cũng rõ Tổng thống tuy là con tôi thật, nhưng tôi là đàn bà đã già, quê mùa, chỉ biết cầu nguyện cho Tổng thống được sáng suốt mà lo việc nước. Ông là đại diện Tổng thống ở đây, và bà con Tổng thống nội ngoại biết bao nhiêu người. Nếu ai dùng danh nghĩa là bà con của Tổng thống xin xỏ ông điều gì, xin ông đừng giúp đỡ để khỏi mang tiếng. Nếu ông lo cho dân, là ông đã giúp đỡ Tổng thống đấy. Khi tao về, bà tiễn ra tận cửa. Mày nghĩ thế có lạ không? Nhà cửa của bà cũng như đồ đạc đều giản dị. Thật ra, Phan Rang là tỉnh nghèo, và bà con gần của ông Thiệu đều ở Sài Gòn cả, nên tao chả gặp khó khăn gì.
- Thế sao mày lại bị đổi khỏi Phan Rang?
- Thì cũng một phần tại tao, mình khôn quá hóa dại. Ngày đó, dựa vào tình hình an ninh, các tỉnh phải phân loại có bao nhiêu xã loại A, B, C v.v... Khởi đầu, tao để rất ít loại A, vì mình đâu có tin được nơi nào là an ninh 100%. Hơn nữa, tao định cứ từ từ nâng loại B lên A, C lên B v.v... như vậy chứng tỏ mình một ngày một khá hơn. Rủi cho tao, thằng cha lo việc này, nghe lệnh tao nên nó vẽ thế nào mà khu vực ngay chung quanh nhà ông Thiệu đều xếp hạng B hết. Một hôm, ông trung tướng Nguyễn đức Thắng là tổng trưởng xây dưng nông thôn ra thanh tra, chính tao thuyết trình, ông quay tao và hỏi: Ngay chính quê của Tổng thống và gần tỉnh lỵ mà còn hạng B, thì anh ăn nói với Tổng thống thế nào? Tao đớ người, trả lời là nơi đó cũng an ninh. Ban ngày thì hoàn toàn an ninh, nhưng về đêm không bảo đảm lắm.
Anh nói thêm:
- Mày biết tao và ông Thắng cũng là dân Pháo binh cả, từ ngày hai thằng còn là thiếu úy. Chắc ông có gì ghét tao. Hôm ông ra thanh tra, tao làm cơm mời ông và phái đoàn ăn, nhưng ông không ăn, ra gốc cây ngồi nhai bánh mì, khiến cả phái đoàn có ai dám ăn đâu. Thế là ít lâu sau tao bị đổi. Chắc ông chơi tao.
Tôi ghi lại đây chuyện về ba bà mẹ của ba vị quốc trưởng Việt Nam. Các bà đều là người hiền đức xứng đáng. Câu "Phúc đức tại mẫu" thật đúng lắm. Nhờ phúc của mẹ mà con đã đạt được địa vị nguyên thủ quốc gia. Nhưng khi ở ngôi cao, mỗi người con tự tạo cho mình một hướng đi riêng, đưa tới kết thúc riêng:
- Một người cương trực, trọng tiết tháo, thà chết không chịu nhục. Chết thảm nhưng còn lại tiếng thơm.
- Một người ham thú vui vật chất hơn quyền lợi quốc gia, thà lưu vong hơn dấn thân. Sống lặng lẽ, chết cũng lặng lẽ.
- Một người láu lỉnh, làm bất cứ điều gì, thỏa mãn bất cứ ai để tiến thân, trọng địa vị hơn chữ hiếu. Trước khi chết thật, đã kéo dài những ngày tháng lưu vong, sống cũng như chết./.

ÁI NỮ VÀ THANH GƯƠM CỦA QUAN ĐỀ THÁM
Ông bác của tôi là cụ Nguyễn Tất Tế, đậu cử nhân thời vua Thành Thái. Ngày đó cả Hưng Yên chỉ có hai vị đậu cử nhân, một là cụ Nguyễn Đình Tỵ ở làng Hoàng Xá, hai là ông tôi ở làng Nhật Lệ - huyện Phủ Cừ tỉnh Hưng Yên, hai làng ở gần nhau chỉ cách một cánh đồng độ 2 cây số mà thôi. Cụ Nguyễn Đình Tỵ đậu thứ 8 và ông tôi đậu thứ 12. Hai gia đình rất thân nhau - 2 người con gái của ông tôi lấy 2 người con trai của cụ Tỵ. Ông bác của tôi vì không có con, cha tôi là người thừa kế, vì vậy tôi phải sang ở với ông tôi, coi như đầu sai, suốt ngày sau khi đi học về chỉ quanh quẩn bên cụ.
Vì gần cụ, chuyện gì cụ cũng kể cho tôi nghe. Riêng việc cụ giao thiệp thân tình với ông Đề Thám khi cụ làm tri phủ Yên Thế, là cụ không kể. Mãi sau này, khi Việt minh nổi lên, tôi đã lớn khoảng 16 tuổi, cụ mới kể cho nghe. Có lẽ trong thời Pháp thuộc, cụ không dám kể, sợ tôi nói bậy ra ngoài mật thám để ý chăng.
Trong nhà của ông bác tôi có một cái giá, trạm rồng thiếp vàng rất đẹp, kê 1 khẩu súng săn và 4 thanh gươm: hai thanh vỏ đồng đỏ chạm bạc kiểu Âu Tây, một thanh cong và một thanh thẳng, ông tôi nói là của một ông công sứ đổi cho ông, lúc ông tôi làm tuần phủ Vĩnh Yên, lấy một cái chậu cắm hoa cổ đời Tống. Thanh gươm thứ ba vỏ bằng đồng đen, ông tôi mua được khi làm tuần phủ Cao Bằng (thời Từ Hy thái hậu, bên Tầu có loạn ở Kinh thành, thổ phỉ vào cướp các nhà quan và cung vua lấy rất nhiều đồ quý đem bán bên ngoài, có nhiều đồ bán sang tận Việt Nam), ông tôi mua được thanh gươm này, cùng với một bộ bàn đèn thuốc phiện và một số đồ cổ nữa. Còn thanh gươm thứ tư, vỏ bằng gỗ khảm xà cừ, chuôi gươm bằng sừng chạy chỉ bạc, so với mấy thanh gươm kia thì thanh này xấu hơn, nhưng lưỡi gươm sắc hơn nhiều, ông tôi nói là của quan Đề Thám tặng.
Vì thời gian quá lâu, vả lại lúc ấy tôi còn nhỏ, chỉ nhớ trong lòng chứ không ghi chép nên tôi quên một số chi tiết, nhưng ý chính trong câu chuyện mà ông tôi kể (lúc Tây không còn cai trị nữa) cho tôi nghe về quan Đề Thám, thì tôi còn nhớ. Đại khái câu chuyện như sau.

Ngày ông tôi đang làm tri huyện ở Hà Đông (tôi không nhớ huyện gì và năm nào) thì được thăng tri phủ và bổ nhậm về phủ Yên Thế. Theo ông tôi, được thăng tri phủ mà phải bổ đi Yên Thế, thì chả có gì đáng mừng vì phủ ở miền trung châu, lại có đồn điền của ông Đề Thám (lúc ấy đã về hàng Pháp) nên rất khó khăn trong việc đối xử. Đặc biệt,ø thường khi được lệnh đổi đi đâu thì chỉ chào giã từ công sứ và tuần phủ rồi đáo nhậm nơi mới sau khi trình diện công sứ và tuần phủ sở tại, nhưng trường hợp của ông tôi lại khác: khi chào công sứ Hà Đông, ông này bảo ông tôi phải đi gặp ông thống sứ Bắc Kỳ trước khi đi Yên Thế.
Khi gặp thống sứ, ông này nhắc nhở ông tôi:
- Ông sẽ gặp nhiều khó khăn với Đề Thám, tôi được nhiều tờ trình là thuộc hạ của ông ta vẫn kiểm soát nhiều làng nằm ngoài vùng mà chính phủ đã chia cho ông ấy. Họ thu thuế ở các làng xung quanh vùng này và còn thu thuế chợ phủ nữa, nhất là ông Đề Thám vẫn còn ảnh hưởng rất nhiều với người thiểu số trong vùng. Vì muốn yên bình, chính phủ đã phải chia cho ông Đề Thám một vùng đất để ông Đề lập đồn điền. Mặt khác, chính phủ cũng muốn ông Đề lộ diện để dễ bề theo dõi, nhưng theo tin tức thì ông Đề hãy còn để lực lượng lại các vùng xung quanh, v.v...
Ông tôi hỏi lại:
- Theo tôi, muốn được yên ổn thì hai bên cần phải giao thiệp với nhau để giải quyết những xích mích có thể xảy ra. Nếu tôi đi lại với ông Đề Thám, chính phủ có thể ngờ là thông với giặc. Nếu không giao thiệp thì rất khó cho việc cai trị.
Ông thống sứ nói ngay:
- Ông yên tâm, cứ giao thiệp và lấy tin tức. Tôi tin là ông đã làm quan thì không theo giặc mà đã theo giặc thì không làm quan. Tôi tin cậy ông nên mới bổ nhậm ông về Yên Thế.
- Thế còn đồn lính bảo hộ đóng ở phủ lỵ thì sao?
- Họ sẽ làm những gì ông yêu cầu, và bảo vệ phủ lỵ.
Ông tôi cũng nhắc lại những điều đó với công sứ và tuần phủ sở tại. Ai cũng đồng ý là ông tôi nên giao thiệp với ông Đề Thám, để được dễ dàng trong việc cai trị.
Khi ông tôi đến nhận bàn giao, ông tri phủ cũ mừng ra mặt và nói:
- Quan bác đến đỡ cho tôi một gánh nặng. Ở đây nó phá quá, tôi chả đi được đến đâu và thỉnh thoảng lại bị cướp chợ, các tổng lý còn sợ chúng (ý nói thuộc hạ của ông Đề Thám) hơn cả sợ quan nữa.
Thế rồi ông đi ngay, sau khi các tổng lý đến chào từ biệt. Ông phủ cũ ở một mình trong phủ, không có gia đình. Ông tôi có bà đi cùng, và một người cháu gái. Ở phủ Yên Thế lính cũng đông hơn các nơi khác. Có khoảng trên ba chục người, do một người đội lệ và hai người cai coi sóc.
Chưa đầy một tháng sau khi ông tôi nhậm chức, đã xảy ra vụ cướp chợ do bộ hạ của ông Đề Thám đến thu thuế - họ thu thuế mỗi tháng một lần. Thế là vỡ chợ ồn ào, mà chợ thì ở gần ngay Phủ. Ông tôi đích thân cho lính phủ ra vây chợ, đồng thời nhờ lính đồn bảo hộ giúp sức. Kết quả có 7 người cướp chợ bị bắt đem về phủ giam. Đồn lính bảo hộ, do một thiếu úy người Pháp chỉ huy, có độ từ ba đến bốn chục lính Pháp trang bị súng máy và súng cối. Ông đồn trưởng vui thích lắm, nói với ông tôi là xưa nay chả ai nhờ vả gì đến lực lượng của đồn cả.
Sau khi lấy khẩu cung những người cướp chợ bị bắt, ông tôi được biết họ là một toán thuộc hạ của ông Đề, tự động đi thu thuế, chứ không có lệnh của ông Đề. Ông tôi bèn viết một lá thư cho ông Đề, kể rõ sự việc và nói sẽ thả những người bị bắt, xin ông Đề trừng phạt họ để làm gương, đồng thời yêu cầu ông Đề cho người ra lãnh họ về. Thư này do một người cai dẫn theo một người bị bắt đem vào đồn điền trình ông Đề.
Ngay ngày hôm sau, con trai ông Đề là ông cả Huỳnh (tôi không chắc nhớ đúng tên) đem một đùi nai ra phủ biếu ông tôi, cùng với một lá thư xin lỗi, trong đó ông Đề nói là ông không biết thuộc hạ đã làm bậy như vậy.
Người con trai ông Đề rất lễ phép và được ông tôi đón tiếp rất thân mật. Ông cả Huỳnh nói:

- Đáng lẽ cha con ra chào quan phủ, nhưng xin quan phủ hiểu cho, cha con ít ra vào chỗ công môn nên sai con đi. Nhưng cha con tha thiết mời quan phủ đến thăm.
Ông tôi vui vẻ nhận lời, hứa nếu có dịp quan Đề rảnh và được mời ông tôi sẽ vào thăm. Ông tôi nói ông là người đầu tiên của chính quyền nhận lời đến thăm ông Đề. Các quan khác không ai dám vào thăm, vì sợ bị nghi là tư thông với giặc.
Thế là khi ông cả đem thư mời của ông Đề đến, ông tôi nhận lời liền. Đến ngày hẹn, ông cả ra phủ đón, ông tôi dẫn theo ông thừa phái, ông đội lệ và 6 người lính phủ đi cùng.
Đến trại, ông tôi được đón tiếp rất long trọng, đủ cả chiêng trống tù và, các đầu lĩnh của ông Đề đều có mặt và được ông cả giới thiệu từng người một. Ông Đề Thám ra đón ông tôi ở cửa nhà, ông mặc áo dài đen và chít khăn cẩn thận. Tiếp đó ông Đề mời ông tôi dự một bữa cơm cùng với các đầu lĩnh và con trai của ông. Đang ăn thì cô Ba (vợ ba ông Đề) ra mời chào. Cô Ba hết sức nhã nhặn, là người có nhan sắc và còn trẻ. Cô mặc áo dài, không đeo nữ trang.
Sau bữa ăn, ông tôi và ông Đề Thám bàn bạc riêng với nhau. Hai người rất tương đắc, những việc gì ông tôi đề nghị ông Đề đều đồng ý và những gì ông Đề nhờ ông tôi đều nhận lời. Điều quan trọng mà ông Đề nhơ, là nếu mật thám định bắt ông mà ông tôi biết được, thì xin mật báo cho. Ông Đề nói:
- Ngày còn chiến đấu trong rừng tại khu chiến bí mật thì không sợ. Nay về đầu thú, tụi Pháp biết rõ đường đi nước bước của mình rồi thì dễ bị bắt lắm; lực lượng của mình có gì là tụi nó biết hết, nó dẹp lúc nào cũng được. Vì vậy tôi vẫn còn phải để một số anh em ở trong rừng xa.
Từ đó hai bên thân thiết và quý mến nhau lắm. Ông Đề coi ông tôi là tri kỷ. Có khi ông tôi vào chơi nằm bàn đèn hút thuốc phiện cùng ông Đề nữa. Ông Đề có một người bồi tiêm rất trẻ, đặc biệt là anh ta không nghiện và theo ông Đề, anh ta giỏi võ lắm, lúc nào cũng ở cạnh ông. Ngoài ra, còn có nhiều anh em giữ an ninh cho ông ở quanh nhà. Hai bên thư từ với nhau bằng chữ Hán, ông tôi nói ông Đề chữ Hán cũng giỏi, chữ viết sắc và tươi.
Ngày ấy có nhiều nhà cách mạng đến thăm ông Đề Thám, trong số có cả các cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, cũng bí mật đến thăm ông Đề. Mật thám Pháp biết ngay kể cho ông tôi nghe. Khi ông tôi hỏi thì ông Đề nhận là đúng. Có lần cụ Nguyễn Thượng Hiền đến phủ nhờ ông tôi đưa vào thăm ông Đề - lúc ấy cụ Hiền đang làm đốc học ở một tỉnh nào mà tôi quên tên - ông tôi không dám đi cùng, sợ mật thám nghi, nên cho ông thừa phái dẫn cụ vào. Cụ Nguyễn Thượng Hiền ở với quan Đề Thám một ngày một đêm. Hôm sau về kể với ông tôi là ông Đề già rồi, người mập và có vẻ uể oải (ngày hút thuốc phiện mấy cữ nên rất ít hoạt động), không biết rõ tình hình thế giới bên ngoài, và không có chí lớn, do đó lo việc lớn không được (đó là nhận xét của cụ Nguyễn Thượng Hiền), vả lại ông Đề còn nghiện thuốc phiện nữa.
Ông tôi cũng phải cho mật thám Pháp biết là cụ Nguyễn Thượng Hiền có đến nhờ đưa vào thăm quan Đề Thám. Mật thám cho hay họ cũng biết chuyện này, và cũng biết cụ Nguyễn Thượng Hiền ở lại với ông Đề một ngày một đêm, nay ông tôi cho biết thì họ tỏ ra tin tưởng ông tôi lắm. Như vậy chứng tỏ bên cạnh ông Đề mật thám Pháp đã cài được người rồi. Khi vào thăm ông Đề và lúc chỉ có riêng hai người với nhau, ông tôi cho ông Đề biết việc này để đề phòng.
Ông Đề tỏ ra lo lắm, vì có rất nhiều người, ở cả miền Trung lẫn trong Nam đến liên lạc với ông, họ nghĩ lực lượng của ông rất mạnh và tiếng đồn ngày một rộng ra, vì vậy cứ ít lâu lại có người đến liên lạc. Ông Đề nghĩ theo tình hình này thì thế nào mật thám cũng biết, có lẽ họ muốn làm một cái bẫy để theo dõi những người đến thăm ông, rồi sau đó có cớ để dẹp ông; bây giờ mình ở trong vòng kiểm soát của nó rồi nên không thể làm gì được, nó muốn dẹp lúc nào chả được.
Rồi một lần, có viên đại úy pháo thủ người Pháp, đến đồn lính bảo hộ ở lại cả tuần, ngày nào cũng đi thám sát tìm chỗ đặt súng đại bác, có khi vào sát khu vực của ông Đề nữa. Ông Đề bàn với ông tôi là có thể họ dọa để ông sợ, và cũng có thể là họ sẽ tấn công. Ông Đề có vẻ thối chí lắm.
Một hôm ông cả ra phủ mời ông tôi đến thăm ông Đề, để bàn một việc gấp lắm. Ông Đề nói:

- Đến nước này tôi đành chịu thua. Tôi định đem một số tay chân tâm phúc đến vùng gần biên giới Trung Hoa cho anh em buôn bán làm ăn, còn lại giải tán một số và để lại một số tiếp tục canh tác đồn điền. Nếu người Pháp để tôi yên thì tôi ở lại Việt Nam, còn nếu bị truy lùng tôi sẽ sang Tầu rồi chết già bên đó. Dù cố gắng hết sức tôi cũng không làm gì hơn được, súng ống của mình thô sơ chả làm nên việc lớn được.
Ông tôi bàn ông Đề nên gặp ông công sứ, nói ý định của mình muốn giải tán anh em, chắc Tây sẽ mừng lắm, và có thể xin giúp đỡ một số tiền để cho anh em về quê quán lập nghiệp. Ông Đề liền nhờ ông tôi đi gặp ông công sứ giùm, ông còn xui ông tôi nhận đó là công ông tôi đã thuyết phục được ông Đề Thám!
Ông tôi gập ông công sứ, mật thám tỉnh cũng có mặt. Quả nhiên ông công sứ mừng lắm, nhưng ông nói phải đợi ông về trình với ông thống sử. Sau khi được thống sứ chấp thuận, người Pháp xúc tiến việc giải tán các lực lượng vũ trang của ông Đề Thám. Họ tiếp xúc với ông Đề qua một số người - có lẽ do mật thám chỉ định - thành ra ông tôi không được rõ chi tiết và cũng không biết họ đã chu cấp tiền nong cho tay chân ông Đề như thế nào.
Từ đấy ông tôi vẫn thường xuyên liên lạc với ông Đề, hai người bàn bạc thành thật với nhau. Còn ông công sứ thì vui mừng lắm và tỏ ra rất nể nang ông tôi. Chắc rằng khi việc này xong ông ta sẽ có công lớn.
Khi sắp đi, ông Đề có hỏi ông tôi là muốn biếu ông tôi cái gì đề làm kỷ niệm. Ông có cái ngà voi quí, đó là ngà voi chết tức là tìm được ở trong rừng khi voi già mà chết chứ không phải bắn được nên quí lắm. Ông tôi từ chối và chỉ xin ông Đề thanh gươm. Ông Đề có 3 thanh gươm, một thanh luôn ở bên người, một thanh do người Tầu tặng, và một thanh nữa cũng của Tầu mà ông mua dược khi còn trẻ lúc mới hoạt động. Ông kể rằng thanh gươm sau cùng đã nhúng máu nhiều người, và tặng luôn thanh này cho ông tôi. Ông cũng tặng thêm một mã tấu nhỏ vỏ bằng da trâu cùng với một cái mật gấu. Sau đó, ông cho người mời cô Ba vợ ông ra rồi nói với ông tôi, giọng rất cảm động:
- Đàn bà nhà tôi (2) có đứa con gái, nay mai không biết làm sao mà mang đi được. Vợ chồng tôi muốn cho quan phủ làm con nuôi, biết quan phủ không có con nên chắc quan phủ vui lòng. Tôi thật lòng coi quan phủ như là tri kỷ nên tin là quan phủ sẽ nhận và thương đến cháu.
Ông tôi mừng và nhận lời ngay, nhưng cũng bàn thêm là sẽ nói cho công sứ biết, để sau này khỏi có điều tiếng gì. Ông tôi nói chuyện này với ông công sứ, và nói thêm như vậy là rõ ràng ông Đề Thám muốn giải tán bộ hạ thực sự. Ông công sứ đồng ý vơi ông tôi và cũng hứa sẽ chu cấp tiền để lo cho cô nhỏ, cô tên là Hoàng Thị Thế  (tôi không hỏi ông tôi lúc đó cô bao nhiêu tuổi.)
Lạ một điều là ông tôi được ông Đề coi như tri kỷ, việc gì cũng bàn cùng, và về phía người Pháp thì ông tôi được tin cậy vô cùng, ý kiến gì cũng được công sứ chấp thuận.
Thế rồi ít ngày sau, ông cả đến phủ vào lúc gần tối, báo cho ông tôi biết ông Đề đã đi dược hai hôm rồi, chắc là bình yên. Ông cả cũng cho ông tôi rõ là kế hoạch đi được tổ chức chu đáo lắm. Ông Đề ra đi vào buổi sáng hôm trời mưa lâm râm. Ông cưỡi ngựa, mặc áo tơi, đội nón rộng vành, dẫn theo một số thuộc hạ thăm mấy đồn xung quanh, rồi trở về. Tiếp đó, lại đi thanh tra thêm ba lần nữa, nhưng lần thứ hai thì ông đi luôn. Còn những lần thứ 3 và 4 thì do mấy người tâm phúc giả dạng đi đi về về. Cô Ba cũng đi cùng. Ông Đề dặn ông cả là đợi khi ông đi được hai ngày, thì báo cho ông tôi biết, để ông cho công sứ hay. Ông tôi hỏi ông cả bao giờ đi, ông thưa sáng mai sẽ đi. Mọi việc ở đồn điền đều làm đúng như đã bàn với ông tôi.
Khi ông tôi nói việc này cho ông công sứ nghe, ông ta không tỏ ra ngạc nhiên gì hết, cỏ vẻ như ông ấy cũng biết rồi.
Đột nhiên ít ngày sau, ông công sứ cho ông tôi rõ là ông Đề đã bị phản và chết rồi. Thủ hạ của ông đã giết ông khi ông đang hút thuốc phiện (sau này đọc sách tôi thấy kể là Lương Tam Kỳ (3) chứ ông tôi không kể tôi nghe tên người giết quan Đề Thám.)
Ông công sứ nói với ông tôi là muốn bêu đầu ông Đề, cho các phủ huyện cử đại diện đến xem, để mọi người tin là ông Đề đã chết, sẽ không còn ai nghĩ đến ông mà liên lạc nữa. Ông tôi không đồng ý. Ông công sư nói:

- Đằng nào ông Đề cũng chết rồi, vả lại không phải do mình giết mà do thủ hạ của ông ấy, và đó là lệnh của thống sứ thì phải thi hành thôi.
Đầu ông Đề được bỏ trong một cái giỏ treo ở cổng phủ, nhưng ông tôi nói là đã rữa rồi và tóc cũng rụng nhiều không còn nhận ra được là ai nữa.
Ông tôi kể rằng cho đến nay (bấy giờ là năm 1946) ông tôi vẫn hy vọng ông Đề còn sống. Ông tôi nghĩ rằng ông Đề và Tây đã thỏa thuận với nhau để ông giả chết mà an hưởng tuổi già. Nếu bị ám sát thì mấy người cận vệ và nhất là người bồi trẻ tiêm thuốc của ông đâu? Cô Ba và ông cả đi đâu? Sự việc thật là khó hiểu.
Trong mấy tuần liền, đại diện các phủ huyện trên toàn thể Bắc Kỳ đến Yên Thế đông lắm, có phái đoàn do chính tri phủ hay tri huyện cầm đầu, có khi do một chánh tổng trong phủ huyện hướng dẫn. Các quan thì ở trong phủ với ông tôi, còn những người khác từ chánh tổng trở xuống thì ở trọ nhà dân. Phủ lỵ vui nhộn, hàng quán tấp nập. Riêng trong phủ đề chiêu đãi mọi người, ngày nào cũng mổ bò mổ lợn làm mấy chục mâm đãi khách. Ai đến cũng vào chào quan phủ sở tại và biếu đồ. Thôi thì đủ mọi thứ sâm, nhung, quế, chim câu, ngỗng, gà vịt, cả bê bò nữa chứa đầy cả phủ. Lính phủ thì chia nhau đưa từng phái đoàn lên thăm đồn điền của quan Đề Thám, chi phí chiêu đãi do công sứ cấp.
Sau đó, ông tôi được đổi đi làm tri phủ Vân Đình, thuộc tỉnh Hà Đông. Từ đó ông tôi không được tin gì về ông cả con trai ông Đề. Ngay cả cô Ba vợ ông Đề cũng không liên lạc thăm hỏi đến cô Thế là con của bà. Cô Thế không thích đi học ở trường phủ, ít nói, và tính nết cứng cỏi, ông tôi phải mượn một thầy giáo dậy cô ở nhà. Cô rất mến ông tôi, nhưng không hợp với bà tôi. Bà tôi kể là cô lười biếng không chịu học hỏi việc nhà và bướng bỉnh, tính nết như con trai. Đặc biệt ông bà công sứ rất thương cô Thế, họ tặng cô quần áo và mời cô ăn nhiều lần.
Thương cô quá cô đơn, ông tôi đề nghị ông công sứ cho cô sang Pháp học thì được chấp thuận liền. Từ bên Pháp, khi còn nhỏ, tháng nào cô cũng viết thư cho ông tôi. Khi lớn lên, cô theo học ngành điện ảnh, thư từ thưa dần, mỗi năm chỉ có vài ba lần, tuy nhiên cô luôn luôn nhớ ngày sinh nhật của ông tôi. Tôi nhớ thư cô viết bao giờ cũng mở đầu bằng Cher Papa. Có lần cô gửi ảnh về, thấy người cao và đầy đặn, mặc quần áo trắng, ông tôi vẫn để mấy tấm hình cô trong ngăn kéo. Từ khi Việt minh nổi lên, cô không còn liên lạc nữa. Sau đó không biết cô có chồng con gì không chứ trước năm 1945 thì chưa. Có điều đặc biệt là trong những thư gửi cho ông tôi, cô không bao giờ hỏi han gì về gia đình cô, nhất là mẹ cô. Sau này tôi có đọc một bài báo nói về cô, được biết cô đóng vai phụ trong vài cuốn phim của Pháp, nhưng chắc không xuất sắc lắm nên không có tiếng tăm gì.
Còn thanh gươm của quan Đề Thám tặng, ông tôi quí lắm, luôn luôn nói rằng ông Đề nổi tiếng cũng do thanh gươm này và nó đã nhúng máu nhiều người. Nhà nào trong làng nghi bị ma quấy thường đến xin ông tôi cho mượn thanh gươm về để trừ tà.
Thời Việt minh (khoảng năm 1947) ông Hoàng Minh Giám, bộ trưởng ngoại giao của chánh phủ Hồ Chí Minh đi kinh lý Hưng Yên, có ghé thăm ông tôi. Ông Giám là con cụ Hoàng ...?(tôi quên tên) cụ là bạn thân của ông tôi. Gặp ông Giám, ông tôi mừng lắm, giữ ở lại ăn cơm tối cùng chủ tịch tỉnh và chủ tịch huyện đi tháp tùng ông Giám. Khi ăn cơm, tôi được ngồi cùng để ông tôi sai vặt. Ông Giám có hỏi ông tôi về chuyện ông Đề ,vì đã được ông thân của ông kể cho nghe. Ông tôi kể lại, rồi sai tôi đi lấy thanh gươm của ông Đề cùng ảnh của cô Thế cho ông Giám xem. Ông này tỏ ra thích thú lắm. Tôi còn nhớ ông Giám đi kinh lý dẫn nhiều người tháp tùng, có một người mang theo hai cái sacoches bằng da đựng đầy bút máy parker và pilot dùng làm quà tặng. Ông Giám biếu ông tôi một chiếc Parker.
Mấy tháng sau, chủ tịch tỉnh mời ông tôi và cha tôi ăn một bữa tiệc gây quỹ cho hội Liên-Việt, đồng thời ngỏ ý xin ông tôi thanh gươm để bán đấu giá. Ông tôi tặng thanh gươm vỏ đồng của Tây, không chịu cho thanh gươm của quan Đề Thám. Tuy nhiên, khi bán đấu giá thì cha tôi lại là người mua được, do đó mấy thanh kiếm của ông tôi vẫn còn nguyên vẹn.
Thời gian sau, Tây về chiếm tỉnh ly Hưng Yên rồi dần dần mở rộng vùng hoạt động. Họ thiết lập một đồn binh lớn ở La Tiến cạnh sông Hồng, cách làng tôi chừng 6 cây số, gọi là chi khu (quartier) Ở La Tiến. Có một dạo Bernard Delattre làm chi khu trưởng (Bernard Delattre là con trai thống tướng Pháp Delattre de Tassigni), quân Pháp mở cuộc càn quét lớn vây cả mấy làng trong đó có làng tôi. Hầu hết dân làng đều chạy vào nhà ông tôi, vì họ tin rằng ông tôi làm quan thời Pháp thuộc, chắc được người Pháp nể nang. Đặc biệt cả chủ tịch huyện cùng mấy cán bộ cao cấp của Việt Minh cũng chạy vào nhà cha tôi - họ Nguyễn nhà tôi ở cả vào một khu trong làng, nhà nọ thông sang nhà kia như cùng một nhà vậy. Ông tôi và gia đình lo sợ, cha tôi phải lấy áo dài cho chủ tịch huyện mặc và dặn dò phải nhận là tá điền ở ấp Quang Lệ của cha tôi đến vay thóc - làng Quang Lệ ở sát làng tôi và cha tôi có ấp ở đó.
Đứng trên lầu cao, chúng tôi theo dõi được cuộc hành quân của Tây. Nhận thấy quân Pháp mỗi lúc mỗi tiến gần, ông tôi lo sợ lắm, chốc chốc lại gọi cha tôi lên hỏi về chủ tịch và mấy cán bộ cao cấp của Việt Minh. Ông tôi phàn nàn:
- Tại sao lại cho tụi này ở nhà mình? Tây mà biết dược, nó sẽ phá nhà mình cho mà coi.
Cha tôi thưa:
- Thưa bác, con không biết làm sao được. Tây không ở đây lâu, còn mình phải ở với họ hoài. Nếu xẩy ra sự gì cho ho, chúng sẽ hại cả nhà mình...
Ông tôi đi lên đi xuống băn khoăn vô cùng, mặc dầu gia đình tôi có một giấy giới thiệu của cha xứ Cao Xá người Pháp - cha Condé Thập - trong giấy nói gia đình tôi thân Pháp, và ông tôi đã từng làm quan đầu tỉnh thời Pháp. Cha xứ dặn rằng, hễ Tây đi càn qua thì đưa giấy cho họ. Ông tôi giao tôi giữ giấy này để nếu quân Pháp vào nhà mình thì đưa ra. Sau ông tôi nghĩ ra một việc nữa, cụ lấy ở đáy tủ ra mề đay bắc đẩu bội tinh đeo lên ngực và lấy khăn quàng cổ dài che đi. Ông tôi nói cái bắc đẩu bội tinh (Légion dHonneur) này đối với Tây quí lắm, nhiều công sứ Tây cũng chưa được, ở Bắc Kỳ chỉ vào khoảng sáu chục người có mà thôi. Ông tôi được mề đay này khi làm tuần phủ Thái Bình.
Khi Tây đến cổng, tôi ra đón. Cùng đi với tôi là ông già gác cổng Binh Măng - ông này là lính thợ đã từng sang Pháp tùng chinh, nói bập bẹ được mấy câu tiếng Tây, tên ông là Măng đi lính nên gọi là Binh Măng. Sau khi giải ngũ, ông gác cổng cho ông tôi và trông coi vườn tược. Tụi Tây xông xáo, chạy vào lục soát trông hung hăng vô cùng, làm tôi cũng run sợ. Thấy có người đội đi sau, tôi bèn đưa giấy của cha xứ Cao Xá cho người này. Ông trung sĩ thấy thư thì gật gù, đưa tôi lại gặp cấp chỉ huy là trung úy Bernard Delattre và đưa thư cho ông ta coi. Tôi thấy Bernard rất đẹp trai, còn trẻ, và rất lịch sự. Ông ta bắt tay tôi, rồi tôi dẫn ông vào gặp ông bác tôi.
Trong nhà lúc bấy giờ đông cả mấy trăm người, tập trung ở nhà thờ họ trong ngôi nhà của cha tôi. Người ngồi đầy cả ngoài vườn nữa, thấy Tây vào, ai nấy mặt mày xanh xám ngồi như chết. Thấy ông tôi đeo Bắc Đẩu Bội Tinh, trung úy Bernard Delattre vô cùng ngạc nhiên. Ông ta đứng nghiêm, chào rất kính cẩn và lập tức ra lệnh cho binh sĩ không được lục soát ồn ào nữa. Ông tôi mời Bernard vào phòng khách uống rượu - rượu DuBonnet nhà tôi còn từ xưa. Thấy phòng khách đẹp quá, nhiều đồ cổ, hoành phi câu đối treo đầy, Bernard thích lắm. Khi đến cái giá để mấy thanh kiếm, ông ta mê luôn. Thế rồi Bernard ở chơi với ông tôi cả mấy tiếng đồng hồ, đi xem nhà thờ và xuống nhà cha tôi. Gặp chủ tịch huyện và mấy cán bộ ngồi ở tràng kỷ, ông lại gần bắt tay họ sau khi được cha tôi giới thiệu - mấy người này run muốn chết, khi được bắt tay thì cúi gập người xuống.
Trước khi ra về, ông tôi tặng Bernard một cái bình phong nhỏ để che lò sưởi, khảm trai hai mặt, một mặt có hai người đánh kiếm, mặt kia là lưỡng long chầu nguyệt bằng gỗ trắc. Bernard ngỏ ý xin ông tôi thanh gươm của quan Đề Thám. Ông tôi không cho, nói là của người bạn cố tri tặng. Thay vào đó, đồng ý cho thanh gươm của Tây, nhưng Bernard nói không thích, vì đã có rồi. Ông chỉ thích thanh gươm của ông Đề, vì cái vẻ cổ kính đặc biệt Á Châu của nó. Sau ông tôi tặng thêm một cái bát để cắm hoa đời Minh, Bernard thích vô cùng, hứa sẽ đến thăm ông tôi thường xuyên, vì từ đồn đến nhà tôi có độ 6 cây số mà thôi, nếu bắc được cây cầu ở Hoàng Xá, đi xe chỉ mất nửa giờ là cùng.
Kế đó, Bernard cho một toán lính Tây sắp hàng bồng súng chào ông tôi, nói đó là danh dự dành cho những người có Légion dHonneur, rồi mới giã từ ra về. Sau Bernard đổi về khu chiến Hưng Yên, làm trưởng phòng 2. Tình hình chiến sự ngày một nặng nề hơn, máy bay Pháp bắn phá lung tung các làng trong vùng, nhà của cha tôi bị Việt Minh trưng dụng làm nơi giam tù binh Pháp. Cha tôi bị bắt buộc phải tản cư vào Thanh Hóa, ông tôi vì quá già không phải tản cư, nhưng bị canh chừng kỹ lắm. Gia đình tôi phải đào hố ngoài vườn để chôn giấu đồ quí giá, nhất là đồ cổ, kể cả thanh gươm của quan Đề Thám. Tôi còn nhớ chỗ chôn. (tuy nhiên, gần đây em tôi ở bên Pháp có dịp về thăm quê, vào nhà cũ thì chả nhận ra được đâu là đâu. Các ngôi nhà cũ đều bị tiêu thổ không còn lại một di tích gì. Trong khu gia đình tôi ở lúc trước, bây giờ có đến trên sáu chục hộ làm nhà ở đó, nên không thể nào nhận ra được).
Rồi sau đó chúng tôi phải chạy ra Hà Nội, và tôi gia nhập quân đội. Ông tôi quá già, nhất định không chịu vào Nam, ở lại rồi bị đấu tố mà chết. Khi chết không được chôn ở lăng mộ đã làm sẵn mà phải chôn ở cạnh đê. Sau này người làng kể lại, khi Việt Minh đấu tố ông tôi, họ phải lấy người làng khác đến kể tội, vì người làng không ai nỡ nói hỗn với cụ có vài người trẻ bị bắt buộc, nhưng cũng không dám có hành động gì quá đáng.
Khi còn sinh thời, ông bác của tôi luôn luôn dậy tôi phải chung thủy, đừng vì danh lợi mà bỏ bạn bè. Như trường hợp của ông tôi, theo ông thống sứ nói - làm quan thì không theo giặc mà theo giặc thì không làm quan - thế mà ông tôi vẫn giữ trọn vẹn tình nghĩa với quan Đề Thám (giặc Đề Thám, theo như Tây gọi lúc bấy giờ), mà không bị người Pháp nghi ngờ. Tội một điều, vào cuối cuộc đời, cụ vẫn bị khổ với bọn cộng sản vô thần.
Tôi vì nhỏ tuổi, chỉ nghe kể mà không biết gì để hỏi, sau này có thắc mắc tại sao lại gọi là quan Đề - Đề Lại hay Đề Đốc - cũng như khi tôi là trung úy coi chi khu Doãn Lại ở Vĩnh Yên, có dẫy núi dân chúng kể cho nghe là trước đây cụ Đốc Tít đóng quân ở đó - tôi có hỏi mấy cụ già trong vùng thì chả ai rõ tại sao gọi là Đốc Tít, mà cũng không ai biết cụ Đốc Tít họ gì - mong quý vị độc giả ai biết xin giải thích giùm, Đốc là Đề Đốc, Đô Đốc, hay Đốc Học.
Theo ông tôi thì, trái hẳn với cụ Nguyễn Thượng Hiền, ông tôi rất nể trọng quan Đề Thám. Ông tôi nói ông Đề toàn ở rừng sâu núi thẳm và liên lạc phần lớn với các quan Lang hoặc tù trưởng người thiểu số, mà những người này hầu hết nghiện thuốc phiện vì giá thuốc trong vùng quá rẻ, vả lại hút thuốc phiện cũng trù được nhiều bệnh tật và không gì vui bằng nằm bàn đèn để bàn công việc. Ông Hoàng Hoa Thám là người nhiều mưu kế, ăn nói ngay thẳng, rất có tình và rất tin người - việc ông trao con gái của ông cho ông bác tôi là một điều lạ, có thể nếu ông bị phản mà chết thì đó là do tính tin người. Có điều đặc biệt là các thuộc hạ của ông sợ ông như cọp, tuy nhiên ông rất quảng giao và quen biết rất nhiều người.
Điều mà ông Đề ân hận nhất là đã ra hợp tác với người Pháp, ông phàn nàn nhiều lần với ông tôi về điều này. Sau vì buồn phiền nên hút thuốc phiện, rồi càng ngày càng nhiều, làm cho người yếu đi. Ông còn bị người Pháp theo dõi quá chặt chẽ nên ngày càng thêm nản chí.
Dù sao ông cũng đã có một thời oanh liệt, để lại danh tiếng trong lịch sử Việt Nam.

Ghi chú:
1. Quan Đề: Tôi chắc là Đề Đốc chứ không phải là Đề Lại vì không ai gọi Đề Lại là quan.
Có lần ông tôi giảng cho tôi về cách gọi các quan lại thời phong kiến như sau (có thể tôi lầm hay quên, quý vị độc giả ai hiểu hơn xin bổ túc.) Từ dưới trở lên có: thầy lý trưởng, thầy chánh tổng, quan bang tá, quan huyện tư pháp, quan tri huyện, quan tri phủ, quan bố chánh, cụ lớn án sát, cụ lớn tuần phủ, cụ lớn tổng đốc (các quan này có bài ngà.) Ngoài ra còn quan đốc học, quan kiểm học, quan đốc tờ (không có bài ngà.) Cũng có thể gọi là quan như quan hàn (hàn lâm đãi chiếu,) quan nghị (nghị viên hàng tỉnh) - không bài ngà. Còn như viết thư hay thiếp thì chỉ từ án sát đến tổng đốc mới được gọi là Đại Nhân. Thí dụ thư đề: Nguyễn Đại Nhân, án sát Thái Bình.
2. Đàn bà nhà tôi: các cụ xưa hay dùng thành ngữ này để chỉ vợ mình, nhưng có lẽ là để chỉ vợ hai hay vợ ba. Khi ông tôi nói chuyện với bạn bè, muốn nói đến bà tôi (bà cả) thì nói là Bà Tuần tôi chứ không dùng thành ngữ trên.
3. Lương Tam Kỳ: cách đây ít ngày tôi gặp đại tá Chu Văn Sáng nguyên là chánh sở 2 An ninh quân đội, anh Sáng hiện đang ở San Diego và là người do tôi bảo lãnh từ Việt Nam sang đây theo diện HO. Trong lúc anh em trò chuyện, tôi may mắn được biết anh Sáng là cháu ngoại ông Lương Tam Kỳ (mẹ anh là con út ông Lương Tam Kỳ.) Anh Sáng kể với tôi là ngày xưa ông Lương Tam Kỳ cũng là người hợp tác với quan Đề Thám, sau về hàng được người Pháp cho coi mấy sòng bạc ở mấy tỉnh miền thượng du để nuôi đám thuộc hạ của ông. Anh Sáng cũng đồng ý với tôi là sự việc ông Lương Tam Kỳ hạ sát quan Đề Thám không đúng vì ông Kỳ là thuộc hạ của quan Đề, anh em gắn bó với nhau. Vả lại, ở cạnh quan Đề có biết bao nhiêu cận vệ, dễ gì giết được. Dầu cho giết được, cũng phải có nhiều người chết theo, lẽ gì chỉ có một mình quan Đề chết. Mặt khác, sau này dễ gì ông Lương Tam Kỳ thoát khỏi sự trả thù của các thuộc hạ trung thành với quan Đề Thám. Tiếc rằng ngày ấy anh Sáng còn quá nhỏ, không rõ sự việc và ông ngoại của anh cũng chả kể gì với anh. Sau gia đình anh vào Nam lúc anh mới 6 tuổi, khoảng năm 1937 hay 1938 gì đó nên anh không nhớ. Như vậy, theo ông tôi nghĩ là có sự sắp xếp giữa quan Đề và Tây, hy vọng của ông tôi là quan Đề hãy còn sống (vào năm 1946) cũng có thể đúng. Tuy nhiên tôi không dám đoan chắc điều gì và chỉ nêu lên một nghi vấn trong lịch sử đối với một vị anh hùng của đất nước chúng ta.
4. Khi bài nay được sửa soạn lại để in thành sách, một thân hữu đã căn cứ vào cuốn Thành- Ngữ Điển- Tích Danh- Nhân Tự- Điển của Trịnh Vân Thanh, ghi thêm mấy chi tiết, theo đó:
- Đề Thám tên thật là Trương Văn Thám, tục gọi là Hoàng Hoa Thám. Theo sách này, Đề Đốc là một chức quan võ ngày trước, quản hạt binh lính trong một tỉnh. Vào tuổi 20, Thám đã nổi tiếng trong hàng ngũ nghĩa quân chống Pháp nên được phong chức Đốc Binh. Do đó, mọi người gọi Thám là Đề Thám.
- Vẫn theo sách trên, năm 18 tuổi, Thám lấy vợ, và được một con trai là Cả Trọng. Bài viết về Đề Thám sau đó lại nói Ông có hai con trai là Cả Trọng, và Cả Rinh. Cuối bài có nhắc tới một người là Cả Huỳnh, nhưng không nói rõ là con ai. Cả ba ông Cả này đều tử trận.
- Cô Ba, tức vợ ba của Đề Thám, tên Đặng Thị Nhu, là em nuôi một bộ hạ của Đề Thám.
- Lương Tam Kỳ nhận 25.000 đồng của Pháp, cho bộ hạ giả làm người theo giúp Đề Thám, rồi ám sát ông bên mâm đèn hút, vào sáng ngày 10-2-1913.

HẾT

Theo: Đại Học Sư Phạm Saigon.org.

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT