DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Chiến dịch tấn công HUẾ và ĐÀ NẲNG của CSBV_ GS Lê Đình Cai.

E-mail Print
   
                                                                 
  - Đợt tiến công thứ hai: chủ yếu là chiến dịch Huế-Đà Nẵng. (từ ngày 21-3 đến 3-4-1975)  

       Quân khu I của VNCH gồm 5 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi được đặt dưới quyền của bộ tư lệnh Quân Đoàn I đóng ở Đà Nẵng do trung tướng Ngô Quang Trưởng làm tư lệnh và trung tướng Lâm Quang Thi làm tư lệnh phó kiêm tư lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương. (1), gồm quân chủ lực là 3 sư đoàn Bộ Binh 1, 2, 3 và thêm 2 sư đoàn tổng trừ bị là Nhảy Dù và Thủy Quân lục Chiến và 4 liên đoàn Biệt Động Quân.
 
      Sư đoàn 1 do chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm chỉ huy, sư đoàn 2 do chuẩn tướng Trần Văn Nhựt và sư đoàn 3 do thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh. Sư đoàn Nhảy Dù do tướng Lê Quang Lưỡng làm tư lệnh và sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến thuộc quyền điều động của thiếu tướng Bùi Thế Lân.
 
       Để mở cuộc tấn công ở vùng địa đầu giới tuyến, quân VC gồm quân khu Trị Thiên (tức B4) với 3 trung đoàn địa phương và nhiều tiểu đoàn biệt lập do Lê Tự Đồng làm tư lệnh kiêm chính ủy, tư lệnh phó là Hồ Tú Nam, có sự tham chiến của 3 sư đoàn 304, 324 và 325 (tức B5) do Nguyễn Hữu An làm tư lệnh và Hoàng Đạo làm phó.
 
    Tướng Ngô Quang Trưởng đã cho bố trí sư đoàn TQLC ở mạn bắc Huế với ba tuyến phòng ngự như sau:
 
    - Tuyến sông Thạch Hãn là tuyến đầu, tiếp giáp với địch gọi là tuyến đen (VNCH đã mất vùng bắc tỉnh Quảng Trị kể từ vụ mùa Hè đỏ lửa 1972).
 
      - Tuyến sông Mỹ Chánh là tuyến phòng ngự thứ hai, gọi là tuyến đỏ.
 
    - Tuyến Bắc Bình nằm trên sông Bồ là tuyền tử thủ để bảo vệ Huế, chỉ cách cố đô chừng 20 cây số.
 
     Rồi đến ngày 14-3-75 thi hành sách lược "đầu bé đít to" của ông Thiệu (vì bị cắt viện trợ và vì áp lực quân sự quá nặng nề của CSBV từ đầu mùa Xuân 1975), sư đoàn Dù vốn đã được tướng Trưởng bố trí bảo vệ phiá Nam Huế bị TT Thiệu điều về Sài Gòn. Thủy Quân Lục Chiến phải được điều vào phiá nam Huế. Mặt bắc Huế nay chỉ còn được bảo vệ bằng những đơn vị Biệt Động Quân và Địa Phương Quân. Trong khi đó, quân số của cộng sản ma quân khu I cua tuong Truong  phải đối đầu, nay được tăng thêm hai sư đoàn 308 và 341 để củng cố cho quân khu Trị-Thiên.
 
      Ngày 19-3-75: Tiểu đoàn 77 BĐQ phòng thủ trên tuyến Thạch Hãn (tuyến đen), thiếu bình tĩnh và không nhận định được tình hình nên đã hoảng hốt khi nghe tiếng động cơ chiến xa CSBV nổ rền ở phiá bên kia sông và tự động rút lui về phiá phòng tuyến Mỹ Chan1h (tuyến đỏ). Liên đoàn 14 BĐQ cũng rút về bờ Nam sông Mỹ Chánh mặc dù chưa có một cuộc tấn công nào của cộng quân. Từ đó, thị xã Quảng Trị đương nhiên bỏ ngõ, mãi tới chiều ngày 20-03 người ta mới thấy sự xuất hiện của một vài đơn vị VC trong thị xã. Sự kiện này được chính tướng Hoàng Văn Lạc và Hà Mai Việt ghi lại trong cuốn sách: "Việt Nam: 1954-1975", (sđd, tr. 110)
 
       Khi thấy quân đội BĐQ và ĐPQ di tản thì 150.000 dân chúng Quảng Trị cũng hoảng hốt chạy theo. Khi đoàn người di tản đầu tiến đến Huế thì dân Huế cũng hoảng theo. Trên quốc lộ 1, một làn sóng khổng lồ xe jeep, xe honda, và xe cam nhông đầy nhóc tràn xuống phiá Nam, hướng về Đà Nẵng (2).
 
     Lúc 14 giờ 30 cùng ngày, cộng quân bắt đầu pháo kích vào phi trường Tây Lộc và bộ chỉ huy tiền phương ở thành Mang Cá.
      Cũng ngày 19-3-75 vào buổi sáng, tướng Trưởng bay về Sài Gòn gặp TT Thiệu và được lệnh tử thủ để giữ thành phố Huế vì thể diện quốc gia. Trung tướng Trưởng bay ra Đà Nẵng ngay hôm 19-3-75. Về tới Đà Nẵng, tướng Lâm Quang Thi, tư lệnh phó báo cáo cho tướng Trưởng về việc Quảng Trị bị mất vì binh sĩ BĐQ và ĐPQ đã bỏ tuyến đen chạy về tuyến đỏ (ở Mỹ Chánh), còn Huế bị pháo kích ở Mang Cá.
 
       Tướng Trưởng ngay lập tức báo cáo tình hình này về Sài Gòn và đồng thời cho lệnh một tiểu đoàn TQLC đang chờ tầu di chuyển về Quảng Nam ở cửa Thuận An trở về lại để bảo vệ tuyến đỏ từ cầu Vân Trình ra biển; liên đoàn 913 ĐPQ di chuyển về tuyến đỏ phối trí từ cầu Mỹ chánh đến cầu Vân Trình, liên đoàn 14 BĐQ chuyển về tuyến Bắc Bình cùng với một chi đội M113 tăng cường phối trí từ cầu An Lỗ đến phá Tam Giang (3). Đồng thời tướng Trưởng gọi lữ đoàn 147 TQLC đang chặn địch trên đường 12 về An Lỗ làm lực lượng trừ bị.
 
       Ngày 20-3-75: Tướng Trưởng từ Đà Nẵng bay ra Huế quan sát sự bố phòng và ra lệnh cho các đơn vị đồn trú là phải giữ Huế với bất cứ giá nào, và tuyến Bắc Bình là tuyến cuối cùng phải cố thủ. Khi về qua thành phố Huế, tướng Trưởng tuyên bố với báo chí ông sẽ tử thủ thành phố Huế. Nếu có phải chết trên thành phố Huế cũng phải gìữ đến cùng.
 
      Lệnh tử thủ Huế tối hôm đó lại được Thiệu xác nhận một lần nữa trong bài nói chuyện của ông với đồng bào toàn quốc (nguyên văn được dẫn lại trong Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 242-243), cũng vào lúc 5 giờ 45 ngày hôm đó nghĩa là khi đài phát thanh và truyền hình chưa phát ra bài nói chuyện của ông Thiệu thì đại tướng Cao Văn Viên đã đánh điện cho Ngô Quang Trưởng với nội dung như sau:
 
                       Hỏa tốc
Công điện mang tay số 20/54SH/3-1975 T20. 3/75/S - 3/75/STA
    Nơi gửi: BTTM/ Phòng 3
    Nơi nhận: BTL/QĐI, QKI CD)
Thông báo: Văn phòng tổng thống
   Văn phòng đại tướng/TTMT/ QLVNCH.
             Bản văn số 9.428 /F 341
Tham chiếu: CD số 9,424/TTM/F342 ngày 20/14SH/3/1975 của BTTM.
      Tiếp theo công điện dẫn thượng, Bộ Tổng Tham Mưu kính chuyển đến qúy Bộ Tư Lệnh chỉ thị của Tổng thống VNCH dưới đây:
 
       Thứ 1: phương tiện eo hẹp về Không quân và Hải quân chỉ cho phép yểm trợ được một enclave mà thôi.
 
     Vậy nên mener trì hoãn chiến về tuyến đèo Hải Vân nếu tình hình cho phép.
    Thứ hai: Đáp nhận và hiểu chỉ thị này.
                  Đại tướng Cao Văn Viên
                  TTMT QL/VNCH (4)
      Khi nhận được bức công điện này, Ngô Quang Trưởng đã xững sờ, ông không tin rằng việc này lại có thể xảy ra. Ông cũng không tin rằng mắt mình đã đọc thấy những dòng chữ này nữa nên đưa công điện cho viên tư lệnh phó vào bảo:
 
    - Ông thử đọc công điện này cho tôi nghe.
      Công điện này khi gửi lên Nguyễn Văn Thiệu, Thiệu xem lại thì thấy mình ra lệnh rút là hố, là đi ngược lại tinh thần của dân chúng cũng như của quân đội nên Thiệu đã phê vào đó một câu để trút trách nhiệm lên đầu tướng Trưởng:
 
     "Nói đúng hơn là khi tình hình đòi hỏi và còn cho phép thực hiện kịp thời". (5)
 
     Bút phê này được Bộ Tổng Tham Mưu sao nguyên văn gửi cho Ngô Quang Trưởng bằng công điện số 9.364/TTM/P341 ngày 21-3-75.
     Cũng trong ngày 20-3 Cao Văn Viên còn gửi cho Ngô Quang Trưởng một công điện trả lời về vụ tướng Trưởng xin giữ lại lữ đoàn 1 Dù, đại ý như sau:
 
    - Lữ đoàn 1 Dù ở lại cũng không biến đổi đượcýỳ
 tình hình. Trái lại, ở quân khu 3, tình hình rất sôi động, mất équilibre về phiá bạn. Tùy theo khả năng của quân đoàn và biến chuyển của tình hình, quân đoàn áp dụng các plan đã trình bày.
 
     Yêu cầu cho lữ đoàn 1 Nhảy Dù về gấp. (6)
       Ngoài ra Bộ Tổng Tham Mưu còn đánh nhiều công điện khác, chỉ thị cho Ngô Quang Trưởng lo việc phòng thủ Đà Nẵng bằng lực lượng cơ hữu, còn sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến sẽ phải trả lại Sài Gòn sau khi tình hình Đà Nẵng ổn định.
       Việc ra lệnh rút khỏi Thừa Thiên đã đặt Ngô Quang Trưởng vào thế khó xử. Ông vừa thề tử thủ Huế xong thì bây giờ ăn làm sao, nói làm sao với dân chúng. Ông tức quá chửi thề và công khai rủa xả bọn Thiệu, Viên:
 
      - Thật là đồ ngu xuẩn... càng co cụm lại làng chóng chết...
     Ông chỉ còn cách phản đối duy nhất là xin từ chức. Ngay tối hôm 20 tháng 3 ông đánh điện về Sài Gòn xin từ chức:
 
                       Bưu Điệp
     Nơi gửi: Tư Lệnh Quân Đoàn I, Quân Khu I
     Nơi nhận: Tổng thống VNCH
   Kính nhờ đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng chuyển trình.
    Bản văn số 032/QĐ1/QK1/VFTL/20/3/75.
     Trân trọng kính trình tổng thống,
     Tự nhận thấy đuối sức và bối rối, sợ rằng không hoàn thành trách nhiệm.
     Kính xin tổng thống cho được từ chức và fin.
                           Ký tên
          Trung tướng Ngô Quang Trưởng   
      KBC 4109 ngày 20--3-1975. (7)
     Tất nhiên Nguyễn Văn Thiệu không chấp thuận
    Nguyễn Tiến Hưng trong "The Palace File" kể lại:
      "6 giờ sáng hôm 20-3 Bộ trưởng Kế Hoạch Nguyễn Tiến Hưng được tổng thống Thiệu cho gọi điện thoại vào gấp Dinh Độc Lập. Trong khi hai người ăn điểm tâm (phở và bánh cuốn), Thiệu cho Hưng biết: CSBV đã cho thêm 5 trong số 7 sư đoàn trừ bị của chúng vào miền Nam, cộng với 14 sư đoàn sẵn có tại chỗ, thành 19 sư đoàn võ trang đầy đủ, với 1000 chiến xa đại bác. Cán cân lực lượng nghiêng hẳn về chúng... Ngày hôm qua (19-3), xe tăng cộng sản đã vượt qua sông Thạch Hãn vào chiếm thành phố Quảng Trị và chúng bắt đầu pháo kích Huế."
 
     Một lần nữa, Hưng đề nghị với Thiệu nên công bố những mật thư của Nixon rồi của Ford cam kết cứu VNCH nếu CSBV vi phạm hiệp định Paris 1973.
 
     Nhưng Thiệu vẫn chưa muốn làm thế, sợ mang tiếng thất hứa.
     Rồi Thiệu bảo Hưng thảo một lá thư nữa để năn nỉ Ford cho pháo đài bay B-52 sang oanh tạc, chỉ nội trong 2 tuần lễ là đủ chặn được VC." (8)
 
      Lời thỉnh cầu này của ông Thiệu đã không được TT Ford đáp ứng. Lời đề nghị công bố những mật thư cam kết của TT Nixon, rồi TT Ford có thể tạo được một ảnh hưởng quan trọng trong công luận và Quốc Hội Hoa Kỳ nếu mình biết vận dụng dư luận báo chí và truyền hình Mỹ. Dù gì thì đây cũng là một thế cờ đột biến trong ván cờ bí. Rất tiếc TT Thiệu đã không cho bàn thảo kỹ lưỡng ý kiến này của Nguyễn Tiến Hưng, "Sợ mang tiếng thất hứa" vào trường hợp Hoa Kỳ đã thất hứa trong các cam kết của họ qủa thật là điều không hợp lý tí nào cả.
 
       Trong lúc đó ngày 21-3-1975, bộ Tổng Tham Mưu Việt Cộng ở Hà Nội đánh điện vào cho quân khu Trị Thiên và quân khu II chỉ thị:
 
      Bộ gửi cho anh An, anh Linh (b6)
                     anh Đồng, anh Nam (b4)
    1.- Ở Thừa Thiên, Huế, địch đã bắt đầu rút lui và đang rút lui tiếp.
    2.- Nhiệm vụ của quân đoàn II và quân khu Trị Thiên là phải khẩn trương, táo bạo chặn không cho địch rút, chia cắt tiêu diệt cho được toàn bộ lực lượng sư đoàn I ngụy và các lực lượng khác, thu hồi toàn bộ trang bị, tài liệu của địch, giải phóng hoàn toàn Trị Thiên, Huế và chiếm lĩnh toàn bộ đèo Hải Vân.
 
     3.- Lực lượng của B4, B5 phải hoàn toàn cắt hẳn được giao thông đường số 1 của địch từ Huế vào Đà Nẵng nội trong ngày 21 tháng 3 năm 1975.
 
     4.- Lực lượng của B4 không được dừng lại ở Mỹ Chánh mà phải kịp thời phát triển tiến công về hướng của Thuận An bằng hai đường:
 
     - Đường Mỹ Thủy, Hương Điền cửa Thuận An.
    - Đôn đốc trung đoàn 4 đánh từ hướng Tây Sơn Qủa, Phương Chương, Quảng Thái cắt chặn tiêu diệt địch rút chạy (không cần đánh điểm).
 
    5.- Dùng lực lượng tiểu đoàn 5 Hải quân để rải mìn, chặn đường sông Hương, cửa Thuận An.
 
    6.- Bộ tư lệnh Quân đoàn II và quân khu Trị Thiên được phép sử dụng lực lượng của mình để tiêu diệt địch, kể cả pháo và tăng, trong 2, 3 ngày tới sẽ tăng thêm lực lượng phiá sau cho các anh.
 
     Pháo lúc này không cần đánh kho tàng nữa mà phải khống chế sân bay nơi tập trung di chuyển ở đường bộ, đường không. Địch rút chạy phải di chuyển trận địa bắn khống chế được cửa Thuận An.
 
    7.- Thủ trưởng Tham mưu B4, B5 phải thường trực ở máy điện thoại và cách một giờ báo cáo về Bộ một lần. (9)
 
      Thi hành chỉ thị đó, ngày 21-3, cộng quân bắt đầu chỉa mũi dùi vào quận lỵ Phú Lộc ở trên Quốc lộ 1 phiá Nam Huế, nơi đây VNCH có 5 tiểu đoàn trấn giữ. Sau hai ngày chống cự dũng mãnh, quân trú phòng bị tràn ngập ngày 23-3. Thế là Quốc lộ 1 bị cắt đứt giữa Huế và Đà Nẵng. Quân đội VNCH ở Thừa Thiên-Huế chỉ còn lối thoát là chạy ra hai cửa biển Thuận An và Tư Hiền để vào Đà Nẵng.
 
     Ngày 23-3-75: ở Huế, Bộ tư lệnh Tiền phương Quân đoàn I ấn định kế hoạch rút quân, bắt đầy ngay từ đêm hôm 23-3 như sau:
 
    Các cánh quân ở phiá Bắc Thừa Thiên (có lữ đoàn 147TQLC) sẽ rút ra cửa Thuận An và tàu Hải quân sẽ đón về Đà Nẵng.
 
    - Các cánh quân ở phiá Nam Thừa Thiên (có SĐ1BB và BĐQ) sẽ rút bằng đường bộ qua cửa Tư Hiền, rồi vượt sông mà về đèo Hải Vân. Giang đoàn 13 đóng tại đây sẽ phụ trách việc làm cầu vượt sông.
 
      Nhưng cuộc triệt thoái đã gặp nhiều khó khăn là:
    - Bị VC chặn đường đánh phá ở mọi nơi;
    - Bị dân chúng ùn ùn chạy theo như nước vỡ bờ;
    - Tàu Hải quân tới đón chậm hai ngày lại bị nước cạn và VC pháo kích nên không thể vào tận bờ.
 
     Tháo chạy được chừng 50%.
     Cửa Thuận An lúc này thật là thê thảm. Xe chết ngoài đường, ngổn ngang hàng mấy cây số liền... Xác lính chết lẫn với đám xe cháy... Số dân chết và bị thương không kể xiết... Kẻ còn sống lếch thếch bồng bế nhau chạy trở về.
 
      - Việt cộng vào treo cờ ở Phu Văn Lâu lúc 10 giờ 30 ngày 25-3-1975. Và khoe bắt được tới 10.000 quân nhân VNCH trong số có 100 sĩ quan, tịch thu được 1000 quân xa đủ loại kể cả chiến xa, và 300 cỗ trọng pháo (10).
 
      Cũng ngày 23-03-75, Thiệu nhận được thư của TT Ford, có đoạn viết như sau:
 
      "Tôi cương quyết rằng Hoa Kỳ sẽ đứng vững sau lưng VNCH trong giờ phút nghiêm trọng này. Với mục tiêu tôn trọng những trách nhiệm của Hoa Kỳ trong tình thế này, tôi đang theo dõi rất kỹ các tiến triển và đang nghiên cứu gấp với các cố vấn của tôi những hành động mà tình thế đòi hỏi và luật pháp cho phép. Nhất là về những viện trợ quân sự hợp thời cho quân đội của ngài, ngài có thể yên trí rằng tôi sẽ gửi mọi cố gắng để đáp ứng những nhu cầu thực tế của ngài trên chiến trường."
       Thiệu bèn sai Hưng thảo lại thư của Thiệu gửi cho Ford, thêm những thư của Trần Văn Lắm (chủ tịch Thượng Viện) và Nguyễn Bá Cẩn (chủ tịch Hạ Viện) gửi cho các chủ tịch Thượng Viện và Hạ Viện Mỹ.
 
      Hưng mất 24 giờ để soạn thảo. Chính trong thời gian đó, Thiệu sai đem cho Hưng coi toàn thể 27 mật thư của Nixon và Ford đã gửi tới Thiệu trong mấy năm 1972-1974. Cũng trong thời gian đó, Thừa Thiên và Huế bị bỏ ngõ.
 
      Cho đến sáng hôm 25-3, thư chính thức của Thiệu gửi tới Ford bị cắt ngắn, đoạn chính viết:
 
    "Đặc biệt, tôi tha thiết thỉnh cầu ngài thực hiện hai hành động cần thiết sau đây:
 
     "Ra lệnh làm một cuộc oanh tạc ngắn hạn nhưng kịch liệt bằng B-52 chống những đám tập trung quân lính địch và những căn cứ hậu cần của chúng trong miền Nam Việt Nam.
 
      "Cấp tốc cung cấp cho chúng tôi mọi phương tiện cần thiết để ngăn chận và đẩy lui cuộc tấn công." (11)
 
      Như đã nói ở trên, thỉnh cầu này không được Ford đáp ứng. Như vậy: cộng quân đã tiếp thu Quảng Trị (20-3 và tiếp thu thành phố Huế ngày 25-3-75 lúc 10 giờ 30; Quảng Ngãi ngày 25-3, Chu Lai (tỉnh Quảng Tín) ngày 26-3-75.
 
       Tất cả dân chúng và các đơn vị quân sự VNCH đều tìm cách co cụm về Đà Nẵng nơi đặt bộ tư lệnh Quân Đoàn I. Như vậy cho tới ngày 26-3, Quân Đoàn I của VNCH đã mất Sư Đoàn 1 của tướng Nguyễn Văn Điềm, Sư Đoàn 2 của tướng Trần Văn Nhựt và mất luôn Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến.
               
     Ngày 26-3-75 vào buổi tối, Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương của CSBV ra chỉ thị cho bộ đầu não của Quân đoàn II và Quân khu V của cộng sản phải thực hiện các điểm sau đây:
 
      "Nắm vững chủ trương đã đề ra, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay.
 
     "Phải tập trung lực lượng tiêu diệt sinh lực lớn của địch ở Đà Nẵng, chủ yếu là sư đoàn lính thủy đánh bộ, sư đoàn 3 ngụy, giành thắng lợi trong trận quyết chiến quyết thắng này, tạo điều kiện cho trận chiến chiến lược khác." (12)
  
- Đà Nẵng những phút giây sau cùng (26-3 đến 29-3-1975):
       Đà Nẵng là một quân cảng quan trọng của VNCH, thị xã đứng hàng nhì sau Sài Gòn, với dân số thời bình là 600.000 người. Đó là nơi đóng quân của SĐ3BB (tư lệnh thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh) thêm BTL Quân đoàn I của tướng Ngô Quang Trưởng. Có hai phi trường là phi trường Đà Nẵng và phi trường Non Nước, thêm một lực lượng Hải quân quan trọng đóng ở bán đảo Sơn Trà và dọc bờ biển.
 
      Các biến cố quân sự dồn dập từ đầu xuân năm 1975 khiến tổng thống Thiệu phải dùng chiến lược "đầu bé đít to", chỉ giữ lại Quân khu I vài đầu cầu là Huế, Đà Nẵng và Chu Lai, nhất là Đà Nẵng để phòng hờ trường hợp Hoa Kỳ cho quân Mỹ trở lại cứu viện, thì còn có nơi đổ bộ.
 
      Song CS lại dùng chiến thuật "chặn không cho rút yên lành, chia cắt tiêu diệt các đoàn quân triệt thoái để không thể nào co cụm hoàn hảo được. Đó là trường hợp Đà Nẵng ngày 26-3-75.
 
      Với quân đội còn trong tay, khoảng chừng 100.000 người, tướng Trưởng cho lập một phòng tuyến hình vòng cung bao quanh Đà Nẵng như sau:
      Phiá Bắc, vùng đồi núi hiểm trở của đèo Hải Vân, đặt lữ đoàn 2 TQLC còn nguyên vẹn và phần còn lại của lữ đoàn 147 TQLC thoát từ Thừa Thiên về.
      Phiá Tây, đặt sư đoàn 3 BB, với pháo binh và thiết kỵ còn nguyên vẹn.
      Phiá Nam, đặt BĐQ và ĐPQ.
      Song ngay trong thị xã đã có đến hàng triệu rưỡi người di tản từ các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, thị xã Huế xuống, cùng với các tàn quân và dân chúng từ Quảng Nam lên.
 
      Họ hy vọng được chính quyền di chuyển vào miền Nam. Đường bộ lúc này bị nghẽn ở Quảng Ngãi và Quảng Tín, nên chỉ còn cách di tản bằng đường hàng không và đường thủy.
 
       Lúc bấy giờ ở bến Bạch Đằng hàng hai trăm ngàn đồng bào ăn chực nằm chờ để được tàu vào bến đón đi.
 
- Giờ phút thất thủ của Đà Nẵng.
      Ngay từ đêm 25-3, VC đã bắt đầu pháo kích vào phi trường Đà Nẵng. Đến ngày 26-3 độ pháo kích gia tăng, nhất là vào quân cảng, hai phi trường Đà Nẵng và Non Nước để chặn đường di tản của dân chúng.
 
      Thành phố trở nên hỗn loạn. Cảnh sát và quân cảnh lo di tản gia đình, không làm việc nữa, nên nhiều nơi đã xảy ra cướp bóc, hãm hiếp.
 
   Các binh sĩ đào ngũ, các bọn cướp có súng vì tranh nhau mối hàng đã bắn nhau ngay giữa ban ngày trong thành phố như những cao bồi ở miền Tây Hoa Kỳ. Tướng Trưởng phải ra lệnh cho phép nhân viên công lực bắn tại chỗ những kẻ vô kỷ luật.
      -Ngày 28-3, VC tấn công Đà Nẵng từ ba phiá.
     Từ phiá Tây Bắc, sư đoàn 325 tấn công tuyến đầu của TQLC ở Lăng Cô để áp sát đèo Hải Vân. Nhờ địa thế hiểm trở, TQLC chiến đấu rất can đảm để cản bước tiến quân của VC.
 
      Song một cánh quân khác của SĐ 325 theo đường núi, đánh vào Nam Ổ chặn mặt Nam đèo Hải Vân, khiến TQLC phải gọi Hải Quân đến đón để rút ra.
 
     Về phiá Tây Nam, ngày 28-3 sư đoàn 2 VC vượt sông Bà Rén đánh vào Vĩnh Điện, đụng với SĐ 3 VNCH. Song các sĩ quan cấp lớn đã bỏ về Đà Nẵng lo việc di tản gia đình. Các sĩ quan cấp thấp cũng bỏ đi nốt, hoặc cố đưa đơn vị về gần Đà Nẵng.
     Sư đoàn 2VC thừa thắng đánh thẳng vào phi trường Nước Mặn.
     Về phiá Nam, bộ đội địa phương VC đánh chiếm tỉnh lỵ Hội An, rồi đi dọc theo bờ biển tiến lên áp sát Đà Nẵng.
 
      Đến đêm 28-3, từ phiá Tây Bắc, hai sư đoàn 304 và 325 VC có pháo binh và xe tăng yểm trợ chia thành 4 cánh tấn công thẳng vào Đà Nẵng.
 
     Trở lại chiều tối ngày 28-3 ở Bộ tư lệnh Quân đoàn I VNCH, từ các binh sĩ lái xe cho ông tướng đến mọi nhân viên, các sĩ quan trong bộ tham mưu đều bỏ về nhà lo việc di tản gia đình.
 
     Tướng Trưởng gọi điện thoại vào Sài Gòn để yêu cầu tổng thống cho phép ông rút quân khỏi Đà Nẵng. Song Thiệu không chịu, ra lệnh tử thủ Đà Nẵng.
 
     Vừa lúc đó, tổng lãnh sự Mỹ Al Francis và hai người kiều dân Anh đến tổng hành dinh của tướng Trưởng, thấy ông đang thiêu hủy tài liệu mật. Họ giúp ông một tay rồi cả 4 người dùng trực thăng của Trưởng bay ra Bộ Tư Lệnh Hải quân Vùng I Duyên hải nằm cạnh sườn đồi trên bãi biển Tiên Sa. Khi đó trời đã tối đen.
 
       Quá nửa đêm Francis và hai người bạn Anh ra bãi bể kiếm thuyền để trở lại Tòa Lãnh Sự. Thì trái phá của VC đã bay tới BTL Hải Quân. Bọn Francis vội nhảy xuống biển bơi đi trốn, may mắn được vớt lên chiếc tàu HQ5 của Hải quân VNCH. (13)
    Còn tướng Trưởng thì "vất vưởng ra sân cờ, lượn đi lượn lại dưới lằn đạn pháo kích vang rền chung quanh bộ tư lệnh Hải Quân". Thấy thái độ của tướng Trưởng không được bình thường, thỉnh thoảng lại nắm lấy báng súng như có ý định gì, nên đại úy Hóa, sĩ quan tùy viên, hoảng sợ vội tới gần ông và rút khẩu súng lục ra khỏi bao cất đi. Ngay sau đó, một trực thăng đeo dấu Hồng Thập Tự hạ xuống bãi đáp. Hóa kéo Trưởng, đẩy lên máy bay trực chỉ phi trường Non Nước, nơi dã trại của bộ tư lệnh Sư đoàn TQLC. Sáng hôm sau (29-3-75), tướng Trưởng cùng với đại tá Nguyễn Thành Trí, tư lệnh phó Sư Đoàn TQLC, cùng xuống tàu Hải Quân 404 vào Nam. Nằm trên tàu, tướng Trưởng buồn bã, suy nhược lâm bệnh được tiếp nước biển, và sau đó di tản về bệnh viện Cộng Hòa ở Sài Gòn để điều dưỡng. (14)
 
       Frank Snepp còn kể thêm một chi tiết: "Ông Trưởng không bơi giỏi (từ bờ bơi ra tàu Hải quân 404) nên người ta phải đỡ ông chống đối sóng dữ mà bơi ra chiếc tàu tuần dương VN đang đợi ông ở ngoài khơi. (15).
 
    - 16 giờ ngày 29-3-75 cánh quân phiá Bắc của VC tiến vào Đà Nẵng và đi thẳng ra bãi biển Sơn Trà.
 
      Trận đánh cuối cùng của TQLC diễn ra trên bán đảo: một tiểu đoàn TQLC ra đóng chốt trên núi cản địch; nhờ đó các đơn vị ở ngoài bán đảo có đủ thì giờ rút lên tàu.
 
     Việc cứu vớt dân chúng trôi lênh bênh trên mặt biển kéo dài đến ngày 31-3-75.
 
      Tướng Ngô Quang Trưởng sau khi tỵ nạn tại Hoa Kỳ từ năm 1975 đến nay, vẫn giữ yên lặng nhưng mới đây, đặc san Quân Lực VNCH (do hội cựu chiến sĩ VNCH ở Gia Nã Đại) ra ngày 19-6-99 đã cho đăng lời phát biểu của ông dưới tựa đề "Tại Sao Tôi Bỏ Quân Đoàn I?" và tờ tuần báo Chính Luận của ông Lê Điền tại Seattle đã trích đăng lại trong số báo 139 (tuần lễ từ 6-8-99 đến 12-8-99). Sau đây người viết xin trích lại vài đoạn quan trọng:
 
      "Tôi ra lệnh giữ Huế cho thật vững vàng. Chiều hôm đó về đến Đà Nẵng, tôi nhận được một lệnh do đại tướng Cao Văn Viên, thừa lệnh tổng thống ký yêu cầu tôi "bỏ Huế". Thật làm tôi chết lặng vì mới buổi sáng hôm nay ở Huế tôi ra lệnh cho tướng Thi giữ Huế. Giờ đây được lệnh bỏ, tôi biết ăn làm sao, nói làm sao với tướng Thi và anh em binh sĩ. Nhưng vẫn phải đành thi hành theo lệnh thượng cấp.
 
     Tôi gọi điện thoại thông báo lệnh bỏ Huế cho tướng Thi thì tướng Thi trả lời ngay: "Ở Huế hiện tại xã, ấp, phường, khóm tốt qúa, đâu đâu tình hình cũng tốt cả mà sao anh lại bảo tôi bỏ là bỏ làm sao chớ?". Tôi trả lời buồn bã: "Tôi biết rồi. Nhưng xin anh bỏ Huế dùm tôi đi. Đó là lệnh thượng cấp! Không bỏ là không được!". Kết qủa là tướng Thi thi hành mệnh lệnh, bỏ Huế, dồn quân ra cửa Thuận An để được tàu Hải Quân rút về Đà Nẵng.
 
      ".... Sáng 19-3-1975 (16), thủ tướng Khiêm ra, tôi cho họp tất cả các vị tư lệnh sư đoàn, tỉnh trưởng, thị trưởng, bộ tham mưu và các trưởng phòng, sở của hành chánh để thủ tướng nói chuyện. Trước khi thủ tướng ra, tôi đã cố ý nói chuyện với anh em có mặt tại hôm đó rằng tình hình khẩn trương, anh em phải cố nói lên sự thực đang xảy ra trong thực tế tại nơi đây để thủ tướng biết rõ tình hình và giải quyết cấp thời, chứ đừng có còn giữ thái độ "trình thưa dạ bẩm" trong lúc này nữa. Phải thẳng thắn nói sự thực. Nhưng sau khi thủ tướng nói chuyện xong, đến phần thắc mắc, cũng chẳng ai nói gì cả. Tôi rất buồn vì anh em không chịu nghe lời tôi để nói sự thực tình hình hiện tại lên thủ tướng. Duy chỉ có một mình đại tá Kỳ, tỉnh trưởng Quảng Trị có hỏi một câu: "Thưa thủ tướng, trong mấy ngày qua có một số công chức đã tự ý bỏ nhiệm sở không đến làm việc, thưa thủ tướng phải dùng những biện pháp gì để trừng phạt những người đó". Câu hỏi thật hay, nhưng thủ tướng không trả lời và nói lãng sang chuyện khác. Vì thủ tướng làm sao nói được khi lệnh thượng cấp đã muốn giải tán càng sớm càng tốt Quân đoàn I và Quân khu I. Trung ương chỉ nói bóng nói gió với các thuộc cấp và chỉ ra lệnh thẳng với một mình tôi là tư lệnh Quân Đoàn mà thôi. Vì vậy cuộc họp hôm đó cũng chẳng mang lại kết qủa nào như tôi mong muốn.
 
      "... Lệnh của tổng thống Thiệu yêu cầu tôi rút quân đoàn I trước quân đoàn II. Ngày 13 tháng 3 rút quân đoàn I, và ngày 14 tháng 3 rút quân đoàn II. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên, lấy quốc lộ 21 làm ranh giới. Việt Nam thu gọn sẽ chạy dài từ Phú Yên đến Hà Tiên. Cái lầm của trung ương là không cho thuộc cấp biết ý định của mình. Nghĩa là các vị tư lệnh quân, binh, chủng, tổng bộ trưởng, tư lệnh sư đoàn.... không biết gì về việc rút quân của quân đoàn I và II. Lệnh này chỉ có tổng thống, thủ tướng Khiêm, đại tướng Viên, tư lệnh quân đoàn I là tôi và tư lệnh quân đoàn II là tướng Phú biết mà thôi. Do đó thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa tham mưu và các cấp, không có kế hoạch rút quân đàng hoàng, lệnh đột ngột không có cả thì giờ để sắp đặt kế hoạch, gây hoang mang chi binh sĩ, nhất là gia đình họ cũng không được bảo vệ đúng mức thì làm sao tránh khỏi hoang mang.
 
     "... Đúng ngày 22 tháng 3, 1975, tôi được lệnh rút sư đoàn Dù và sư đoàn TQLC về giữ Nha Trang. Ngày 29-3 địch tràn vào Đà Nẵng với những trận giao tranh nhỏ. Tôi được chiến hạm HQ 404 đưa về Sài Gòn. Trên tàu tôi có một lữ đoàn TQLC. Khi tàu chạy ngoài khơi, trên biển Nam Hải, trên đường về Sài Gòn, tổng thống Thiệu gọi máy yêu cầu tôi tái chiếm Đà Nẵng. Tôi trả lời ngay là bây giờ tôi lấy ai để theo chân tôi tái chiếm Đà Nẵng? Lính tráng đã phân tán mỗi người một nơi. Cấp chỉ huy thì mạnh ai nấy thoát. Làm sao tôi có thể làm chuyện đó được?
 
      "... Về Sài Gòn, tôi được bổ nhiệm vào bộ tư lệnh Hành Quân Lưu Động ở Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vào đây tôi gặp phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là tư lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải và chuẩn tướng Nguyễn Văn Khanh đang ngồi viết bản tự khai và trung tướng Thi thì bị phạt quản thúc vì tội bỏ Huế. Tôi chết lặng người vì tại sao lại có chuyện kỳ lạ như vậy?"
 
     Sau khi mất Ban Mê Thuột (11-3), triệt thoái khỏi Pleiku Kontum (15-3), mất Huế (25-3), mất Đà Nẵng (29-3) thì tinh thần chiến đấu của binh sĩ VNCH trên toàn các chiến trường còn lại xuống rất thấp. Các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa đã không giữ nổi. Qui Nhơn (Bình Định) mất ngày 31-3, Tuy Hòa mất ngày 1-4. Nha Trang bỏ ngõ từ ngày 1-4 đến ngày 3-4 cộng quân mới tràn vào chiếm đóng. Cam Ranh bị chiếm ngày 4-4. Thành phố Đà Lạt cũng bỏ ngõ và VC vào tiếp thu ngày 4-4-75.
      Chiến dịch tổng tiến công mùa Xuân 1975 của CSBV mới chỉ thực hiện hai đợt tiến công trong tháng 3 ở Tây Nguyên và vùng địa đầu giới tuyến thôi mà đã xóa sổ hoàn toàn quân khu I và II trong vòng chưa đầy một tháng. Sự thành công nhanh chóng này của CSBV khiến Bộ Chính Trị ở Hà Nội quyết định đẩy mạnh đợt tiến công thứ ba mà các sử gia cộng sản gọi là chiến dịch Hồ Chí Minh để lật đổ toàn bộ chính quyền miền Nam trong tháng 4-1975 (như sẽ được trình bày trong phan ke tiep sau đây).
 
                   Chú thích:
                   
(1) GS Nguyễn Khắc Ngữ trong "Những ngày cuối cùng của VNCH", sđd, tr. 242, 248, 253 đều ghi tư lệnh phó Quân Đoàn I là tướng Lâm Quang Thơ; rồi Hoàng Cơ Thụy khi dẫn lại trong "Việt Sử Khảo Luận", sđd, tập 14, tr. 3677 cũng vẫn ghi tướng Thơ là tư lệnh phó QĐI kiêm tư lệnh BTL Tiền Phương QĐI. Điều này hoàn toàn không đúng, Tư lệnh phó kiêm BTL Tiền phương QĐI lúc đó là tướng Lâm Quang Thi,con tuong Tho bấy giờ đang là chỉ huy trưởng trường Võ Bị Đà Lạt mà tướng Thi cũng từng làchỉ huy trưởng trường này (tướng Thi hiện đang ở Mulpitas và trong cuộc điện đàm vào lúc 9 giờ tối ngày 30-8-99 đã xác nhận với người viết những chi tiết nêu trên).
 
(2) Frank Snepp, "Decent Interval",Newyork:Random House,1977, tr. 172.
(3) Theo lời kể của đạt tá Nguyễn Thành Trí, tư lệnh phó SĐ TQLC, mà Xuân Thiều ghi lại trong "Bắc Hải Vân Xuân 1975"", Hà Nội: nxb: Quân Đội Nhân Dân, tr. 152, 153
 
(4) Xuân Thiều, sđd, tr. 159-160.
(5&6): Xuân Thiều, sđd, tr. 160, 161.
(7) Xuân Thiều, sđd, tr. 162; được Nguyễn Khắc Ngữ dẫn lại, sđd, tr. 246
(8) Nguyễn Tiến Hưng, "The Palace File", sđd, tr. 275-279.
(9) Nguyễn Khắc Ngữ,sdd, tr. 246-247.
(10) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 236-255
(11) Nguyễn Tiến Hưng, sđd, tr. 275-279 và tr. 437.
 
(12) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd, tr. 259
(13) Frank Snepp, sđd, tr. 214; được dẫn lại trong Hoàng Cơ Thụy, sđd, tập 14, tr. 3682
 
(14) Hoàng Lạc và Hà Mai Việt, sđd, tr. 314, 315
(15) Frank Snepp, sđd, tr. 216;
(16) Giáo sư Nguyễn Khắc Ngữ ghi nhận phiên họp này xảy ra ngày 18-3-75 chứ không phải ngày 19-3 như tướng Trưởng nhớ lại. Ngày 19-3-75, tướng Ngô Quang Trưởng phải về họp báo tại Dinh Độc Lập với TT Thiệu, thủ tướng Khiêm và đại tướng Cao Văn Viên, có phó TT Hương và tướng Đặng Văn Quang tham dự.
 
© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam
 

 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT