Chương II Nhận Định Cuộc Chiến:
a-Nhận định cuộc chiến Việt Nam của phiá Quốc Gia Dân Tộc:
3-Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu :
Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001)
-Tiểu sử: Ông Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 11 Tháng 12, 1924 tại làng Trí Thủy gần tỉnh lỵ Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận. Ông lập gia đình tại Mỹ Tho với Cô Nguyễn Thị Mai Anh, có ba con và một con nuôi. Ông thụ huấn Khóa Sĩ Quan Căn Bản Bộ Binh tại trường Coetquidan (Pháp quốc, 1949 và tốt nghiệp tháng Sáu 1950). Ông được bổ nhiệm Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt QGVN tại Đà Lạt tháng 3, 1955. Ông đi Okinawa, Nhật năm 1962 thụ huấn tại trường Chỉ Huy Tham Mưu Thái Bình Dương, sau đó giữ chức Tư Lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh Biên Hòa . Năm 1964 được vinh thăng Thiếu tướng, rồi Trung Tướng năm 1965 và bắt đầu vào chính trường với chức vụ Phó Tổng Thống kiêm Tổng Trường Quốc Phòng trong chính phủ Phan Huy Quát, kiêm luôn chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Quân Lực. Năm 1965 ông được tín nhiệm trong chức vụ Chủ Tịch Uỷ Ban Lãnh Đạo QG. Đắc cử Tổng Thống nền Đệ Nhị CH trong hai nhiệm kỳ kể từ tháng 9, 1967.
Tháng Tư, 1975 trước áp lực của Hoa Kỳ và Cộng Sản Hà Nội ông từ chức Tổng Thống VNCH. Sau khi rời quê hương ông sống một thời gian tại Luân Đôn, Anh Quốc. Năm 1985 ông định cư tại HK và sống tại West Newton và sau đó Foxboro thuộc tiểu bang Massachusetts.
Ông tạ thế ngày 29 tháng 9, 2001 tại Bệnh viện Beth Israel Deaconess, Thành phố Boston, MA, hưởng thọ 78 tuổi.
- Trong suốt thời gian giử trách nhiệm lãnh đạo quốc gia ,tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã thực hiện được những điều như sau :
* Về quân sự, cố TT Nguyễn Văn Thiệu, trong trách vụ Tổng Tư Lệnh Quân Ðội, ông đã lãnh đạo QLVNCH, gây cho cộng sản những thất bại nặng nề qua 3 đợt tổng công kích năm Tết Mậu Thân (1968), đã có 100 ngàn bộ đội chính quy, du kích, cán bộ cơ sở nằm vùng đã bị loại khỏi vòng chiến. Sau đó, chiến tranh khốc liệt vẫn tiếp diễn, năm 1972, một lần nữa với sự lãnh đạo sáng suốt của ông, QLVNCH đã đẩy lui các cuộc tổng tấn công của Cộng sản Bắc Việt trên các mặt trận Trị Thiên, Komtum và Bình Long. Trong khi mặt trận còn nặc mùi thuốc súng, nóng bỏng, Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã không ngại hiểm nguy, đích thân đến chiến trường để ủy lạo và tưởng thưởng các chiến sĩ anh hùng của quân lực.
* Về chính trị, ông đưa ra Lập trường 4 KHÔNG làm chỉ nam cho sách lược chính trị của chính phủ VNCH là KHÔNG THỪA NHẬN CỘNG SẢN, KHÔNG TRUNG LẬP HÓA MIỀN NAM, KHÔNG LẬP CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP và KHÔNG NHƯỢNG ÐẤT CHO CỘNG SẢN.
Cố TT VNCH Nguyễn Văn Thiệu đáng được lịch sử ghi nhận như sau:
- Ông là một vị Tổng Tư Lệnh dũng mãnh, không ngại hiểm nguy, đã đến tận chiến trường khi trận chiến còn nặc mùi khói súng để ủy lạo và tưởng thưởng các chiến sĩ anh hùng. -Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là con người bình dị, đó là bản tính chân thật của ông không hề dàn cảnh,phô trương và ông luôn luôn rất gần với lính, ông đã có mặt trong bất cứ trận địa nào dù nguy hiểm đến đâu ông cũng đều có mặt để an ủi và uỷ lạo tinh thần chiến đấu của chiến sĩ VNCH.
- Ông là một chiến sĩ đấu tranh cho TỰ DO chống Cộng sản độc tài đảng trị.
- Ông còn là một chiến sĩ cho đấu tranh cho DÂN CHỦ đã có công sáng lập nền đệ nhị Cộng hòa cho miền Nam, xây dựng một thể chế DÂN CHỦ PHÁP TRỊ cho nhân dân miền Nam mặc dù đất nước đang bị chiến tranh xâm lăng dày xéo
-Ông là người cương quyết bảo vệ lãnh thổ với quyết tâm không để một tất đất nào lọt vào tay ngoại bang, điển hình trong vụ hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1năm 1974 với cương vị tổng tư lệnh QLVNCH ông đã chỉ thị cho Hải Quân Vùng I Chiến Thuật dù hoả lực yếu hơn,dù cô thế (không được Đệ Thất Hạm Đội Mỹ hỗ trợ ) tấn công tàu chiến Trung Cộng đã ngang nhiên xâm chiếm Hoàng Sa.Trái ngược lại với hành động đê hèn của Bắc Việt gởi công hàm công nhận Hoàng Sa Trường Sa là của Trung Cộng!
- Và trên hết, Ông là một NHÀ ÁI QUỐC CHÂN CHÍNH đã không ngại hy sinh thân thế và sự nghiệp để đấu tranh cho người dân miền Nam có một nền hòa bình công chính trong Tự do và Dân chủ với chủ trương "Bốn Không". Chính mục tiêu tối hậu nầy mà ông đã sẳn sàng từ bỏ cương vị Tổng Thống để các cường lực chính trị sấp xếp một giài pháp chính trị cho Việt Nam".
Nhận định về cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của Chủ Tich Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn viết năm 2001 như sau :
“ Tôi nhận thấy Ông là một Lãnh tụ chánh trị cẩn trọng, cương nghị, và trên hết, Ông là người yêu nước. Ông ngày đêm lo âu về vận mệnh quốc gia, không ngừng toan tính về sự tranh thắng ngoài chiến trường chống kẻ thù, cũng như trên bàn hội nghị hòa đàm vừa chống kẻ thù và cay nghiệt thay, vừa đối phó với ngay cả đồng minh của mình.”
- Những quốc sách quan trọng của TT Nguyễn Văn Thiệu đã đạt những thành công rực rở:
1-Luật Người Cày Có Ruộng :
Vào năm 1970 TT Đệ Nhị VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành Luật "Người Cày Có Ruộng" qui định ruộng đất không trực canh đương nhiên bị truất hữu và phải được bồi thường thoả đáng theo thời giá. Ruộng đất truất hữu được ưu tiên cấp phát cho tá điền (3 mẫu ở Nam phần và 1 mẫu ở Cao Nguyên và Trung phần). Điền chủ trực canh chỉ được giữ tối đa 15 mẫu. Tuy nhiên, Luật "Người Cầy Có Ruộng" không được phép áp dụng đối với ruộng đất của các tổ chức tôn giáo và ruộng đất hương hỏa gia đình của người dân.
Ở Miền Nam Việt Nam, phương thức sản xuất nông nghiệp kiểu phong kiến đã bị xoá sạch. Những phương pháp canh tác mới có tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng để gia tăng năng suất. Sau khi hoàn tất chương trình Người Cày Có Ruộng trong những năm 1970-1973 nước Việt Nam Cộng Hoà đã có 80 phần trăm tư sản trung nông hoá và thành phần nông dân này là lực lượng chính của sản xuất nông nghiệp ở Miền Nam Việt Nam.Còn lại khoảng 20 phần trăm là phú nông và tư sản trung nông giàu, sở hữu chừng 10 phần trăm ruộng đất canh tác. Số người nông dân giàu có này ngoài việc canh tác số ruộng đất sau khi đã truất hữu còn lại, họ cũng kinh doanh các dịch vụ cơ khí nông nghiệp, lưu thông hàng hoá nông sản phẩm, chế biến thực phẩm nông sản trong một thị trường thương nghiệp nông thôn và lao động nông nghiệp rất tự do. Sau khi nước Việt Nam Cộng Hoà hoàn tất chương trình Người Cày Có Ruộng thì không còn thành phần đại-địa-chủ ở Miền Nam Việt Nam. Trong ba năm 1970-1973, kết quả của chương trình "Người Cày Có Ruộng" là đã chấm dứt chế độ tá canh ở Miền Nam Việt Nam khi tá điền trở thành điền chủ.
Qua hai so sánh vừa kể cho ta thấy chính sách Cải Cách Điền Địa VNCH và CCRĐ cuả CSVN khác nhau ở 1 bên là giết người (phú nông,trung nông ,địa chủ) để cướp đất rồi nói là phát cho dân nghèo (thực tế là sau 2 năm CSVN đưa tất cả ruộng đất vào hợp tác xả nông nghiêp, thì nông dân nghèo cũng chẳng còn sở hữu đất đai gì cả. Còn Miền Nam theo chính sách của TT Nguyễn Văn Thiệu thì ruộng đất của đại địa chủ được chính phủ thu mua giá cả sòng phẳng rồi bán trả góp 12 năm cho nông dân nghèo.Đại địa chủ chỉ đưọc giử tối đa 15 mẩu nếu trực canh ,sau năm 1973 đã chấm dứt nạn "Tá canh " làm thuê ruộng của chủ điên vì nông dân đã được cấp hay bán trả góp.
Sau 1975 đến nay thì sao? Hoàn toàn đất đai là thuộc sở hữu nhà nước, người dân chỉ được quyền "Sử Dụng Ruộng Đất" tức là sổ đỏ .Có thể mua bán số đất của tổ tiên để lại, còn các loại đất đai khác bất cứ lúc nào nhà nước cần trung dụng ,quy hoạch là phải bán với gía do chính quyền địa phương quy định! Một hình thức ăn cướp giửa ban ngày.Vì vậy có hàng ngàn nông dân hiện nay đi khiếu kiện đất ,chuyện xảy ra hàng ngày tại VN mà chính phủ không thể giải quyết nổi,có nông dân khiếu kiện,biểu tình gần 20 năm mà không được giải quyết.
2-Chương Trình Hữu Sản Hoá :
Chương trình nối tiếp từ thời TT Ngô Đình Diệm đến thời TT Nguyễn Văn Thiệu nhằm giúp đở ,cải tiến ngành nghề như xích lô đạp,xe thổ mộ,xe ba gác được mua trả góp xe lam,xe taxi ,biến những người thuê xe kiếm sống trở nên chủ nhân thực sự những phương tiện chuyên chở công cộng, vừa tạo đời sống khá hơn cho người lao động nghèo,vừa cải tiến phương tiện giao thông thô sơ ra phương tiện văn minh hơn.
3-Quốc sách Chiêu hồi :
Có thể nói trong suốt thời gian 10 năm cầm quyền của TT Nguyễn Văn Thiệu thì quốc sách “Chiêu Hồi” đã đạt sự thành công vĩ đại nhất .Chưa có thống kê của 2 năm 1974.1975 nhưng tính từ 1963-1973 đã có trên 200.000 hồi chánh viên trở về với chính nghiã Quốc Gia. Đây là một việc làm có ý nghĩa nhất trong tình Dân Tộc,nghĩa Đồng Bào vì các bạn thử tưởng tượng 200.000 cán binh cộng sản tương với quân số 20 sư đoàn đang cầm súng bắn đồng bào mình nay được kêu gọi bằng tấm lòng nhân ái, trở về với chính nghiã quốc gia và sau đó họ được cho về đoàn tụ với gia đình của họ .
Biểu đồ quốc sách Chiêu Hồi đạt được từ năm 1963 đến đầu năm 1971.
Tem kỹ niệm ngày 18 tháng 2 năm 1973 là ngày đạt được người Hồi Chánh thứ 200.000 (Tương đương với quân số 20 sư đoàn )và giấy thông hành cho cán binh cộng sản muốn về hồi chánh.
Lời kêu gọi đại đoàn kết Dân Tộc nầy là việc làm thiết thực nhất và thành thật nhất vì đã được chứng minh cụ thể bằng lời hứa và việc làm đi đôi với nhau ,những hồi chánh viên không còn bị mặc cảm người đầu hàng mà họ được đối xử như người anh em lạc lỏng nay trở về với đại gia đình Dân Tộc.

Chiêu Hồi là Đại Đoàn Kết Dân Tộc Hình ảnh ngày trở về vui vẻ của những cán binh VC tại Tam Kỳ
Khi trở về với chính nghiả Quốc Gia ,các hồi chánh viên được thoải mái đoàn tụ với gia đình, đi du lịch và còn được học nghề theo nhu cầu của họ.
Các HCV Đi chơi tại Thảo Cầm Viên Saigòn
. Một lớp dạy nghề tại Biên Hoà cho HCV
Những câu nói nổi tiếng cuả Ông Nguyễn Văn Thiệu khi nắm giử chức vụ Tổng Thống VNCH
“ Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm!
Ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản –
Biếm chỉ Cộng sản nằm vùng khủng bố miền Nam Việt Nam trước năm 1975
Công đức ngàn đời con tố mẹ, tình nghĩa trăm năm vợ tố chồng –
Biếm chỉ chính sách đấu tố của Cộng sản
Đất nước còn, còn tất cả; cộng sản thắng, mất tất cả.
Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó.
Sống không có tự do là đã chết. ”
TS Nguyễn Tiến Hưng nói về cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Interview-with-Dr-Nguyen-Tien-Hung-about-the-book-President-Thieu-s-deepest-thoughts-HGiang-05142010111919.html
Hà Giang, thông tín viên RFA
2010-05-14
Ngay dịp đánh dấu 35 năm biến cố 30 tháng tư, một quyển sách mới về Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sẽ được ra mắt vào 1 giờ chiều ngày Chủ Nhật, 16 tháng Năm tại thành phố Westminster, Little Sài Gòn.
AFP PHOTO
Một người đang xem hình ảnh di tản ở Sài Gòn năm 1975 được chụp bởi Hugh Van Es trên tường Câu lạc bộ các phóng viên nước ngoài tại Hồng Kông.
Quyển sách tuy chưa ra mắt nhưng đã được sự chú ý và trông đợi từ nhiều giới, những người quan tâm đến Việt Nam Cộng Hoà, qua những tin tức từ không gian ảo. Tác phẩm mang tên "Tâm Tư Tổng Thống Thiệu" do tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Tổng Trưởng Kế Hoạch của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và cũng là cố vấn Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vào những năm cuối cùng trước biến cố 1975 biên soạn.
Giữa những lời khen chê từ hằng chục năm nay, tác giả trình bày những uẩn khúc trong tâm tư của vị Tổng Thống cuối cùng của VNCH ra sao, và cuốn sách đã được viết trong bối cảnh nào, Hà Giang có cuộc phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng .
Bối cảnh ra đời
Hà Giang: Chào tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu của ông sắp được cho ra mắt vào ngày Chủ Nhật, 16 tháng Năm tới đây, tại Little Sài Gòn. Xin ông cho biết trong bối cảnh nào và lý do nào đã thúc đẩy ông bỏ công soạn cuốn sách rất là công phu này?
Từ năm 2006 cho đến bây giờ, đã có rất nhiều những giải mật mới về phía Hoa Kỳ rất là quan trọng cho lịch sử. Những giải mật mới này, đã soi sáng cho những điều mà chúng tôi viết ở trong cuốn sách mới này về tâm tư tổng thống Thiệu.
TS Nguyễn Tiến Hưng
TS Nguyễn Tiến Hưng: Thưa cô Hà Giang, năm 2005, chúng tôi xuất bản cuốn “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”, và độc giả đã đặt rất nhiều câu hỏi về những diễn biến ở nơi hậu trường trong những năm 73, 74, 75, và tâm tư của ông Thiệu. Đặc biệt nữa, là từ năm 2006 cho đến bây giờ, đã có rất nhiều những giải mật mới về phía Hoa Kỳ rất là quan trọng cho lịch sử. Những giải mật mới này, đã soi sáng cho những điều mà chúng tôi đã viết trước đây, và nó còn soi sáng rõ hơn nữa những điều mà chúng tôi viết ở trong cuốn sách mới này về tâm tư tổng thống Thiệu.
Hà Giang: Trong phần mở đầu của cuốn sách, tiến sĩ có nói rằng, tâm tư của tổng thống Thiệu cũng là tâm tư của riêng ông, và có lẽ là tâm tư của nhiều người Việt Nam khác, xin tiến sĩ nói về cái tâm tư này ạ.
TS Nguyễn Tiến Hưng: Tôi cũng phải xác định là tâm tư của ông ấy thì tôi nghĩ rằng rất là phức tạp về nhiều khía cạnh. Riêng về tâm tư đối với đồng minh thì chúng tôi có thể nói là chúng tôi biết được khá rõ ràng, là vì làm việc gần ông, và sau này được nghe rất nhiều lời tâm sự, sau 75, thì thưa cô tôi có thể tóm tắt đó là một tâm tư rất là trăn trở, rất là ray rứt, vì một phần thì cần đến người đồng minh từ bao gạo cho đến lít xăng, súng đạn v.v…
Đấy, một đàng thì lại rất là trăn trở trong lòng vì những hành động của ngừơi đồng minh ấy. Thì ông (Thiệu) nói là nay thế này, mai thế khác, tín hiệu lẫn lộn, không biết thế nào mà mò. Chúng tôi có viết chương 18, về cái bài phỏng vấn rất dài, của ông với một tờ báo Đức, tên là “Der Spiegel”, trong cái bài đó, tổng thống Thiệu đã nói rất nhiều về cái mà ông gọi là “sự phản bội”, ông ấy bảo là 4 đời tổng thống Hoa Kỳ đã khuyến dụ nhân dân miền Nam đi vào cái khối của thế giới tự do, rồi cuối cùng tháo lui bỏ chạy. Và đặc biệt là có những cái cam kết rất là vững chắc, thân tín rồi cuối cùng cũng lờ đi.
Cái bài đó tựa đề là “Người Mỹ đã phản bội chúng tôi”, chúng tôi có in lại tòan bộ bài đó từ tiếng Đức được dịch ra tiếng Anh, rồi có bút phê của ông (Thiệu) rất là cẩn thận. Nhưng mà đặc biệt có một tâm tư mà chúng tôi nghĩ rằng nó phản ảnh phần nào cho tâm tư của chính cá nhân chúng tôi, và nhiều người trong chúng ta, đó là về phía ông ấy cũng như về phía nhân dân miền Nam thì dù rằng có nhiều khuyết điểm, dù rằng yếu kém, dủ rằng có lỗi lầm, tham những này kia v.v…, nhưng mà cuối cùng thì cũng đã cố gắng hết sức.

Cựu TT Nguyễn Văn Thiệu & cựu TT Lyndon Johnson. Photo courtesy of wikipedia
Hà Giang: Một trong những tranh cãi kéo dài rất lâu là việc mà người ta tưởng rằng tổng thống Thiệu khi ra đi đã mang theo16 tấn vàng cho mục đích cá nhân. Trong cuốn sách của ông, tiến sĩ đã đề cập đến việc này, xin ông tóm tắt cho thính giả của đài Á Châu Tự Do nghe.
TS Nguyễn Tiến Hưng: Phải nói riêng về cái vụ vàng thì ông ây hòan tòan oan uổng. Mặc dầu là chúng tôi cũng đã đề cập đến vấn đề này trong cuốn “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”, và cho tới một tháng trứơc đây, thưa cô, cũng vẫn có người hỏi tôi.
Trong cuốn “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” chúng tôi có để cả một chương viết về việc này. Trong vòng hai ba năm qua đã có những tài liệu rất rõ ràng, đó là những mật điện của đại sứ Martin đánh vào Sài Gòn từ đầu tháng Tư cho đến 17 tháng Tư, đánh liên tục về cái chuyện vàng, thì là câu chuyện nó là như thế này, rất là tóm tắt: Lúc bấy giờ là hết rồi, viện trợ coi như là cạn kiệt có 700 triệu, thế thì, sau cùng ông (Thiệu) bảo là thôi thì bây giờ còn bao nhiêu vàng còn bao nhiêu đô la thì có thể là mang ra để mà ‘xả láng’, ông dùng cái chữ ‘xả láng’ đó.
Thì đầu tiên đó là bàn với lại thống đốc ngân hàng quốc gia là ông thống đốc Uyển bàn với đại sứ Martin thì ông Martin cố vấn là phải mang sang Thụy Sĩ để mà mua tiếp liệu bên đó nó dễ hơn bên Mỹ tại vì bên Mỹ thì bị ràng buộc rất nhiều luật lệ. Thế thì, có cái lệnh cho thống đốc Uyển, mà ông Uyển vừa mới contact làm việc với mấy hãng máy bay, tôi nhớ là TWA, Howard Hughes mà bây giờ không còn nữa, để mà chở cái số vàng 16 tấn đi, thì tin đó bị lộ ra ngoài. Các hãng bảo hiểm, tôi nhớ là Lloyd’s of London, là hãng bảo hiểm lớn, bởi vì khi chở một số vàng lớn như vậy thì phải có bảo hiểm. Những bảo hiểm lớn như vậy người ta bán insurance policy, thì hãng bảo hiểm đó co vòi lại, rút lại không bán bảo hiểm, thế là số vàng khựng lại. Báo chí Sài Gòn lúc ấy hình như có đăng tin, hay là có rumor rất mạnh là lúc ấy ông Thiệu đang chở vàng đi, thì thưa cô lúc bấy giờ ai cũng phủi tay hết, nhưng mà ông ấy cứ cương quyết, thống đốc Uyển vẫn cứ liên lạc với đại sứ Martin, thì đại sứ Martin sau cùng đã liên lạc với bộ quốc phòng Hoa Kỳ.
Trong cuốn sách này chúng tôi viết, in lại những mật điện nguyên thủy đó để làm bằng chứng cho lịch sử. Và mới đây thì chúng tôi được biết là báo Tuổi Trẻ của Sài Gòn có một bài rõ ràng của anh Hủynh Đỗ Sơn. Anh Hủynh Đỗ Sơn là người làm việc coi về kho vàng của ngân hàng quốc gia trước 75. Anh ấy viết lại rất rõ ràng việc chuyển nhượng lại số vàng tính từng ly từng lượng và anh ấy ghi rõ con số nào số mấy, hai hầm vàng, mười sáu tấn vàng để ở đâu, ở đâu. Thưa cô thì cái đó là rất rõ ràng, và bây giờ tôi nghĩ là sau cuốn sách này, thì chuyện vàng hòan tòan được giải tỏa đối với ông Thiệu, thưa cô.
Phơi bày nhiều uẩn khúc
Hà Giang: Vâng, thưa tiến sĩ, thế còn cái câu “I have nothing to do with the Vietnamese refugees”, có nghĩa là “tôi không dính dáng gì đến mấy người tị nạn Việt Nam cả, mà người ta cho rằng tổng thống Thiệu đã nói, thì đầu đuôi nó ra làm sao ạ?
TS Nguyễn Tiến Hưng: Thưa cô Hà Giang, tôi viết ngay ở trong phần đầu về cái chuyện này. Tôi nghĩ rằng đây là chuyện làm cho ông ấy đau đớn nhất, có thể nói là đau đớn nhất, đứng về phương diện cá nhân. Từ sau 1975, thưa cô. Chuyện tóm tắt thì nó như thế này. Khoảng cuối năm 79, tháng Mười, thì có những tờ báo của chúng ta, có đăng tải trang đầu rằng ông Thiệu nói cái câu là “tôi không còn cái gì mà mắc mớ đến vấn đề thuyền nhân nữa”, mà đang khi đó thì phong trào thuyền nhân đang là lên rất cao, mọi người đang cố gắng hết sức để mà lo cái chuyện này. Hai hôm sau thì tôi nhận lá thư của ông.
Chính ông kể lại chuyện nó như thế nào? Tức là ông ấy nói rằng, có một cái thằng, ông ấy gọi là cái thằng. Ông tức ai ông hay nói thằng lắm. Thì cái thằng Michael Dunlop thuộc tờ báo NOW, now là bây giờ, ông bảo ông cho phỏng vấn rất là vắn. Vấn đề kẹt là chữ “for” và chữ “with”, thì ông Thiệu nói rằng, khi họ hỏi ông rằng, ông có thể làm được cái gì, đối với vấn đề thuyền nhân hay không, thì ý ông muốn nói là, bây giờ tôi không còn quyền hành gì nữa, không còn phương tiện gì đề mà làm được bất cứ cái gì đối với vấn đề này.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quan sát bản đồ Đông Á. Photo courtesy of wikipedia
Thì nếu mà ông muốn nói như vậy thì phải nói là “I have nothing to do for them”, theo ông nhà báo, thì ông Thiệu nói là “I have nothing to do with them”. Chỉ có mỗi một chữ “for” với chữ “with”, mà nó thay đổi hẳn cái ý nghĩa, thưa cô. Ông đau đớn lắm. Đó là lần đầu tiên, và duy nhất trong cụôc đời, tự tay ông viết một cái thư để mà tự cải chính với Editor-in-Chief của báo NOW, và thư đó ông yêu cầu tôi rất rõ ràng, là vấn đề nó như vậy, thì anh tìm cách nào mà clear up, cải chính dùm tôi.
Hà Giang: Trong cuốn sách của tiến sĩ, có một chương nói hẳn về tính đa nghi của tổng thống Thiệu, nhưng cũng lại có một chương khác lại nói là ông Thiệu quá tin vào người Mỹ. Một người rất là đa nghi thì có thể quá tin vào ai được không ạ? Đó có phải là một điều mâu thuẫn không thưa tiến sĩ?
TS Nguyễn Tiến Hưng: Vâng thì, nếu mà mình đặt câu hỏi như vậy, một cái chương có tựa đề là “Đa nghi Tào Tháo”, thì kể lại những cái chuyện ông chỉ cho tôi cách mà đa nghi nữa cơ. Ông bảo vậy. Ông bảo anh phải cẩn thận từ cái chấm, cái phẩy anh cũng phải, thật ra ông chỉ cho mình đa nghi. Nhưng còn cái chuyện tin vào Mỹ thì tôi nghĩ rằng ông ấy vẫn nghi Mỹ, chuyện ấy ông cũng nói rất dài trong tâm tư của ông mà chúng tôi đã viết lại.
Hà Giang: Nhiều người đã đổ lỗi cho tổng thống Thiệu là chính ông đã làm mất Việt Nam, và lên án ông là đã rời đất nứơc ra đi khi quân sĩ vẫn còn đang ở lại chiến đấu. Theo tiến sĩ thì những suy nghĩ này có quá khe khắt với tổng thống Thiệu không?
TS Nguyễn Tiến Hưng: Cái vấn đề mất Việt Nam nó có nhiều khía cạnh lắm, nó là một câu hỏi lớn. Tôi nghĩ rằng có rất nhiều dữ kiện nó đưa đến vấn đề sụp đổ của miền Nam. Tôi nghĩ rằng một mình ông Thiệu cũng không phải là người có khả năng để mất Việt Nam. Nhưng mà tôi nghĩ rằng hòan cảnh của ông ấy rất là khó khăn trong lúc đó là vì, cuối cùng thì cạn kiệt hết miền Nam, dựa vào Hoa Kỳ quá nhiều, đến lúc mà cắt cái umbilical cord thì coi như là mình không còn cái khả năng tồn tại nữa.
Dư luận nói rằng là ông đã bỏ chạy, đào ngũ, thì thưa cô, trong cuốn sách này, chúng tôi đã viết rất rõ ràng, là ông đã bị áp lực từ chức. Áp lực rất mạnh mẽ, tiến sĩ Kissinger qua đại sứ, bằng cách nói với ông rằng, ông mà không từ chức, thì cơ hội cuối cùng cho miền Nam là không còn nữa, tức là đặt vào vai ông một trọng trách vô cùng nặng nề.
Điều thứ hai là ông không từ chức thì tướng lãnh của ông cũng bắt ông từ chức, thì cô nghĩ là hai còn đừơng đó thì không còn cách nào nữa. Nhưng mà ông vẫn vớt vát vẫn vớt vát, ông hỏi: “Ừ thì tôi từ chức, nhưng mà tôi từ chức thì có viện trợ không? Đại sứ Martin nói là nếu mà ngài từ chức, có thể có, có thể không, nhưng mà nếu ngài không từ chức, thì chắc chắn là không. Thì thưa cô, thì cái đó là cái áp lực. Đó là áp lực từ chức. Rồi áp lực ra đi nữa. Kỳ thực ra là ông ấy phải ra khỏi miền Nam thưa cô. Thì tôi có nghe bà tổng thống Thiệu kể lại là thì thôi mẹ con mày đi đi, tao ở lại, tao mặc cái quần đùi.
Kể lại chuyện áp lực thì có những tài liệu đại sứ Martin mới tiết lộ, chúng tôi mới có ở trong cuốn sách này, thì cái áp lực ông phải ra đi cũng rất nặng nề, tại về phía Mỹ, cũng như phía Pháp, cũng như là tổng thống Hương mới lên, hay là tướng Dương Văn Minh, đều làm áp lực cho ông ấy phải ra đi, tại vì nếu ông ấy không ra đi thì mặt trận không chịu điều đình.
Hà Giang: Cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã dành thì giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này.
-Nguyễn Văn Thiệu Thứ năm, ngày 03 tháng sáu năm 2010
Bí mật chung quanh hồ sơ "Nixon-Thiệu"
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/06/100601_nixon_thieu_dossier.shtml
Xuân Hồng
BBCVietnamese.com

GS Nguyễn Tiến Hưng ra mắt cuốn " Tâm Tư Tổng Thống Thiệu" tại California
Tác giả cuốn sách mới về "Tâm Tư Tổng Thống Thiệu" nói với BBC rằng một trong những hồ sơ quan trọng liên quan cuộc chiến Việt Nam vẫn chưa được giải mật.
Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Bộ Trưởng Kế Hoạch của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nhắc đến cái gọi là hồ sơ "Nixon-Thiệu" chứa các tài liệu và thư từ giữa Tòa Bạch Ốc và Dinh Độc Lập từ năm 1971.
Ông Hưng, người được chỉ định đi cầu viện vào giờ chót, nói rằng vào ngày 23 tháng Ba năm 1975, nói ông Thiệu có cho ông xem hồ sơ này trong đó có hai bức thư của TT Nixon mà ông đã yêu cầu TT Thiệu gởi cho người kế nhiệm của TT Nixon là TT Ford qua trung gian của Tướng Frederick Weyand, cựu Tư Lệnh Quân Đội Mỹ, lúc đó là Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ.
Trong cuốn sách "Tâm Tư Tổng Thống Thiệu" mới được xuất bản, GS Hưng nói "Điểm trớ trêu là thư của TT Nixon mà TT Ford không biết gì."
Vào ngày 5 tháng Tư năm 1975, đích thân Tướng Weyand đã đưa cho TT Ford xem hai bức thư đó chỉ 5 phút trước khi TS Kissinger đến cùng họp. Ngày 30 tháng Tư, TS Hưng tiết lộ hai thư này trong một cuộc họp báo tại Khách sạn Mayflower ở Washington để đặt trách nhiệm bội ước và yêu cầu Hoa Kỳ đền bù lại bằng cách cứu vớt và cho định cư một triệu người Việt Nam.
Sau đó Quốc Hội Mỹ, theo GS Hưng, đã phản ứng "tại sao Hành Pháp Mỹ không cho Lập Pháp biết hồ sơ Nixon-Thiệu," đặc biệt là các nghị sĩ chủ trương cắt viện trợ cho VNCH như Henry Jackson, Frank Church, Ted Kennedy, Mike Mansfield...
Ngay chủ tịch của Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện Hoa Kỳ lúc đó là ông John Sparkman đã viết thư yêu cầu TT Ford cho xem hồ sơ "Nixon - Thiệu" nhưng TT Ford viện dẫn quyền đặc biệt của người đứng đầu hành pháp, đã từ chối. Rồi từ đó chính phủ Mỹ "đã ém nhẹm" toàn bộ hồ sơ này.
Năm 1978, ông Ronald Nesson, tùy viên báo chí của TT Ford, có viết một cuốn hồi ký trong đó ông tiết lộ rằng ông được lệnh cấp trên đi tìm hồ sơ "Nixon-Thiệu" trong Tòa Bạch Ốc, và tìm được vỏn vẹn chỉ có "bảy cái thư ".
GS Nguyễn Tiến Hưng nói có tổng cộng 27 văn thư trong hồ sơ này, nhiều hơn số thư mà ông Ronald Nesson đã tiết lộ trong cuốn hồi ký.
Theo GS Nguyễn Tiến Hưng, hầu như tất cả các hồ sơ về cuộc chiến Việt Nam nay đã được giải mật, trừ hồ sơ "Nixon-Thiệu" mà cho tới hôm nay vẫn còn nằm trong vòng bí mật.
Tại sao ông Thiệu không lên tiếng?
Tác giả Nguyễn Tiến Hưng không tin rằng người Mỹ đã bảo cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không được nói gì về liên hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa từ khi gia đình ông dọn sang Mỹ năm 1985 tới khi ông từ trần năm 2001. Là một người tâm sự thân tín của ông Thiệu trên bước đường sống lưu vong, GS Hưng nói rằng " tôi không tin là khi dọn sang Mỹ, ông Thiệu đã bị áp lực nào bắt phải yên lặng vì đó là thời của tổng Thống Reagan và ông Reagan rất ưu ái Tổng Thống Thiệu. Có lẽ vì phần nào của sự ưu ái đó mà ông Thiệu dọn nhà sang Hoa Kỳ sống."
Nghe/xem bằng Real Player hoặc Windows Media Player
Ông Thiệu đã tâm sự với ông Hưng rằng "khi vừa đến Đài Loan vào ngày 25 tháng Tư năm 1975, phái đoàn tùy tùng đã bị nhân viên Mỹ khám xét hết hành lý và tịch thu hết giấy tờ vì họ chỉ sợ hồ sơ Thiệu-Nixon lọt ra ngoài".
Ông Hưng thuật tiếp lời ông Thiệu: "Còn chuyện cái cặp bị đánh cắp nữa, vì họ tưởng rằng hồ sơ để trong đó, chứ không phải là để lục xét tiền."
Tuy nhiên, ông Hưng nói: "Phía ông Kissinger và đảng Cộng Hòa muốn giấu hồ sơ đó đi, cho nên có thể họ đã yêu cầu TT Thiệu giữ im lặng."
Theo GS Hưng, ông Thiệu không muốn viết hồi ký vì "sau khi tôi làm lãnh đạo của miền nam gần 10 năm, tôi biết quá nhiều chuyện, và khi tôi nói cái hay thì tôi cũng phải nói cái dở nữa."
Ông Thiệu được cho là đã nói: "Người Mỹ đã phản bội mình rồi, cho nên mình cũng không nên vạch áo cho người xem lưng, và tôi chẳng cần để ý tới dư luận Mỹ nữa." Theo giáo sư Hưng đó là lý do chính tại sao ông Thiệu không muốn viết hồi ký.
Trước đây khi được GS Hưng yêu cầu nói rõ về vụ 16 tấn vàng, ông Thiệu nói: "Tôi đã làm hết sức mình rồi cho nên dù có nói ra, thì người đời sẽ nói rằng tôi cố tình chạy tội mà thôi."
Tăng quân là để rút lui?
GS Nguyễn Tiến Hưng cho biết trong những lần đàm luận tại Luân Đôn, ông Nguyễn Văn Thiệu đã cho rằng Tổng Thống Mỹ Johnson, một người được cho là lập trường diều hâu, "đem quân vào Việt Nam là để thương lượng ở thế mạnh."
Vào đầu năm 1964, khi ông Johnson lên thay cho TT Kennedy bị ám sát, chính phủ Mỹ đã cho bộ trưởng McNamara sang Việt Nam hứa đủ điều, rồi đề nghị 12 biện pháp rất mạnh trong đó, yêu cầu chính phủ Việt Nam đặt Miền Nam vào thế chiến tranh bằng một lệnh tổng động viên để "mưu cầu một nước Việt Nam không cộng sản".
Sau đó, Mỹ tăng quân viện cho miền Nam Việt Nam và đồng thời mở ra các chiến dịch như là Mũi Tên Lên vào tháng Tám cùng năm, rồi đến chiến dịch Phi Tiêu Lửa oanh tạc miền Bắc rất dữ dội.
Đến tháng Ba năm 1965, quân đội Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng và bước tháng Tư, Tổng Thống Johnson tuyên bố sẽ ở lại miền Nam "bao nhiêu lâu còn cần thiết, với bất cứ sức mạnh nào còn cần thiết, với bất cứ nguy hiểm nào, phí tổn nào" như Tổng Thống Kennedy đã nói "We shall bear any burden" khi nhậm chức.
Tháng Sáu năm 1965, TT Johnson đã gởi vị tướng kinh nghiệm nhất của quân đội Mỹ là tướng Westmoreland đến Việt Nam để chỉ huy quân đội và một tháng sau, đã bổ nhiệm một vị tướng khác là Maxwell Taylor làm đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, ông Thiệu lên làm Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia vào tháng Sáu năm 1965.
Theo GS Hưng, ông Thiệu và các tướng lãnh đều thấy rằng Mỹ quyết chiến và quyết thắng tại miền nam Việt Nam.
Nhưng chẳng mấy chốc sau đó, Bộ Trưởng McNamara lại rỉ tai ông Thiệu và nói là phải tổ chức bầu cử tổng thống và bầu cử quốc hội cho sớm để còn điều đình với Mặt Trận giải Phóng Miền Nam.
Mãi sau này với thời gian, ông Thiệu mới chiêm nghiệm câu "đem quân vào để điều đình ở thế mạnh," và "đem quân vào là để rút quân đi."
Không kết quả
Trong số này, có bức thư của TT Johnson gởi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày Tám tháng Hai năm 1967 trong đó, Hoa Kỳ mong muốn đi đến một giải pháp hòa bình, nhưng không hiểu vì một lý do nào đó, các nỗ lực mưu tìm hòa bình không đi đến một kết quả nào.
Nghe/xem bằng Real Player hoặc Windows Media Player
Một tuần lễ sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đáp lại một bức thư nói rằng "nếu như Ngài muốn đàm phán trực tiếp với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thì phía Hoa Kỳ phải ngưng ngay các vụ oanh tạc vô điều kiện".
Hai bức thư này được lưu lại trong hồ sơ của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam gồm tổng cộng 12 tập, cho thấy phía Hoa Kỳ từ năm 1965 đã 26 lần tìm cách bắt liên lạc với chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa qua nhiều ngả khác nhau để điều đình hòa bình.
Nay với thời gian, GS Hưng nói rằng có thể là vì một "vấn đề nhận thức" gây ra bởi các "tín hiệu trái ngược nhau" mà 26 lần tìm cách bắt liên lạc này, không đi đến một kết quả nào. Thí dụ như cũng có thể là Mỹ đề nghị điều đình ngày hôm trước thì hôm sau lại oanh kích Bắc Việt còn mạnh hơn hôm trước.
Theo GS, có thể vì các tín hiệu trái ngược nhau mà cuộc chiến cứ leo thang.
Cuộc chiến 'ủy nhiệm'
Trước khi đắc cử tổng thống Mỹ, ông Nixon đã từng nói cuộc chiến tại Việt Nam không phải là cuộc chiến giữa hai miền nam bắc Việt Nam, hay là giữa Hoa Kỳ và Cộng Sản Việt Nam, mà thực sự ra là một cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Theo GS Hưng thì TS Kissinger và TT Nixon cho rằng tất cả những sự thành công của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã giúp cho chiến lược của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc.
GS Hưng nói rằng theo như sự suy nghĩ của hai người này thì "cũng vì sự cứng rắn của Hoa Kỳ - mang nửa triệu quân tới Việt Nam rồi xúc tiến chương trình Việt Nam hóa cuộc chiến - mà đã thuyết phục Trung Quốc mở cửa bang giao với Hoa Kỳ."
-Nhận định của TT Nguyễn Văn Thiệu về cuộc chiến 1945-1975 :
Cuộc chiến tại Miền Nam VN là một cuộc chiến tự vệ,do phiá CSBV chủ mưu tấn công Miền Nam.Trả lời phỏng vấn của đài phát thanh BBC trước khi ký hiệp định ngưng bắn 1973, ông đã nói :
“Tôi nghĩ rằng tự do và một cuộc sống tốt đẹp hơn của 17 triệu rưởi dân chúng ở miền Nam Việt Nam không những cho thế hệ này mà còn cho thế hệ mai sau. Tôi nghĩ rằng đó là cái giá mà dân chúng miền nam Việt Nam đã trả. Không một ai thích chiến tranh. Bản thân tôi cũng không thích chiến tranh. Có người nói với tôi rằng họ chống chiến tranh, và tôi cũng nói họ rằng tôi cũng chống chiến tranh”.
Ông tin tưởng vào Tự Do ,Dân Chủ,vào chính nghiả Quốc Gia: “Tôi nghĩ rằng khi dân chúng tại miền nam Việt Nam có thể tự do phát biểu một cách dân chủ mà không sợ bị cộng sản cắt cổ chặt đầu, thì tôi có thể bảo đảm với ông rằng toàn thể dân chúng ở miền nam Việt Nam đều chọn tự do. ”
-Qua quốc sách Chiêu Hồi do ông thực hiện và đạt thành công vẻ vang ,ta thấy ông có tấm lòng nhân ái ,không muốn nhìn thấy canh chiến tranh giết chóc gìửa người Việt với nhau,nên đã dùng đường lối Chiêu Hồi mở 1 sinh lộ cho những cán binh Việt Cộng lầm đường lạc lối trở về với chính nghiả Quốc Gia chấm dứt cảnh nồi da xáo thịt.
- Trong những ngày biến động trước 30 tháng tư 1975 dù có những âm mưu ám sát,đe dọa từ phiá Đồng Minh, đe dọa từ phiá các tướng lãnh đối lập, áp lực quân sự ngày càng gia tăng của CSVN nhưng ông Nguyễn Văn Thiệu vẫn bình tỉnh để phản công Cộng sản mặc dù ngân sách viện trợ của đồng minh suy giảm trầm trọng so với sự chi viện ồ ạt từ phiá Cộng sản Quốc Tế. Ông đã giử đúng cương vị của một tổng thống,bảo vệ quyền lợi và thanh danh của Việt Nam Cộng Hoà ,sau cùng trong tình thế hiển nhiên không còn hy vọng gì cứu vớt VNCH thì ông mới chấp nhận ra đi chính thức sau khi bàn giao chức vụ cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương.
Đại đa số người dân Miền Nam ,sau nầy qua các tài liệu giải mật của thế giới đã thông cảm những nỗi khó khăn ,nguy nan mà ông phải gánh chịu trước một đất nước đã lầm khi hợp tác với một đồng minh phản trắc . Ông không thể làm gì khác hơn,không có lựa chọn nào khác hơn .Số phận một nước nhược tiểu không thể tự mình đứng ra chống lại làn sóng đỏ của tập đoàn Cộng Sản Quốc Tế.
@Tác Giả gởi bài đến Ban Biên Tập
@Diễn Đàn Người Dân Việt Nam
-Moi xem những bài:Cuộc Chiến Việt Nam 1945-1975...1 - 2 - 3 -4
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|




