DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Tưởng niệm Cụ Trần Văn Hương nhân sĩ suốt đời giữ tiết tháo_OVV

E-mail Print

                                          tongthongtranvanhuong

“Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân nầy. Dầu gì tôi cũng đã là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp, chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi, mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân. Chẳng lý gì, tôi là người trách nhiệm, lại được trả quyền công dân trước…” (Lời cựu Tổng Thống Trần Văn Hương trả lời một cán bộ CS, khi họ đến nhà định làm lễ, quay phim “trả quyền công dân cho ông”).

Hàng năm, cứ đến ngày oan trái 30 – 4, tôi lại bâng khuâng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì nước. Làm tướng giữ thành, thành mất, tuẫn tiết theo thành, ngày xưa có Tổng đốc Hoàng Diệu (1828 – 1882), Tổng đốc Nguyễn Tri Phương (1800 – 1873)… Ngày nay có Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Thiếu tá quận trưởng Bồng Sơn Hoàng Lê Cương (1972) và hàng trăm ngàn chiến sĩ vô danh khác, đã tự sát để giữ tròn khí tiết, không để lọt vào tay kẻ thù làm nhục. Họ nêu những gương hy sinh cao quý, tiết liệt, lịch sử ghi nhớ muôn đời.

Hai mươi năm chiến tranh, một cuộc chiến tranh vệ quốc sáng ngời chính nghĩa quân dân miền Nam đã hy sinh hàng triệu người, chỉ vì muốn bảo vệ một lý tưởng “Ðộc lập, tự dỏ và không muốn đất nước rơi vào tay CS. Nhưng cuối cùng phải thất bại trong nỗi uất hận, nghẹn ngào.

Năm nay, nhân ngày tang tóc đau thương của toàn thể dân tộc Việt Nam, chúng tôi muốn nhắc lại với thế hệ mới lớn lên, về những cái chết oai hùng. Trong phạm vi bài nầy, chúng tôi kể lại những ngày sau cùng của một chính khách thanh liêm, cương trực, suốt đời giữ được tiết tháo và lòng yêu nước: người đó là cụ Trần Văn Hương, hai lần làm đô trưởng Sàigòn, hai lần làm thủ tướng và Phó Tổng Thống, và cuối cùng là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa chỉ được 3 ngày. Cụ Hương mất đi không một lời cáo phó. Cụ mất, nhưng gương hi sinh và thái độ sống của người quân tử mà cụ nêu gương không bao giờ mất.

Tuy là người đồng hương, vì nhà tôi ở chỉ cách nhà người chị ruột của cụ Trần Văn Hương chừng 300 mét, trên đường Văn Thánh (tức Văn Thánh miếu thờ Ðức Khổng Tử và cụ Phan Thanh Giản) tại Vĩnh Long. Là thế hệ sau, thuộc hàng con cháu, nên tôi không được quen biết với cụ.

Tháng Hai năm 1975, tôi là thành viên của một phái đoàn vận động thành lập Viện Ðại học Long Hồ cho 3 tỉnh Vĩnh Long Kiến Phong và Vĩnh Bình, có đến tư thất của cụ ở đường Phan Thanh Giản Sàigòn, để yết kiến và xin cụ giúp đợ Tháng 3 năm 1975, cụ với tư cách là Phó Tổng Thống, có đến tại hội trường thuộc trường Sư Phạm (cao đẳng) Vĩnh Long, để chứng kiến lễ chấp nhận thành lập Viện Ðại Học Long Hồ, do Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Ngô Khắc Tỉnh ký trước mặt cụ.

                                                                                                                                                                                                                                                                                                            TTtranvanHuong

                                       Thủ tướng Trần Văn Hương trình diện Nội các với Quốc trưởng Phan Khắc Sửu

Cụ Trần Văn Hương sinh năm 1904 tại làng Long Châu, nay thuộc quận Châu Thành Vĩnh Long, trong một gia đình nghèo. Nhờ học giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư Phạm…

Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ về dạy tại trường Le Myrle de Vilers Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ mà ông đãtheo học mấy năm trước. Thời gian từ năm 1943 – 1945, ông Hương là giáo sư dạy môn văn chương và luân lý tại trường nầy. Sau đó ông Hương được đổi lên làm Ðốc học tỉnh Tây Ninh.
Năm 1945, Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền khắp 3 kỳ, nhóm Việt Minh mới của Trần Văn Giàu (chủ tịch Ủy ban hành chánh Nam bộ) cử cụ làm chủ tịch Ủy ban hành chánh tỉnh Tây Ninh. Làm việc với Việt Minh được mấy tháng, thấy họ không thành thật, và theo con đường bá đạo, nên ông Hương từ chức. Tuy vậy cụ vẫn còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến.

Khi thấy bộ mặt thật của Việt Minh là CS, tìm cách khủng bố, ám sát thủ tiêu những người yêu nước có tinh thần quốc gia, cụ bỏ về thành. Ban đầu cụ bán thuốc tây cho nhà thuốc của dược sĩ Trần Kim Quan (Pharmacy Kim Quan) ở góc đường Lê Lợi và chợ Bến Thành bây giờ).

Theo tài liệu của tình báo Mỹ, ông Hương có hai người con: Trần Văn Dinh và Trần Văn Doi (Giỏỉ). Hồi còn theo học trường “College de Can Thơ” kháng chiến nổi lên, Doi bỏ học theo kháng chiến. Khi phái đoàn Hồ Chí Minh qua Pháp cùng một lúc với hội nghị Fontainebleau trở về tới Vũng Tàu, ông Doi theo xuống tàu ra Bắc. Từ đó hai cha con không bao giờ gặp nhau nữa. Ông Huỳnh Văn Lang, cựu Tổng giám đốc Viện Hối Ðoái dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho biết “Ông Trần Văn Giỏi (không phải Dõi) ở tại Sàigòn, bên cạnh ông Hương như một người cố vấn.”

Năm 1964, ông Hương làm Thủ tướng chính phủ, tình báo Mỹ có đem lại một hồ sơ cho biết cụ có người con theo CS. Cụ Hương thẳng thắn nhìn nhận và cho biết từ đó cho đến nay, cụ không còn liên lạc gì với người con đó hết. Khi cụ tham chính, thì nguòi con lớn là Trần Văn Doi ở kế cận đóng vai người cố vấn thân tín.
Tháng 7 – 1967, ông cùng với ông Mai Thọ Truyền, ra ứng cử chức Tổng Thống chỉ được 10% số phiếu, về hạng tư. Tháng 5 – 1986, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mời làm Thủ Tướng, thay thế Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc. Trong nhiệm kỳ Tổng Thống 1971 – 75, ông Trần Văn Hương làm phó tổng thống, và khi ông Thiệu từ chức tổng thống giữa lúc tình thế đất nước lâm nguy,ông Hương được đôn lên làm tổng thống dùng theo hiếp pháp.

Các chi tiết về cuộc đời của cụ Trần Văn Hương trong những ngày tháng cuối cùng, được bà Phan Cẩm Anh cùng chồng là bác sĩ, người có dịp gần gũi với cụ Hương kể lại. Tôi được phép chỉ để trích một phần lớn trong bài ấy: “Hương trà năm cũ” trong bài viết để đồng bào, đồng hương có dịp biết thêm về nhiều chi tiết cảm động của một kẻ sĩ thế hệ cũ còn sốt lại.

Kính xin anh chị Phan Cẩm Anh thể nhận nơi đây lòng biết ơn của tác giả.

                              youngtranvanhuong
“… Nhiều năm trước, khi tôi học trung học, một buổi tối sau khi dùng cơm, chị tôi dẫn tôi đến phủ “cây tùng” để thăm Mai Hương, một người bạn cùng “khóa I Nữ quân nhân” của chị, bây giờ vừa lập gia đình với đại úy Phan Hữu Chương, cháu ruột cụ Trần Văn Hương. Ba chị em đứng trò chuyện dưới táng cây của phủ phó tổng thống. Thình lình, cụ Hương từ trong nhà bước ra, nhìn về phía chúng tôi, gật đầu, rồi đưa tay ra hiệu bảo Mai Hương theo cụ vào trong phủ. Khi trở ra, Mai Hương lè lưỡi nói với chị tôi:

– Ông cụ vừa mới la.
– La về chuyện gì vậy?
– Ông cụ nói: “Sao không mời bạn bè vào phòng khách nói chuyện đàng hoàng mà để bạn đứng dưới gốc cây. Ông cụ nói tiếp: “Tiếp bạn đến chơi như vậy là không trọng bạn chút nào hết.”

Ðó lần đầu tiên tôi thấy cụ Hương, nhưng nghe thuật lại những lời cụ trách, lòng tôi tự nhiên nhen nhúm một cảm tình đầy quý trọng. Sau đó, tôi có dịp trở lại phủ phó tổng thống vài lần lúc Mai Hương sắp vào nhà bảo sanh. Vì lẽ phu quân Mai Hương bận công vụ, nên Mai Hương cho tài xế đến nhờ tôi và em gái tôi giúp đưa Mai Hương vô bịnh viện. Tất cả những lần đó, tôi chẳng có dịp nào giáp mặt cụ Hương.

Thời gian trôi qua, miền Nam sụp đổ, Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng. Ngay buổi sáng sớm ngày đầu mất nước, tại ngôi biệt thự cũ kỹ nằm khuất trong ngõ hẻm ngăn đường Phan Thanh Giản, thân nhân sống trong biệt thự này đã đau đớn đem đặt giữa nhà hai xác người cùng nhau tìm cái chết. Họ vừa chia nhau ống thuốc ngủ đêm qua. Ðó là đại úy Phan Hữu Chương và vợ là cựu trung úy Trần Mai Hương. Họ để lại vỏn vẹn vài lời trăng trối “xin nhờ lòng tha thứ của cụ Hương và gia đình vì không thể sống khi đất nước rơi vào tay kẻ thù.” Ðôi vợ chồng trẻ gởi gắm lại ba đứa con trai còn thơ dại, nhờ ông bà nội (em rể cụ Hương) dưỡng nuôi.

Cũng trong ngôi biệt thự bao phủ một bầu không khí ảm đạm và im lìm đó, nơi một căn phòng khác trên lầu, cụ Hương đóng cửa, im lặng, trầm mình trong nỗi đau khổ của một người đãtừng lãnh đạo đất nước, bây giờ đành tâm chứng kiến giờ phút suy vong, cảnh nhà tang chế. Nỗi đau khổ của cụ ở mức độ nào, chẳng ai trong nhà được cụ hé môi thổ lộ.

Nhưng ý định cùng chồng đi tìm cái chết của Mai Hương, không được toại nguyện bởi lẽ một người cháu đem Mai Hương đi cấp cứu. Sự sống của Mai Hương đãđược các bác sĩ giành giựt lại từ đường tơ kẻ tóc. Nhờ đó Mai Hương trở thành một chiếc cầu để tôi có cơ hội biết thêm chút ít về cụ Trần Văn Hương trong những ngày cuối cùng của cụ.

Nhiều lần Mai Hương dẫn tôi về lại ngôi biệt thự trên để thăm các con của Mai Hương, hiện đang sống nương nhờ vào ông bà nội. Tôi đãchứng kiến cảnh sống đạm bạc, nếu không muốn nói là thiếu thốn, túng quẩn của gia đình cụ Hương.

Cụ Hương luôn luôn sống lặng lẽ một mình trong căn phòng nhỏ ở trên lầu.ăn phòng bày trí thật sơ sài, chẳng có món đồ nào được coi là sang trọng. Ngoài chiếc giường nệm cụ nằm, đồ vật còn lại là hai chiếc ghế bành, một cái tủ đựng quần áo đãcũ, một chiếc bàn con trên đó cụ để một tượng Phật Di Lạc. Căn phòng có một cửa ăn thông ra sân thượng. Hầu cận, săn sóc cụ là người em rể của cụ mà tôi gọi theo như Mai Hương là Dượng.

Phía dưới lầu là các gian nhà trệt nhỏ, nằm dọc theo bức tường phía trong của khuôn viên biệt thự, có lẽ trước kia là nhà kho, bây giờ trở thành nơi tá túc qua ngày cho các thân nhân gồm các em và cháu của cụ, vì phải gặp cảnh khó khăn dưới quê, tìm về Sàigòn nương náu trong ngôi biệt thự cũ nát mà tổng thống Thiệu đã cấp từ thời trước.

Ngôi biệt thự nầy, trước khi cấp cho cụ Hương, tổng thống Thiệu đã chỉ thị phải sửa chửa, chỉnh trang lại đàng hoàng, nhưng cụ từ chối viện lẽ cụ già rồi, không làm việc gì ích nước lợi dân được nữa, nên không muốn làm hao tốn công qũy. Do đó, đến khi CS vào, ngôi biệt thự trên chẳng phải là mồi ngon cho cán bộ của họ tranh nhau giành giật chiếm đoạt như các ngôi biệt thự xinh xắn khác. Tường biệt thự nhiều nơi nứt nẻ, nền nhà nhiều chỗ vở bung lên, màu vôi trải qua nhiều năm tháng vàng ố không được trùng tu, sơn quét.

Hình ảnh cụ lúc nầy như một con chim đại bàng sa cơ, gãy cánh mà vẫn cố giương đôi cánh mang thương tích của mình để bảo bọc chim non. Tôi được nghe kể lại cứ mỗi lần người nhà bưng cơm lên lầu cho cụ, phần cơm rất đạm bạc, lâu lâu mới có chút cá thịt, thân nhân muốn nhường cho cụ để bổ dưỡng, cụ hỏi xem mọi người trong nhà có được ăn như cụ vậy không. Mặc dầu người nhà thường trả lời “có” cho cụ an tâm, nhưng cụ vẫn hiểu sự thật của chữ “có” nên thường cụ để dành lại thức ăn ngon trên mâm, hầu đem xuống nhà cho con cháu.

Có những lần tôi theo Mai Hương đến thăm ông bà nội các con Mai Hương, lúc trở về, ra tới cánh cổng, tôi quay đầu nhìn lên sân thượng thấy cụ Hương, ngồi yên lặng trên đó. Mình cụ để trần, mái tóc bạc trắng, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước không hề di động… Tôi thấy cụ Hương ngồi trên sân thượng như vậy nhiều lần, và những lần như vậy, trên đường đạp xe về nhà, hình ảnh già nua, im lặng và cô độc của cụ cứ lẩn quẩn mãi trong đầu óc tôi.

Một hôm, có lẽ cũng vào dịp gần Tết, Mai Hương đưa một củ sâm Ðài Loan và nói với tôi:

– Bà nội sắp nhỏ biểu chị đem củ sâm nầy đi bán. Ðó là củ sâm người ta tặng cho ông cụ từ lúc ông cụ sang Ðài Loan, còn cất giữ mãi đến bây giờ. Ông nói chắc không dùng đến nó, nên sai đem bán lấy tiền đong gạo cho sắp nhỏ.

Mai Hương mở gói giấy bọc củ sâm ra, củ sâm vỏn vẹn bằng hai phần ba bàn tay, nằm giữa mấy lớp giấy gói đã cũ. Nhìn qua, ai cũng biết củ sâm được gói kỹ lưỡng, và bị lãng quên trong một ngăn tủ nào đó lâu lắm rồi, nay mới được nhớ lại. Tôi nhìn củ sâm nghẹn ngào. Một nhà giáo thanh bạch, một người lãnh đạo quốc gia trong sạch như cụ, chỉ lấy đạo đức bản thân làm tài sản. Cụ đâu có nén vàng nào có thể đem bán lấy tiền đong gạo cho đàn cháu, hay giúp đỡ người thân đang tá túc trong nhà, những người đa chiu nhiều liên lụy vì các hoạt động chính trị của cụ.

Khoảng hơn một tuần sau, ông nội các cháu, tức em rể cụ Hương, ghé lại nhà Mai Hương và tôi (lúc này Mai Hương và tôi sống chung với nhau trong một căn nhà nhỏ ở quận Tân Bình) kể cho chúng tôi biết là ông vừa làm theo ý cụ Hương: đem mấy bộ đồ veste còn tốt của cụ ra chợ trời bán. Ðể an ủi người nhà bớt đau lòng, cụ Hương bình thản giải thích:

– Từ đây cũng đâu có dịp nào mặc nó nữa, đem bán đi chớ để làm chi!

Số tiền bán áo trên, chẳng ở trong túi được bao lâu, vì ngay sau đó bà Út đi chợ mua đồ ăn cho sắp nhỏ. Gia đình cụ Hương đa chiu chung số phận đau khổ và bi đát tột cùng từ tinh thần đến vật chất khi miền Nam rơi vào tay CS.

Có một sự kiện làm tôi chảy nước mắt mỗi khi nhớ đến, lòng thêm kính mến và cảm phục cụ Hương: Trước khi chính quyền CS cho tổ chức cuộc bầu cử quốc hội (bịp) đầu tiên, cụ Hương được họ thông báo sẽ có một buổi lễ để chính phủ trả quyền công dân cho cu Sau đó, để có buổi lễ được quay phim tuyên truyền, khi một cán bộ thay mặt chính quyền, đọc “chính sách khoan hồng, rộng lượng” của nhà nước đối với những “thành phần” như cụ, cụ dõng dạc nói:

Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân này. Dù gì tôi cũng là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân trước. Tôi sẽ là người sau cùng nhận cái quyền công dân này, sau khi binh sĩ và nhân viên của chúng tôi đã được nhận.

Ðại diện của chính quyền CS không ngờ sự thể xảy ra như vậy. Tức giận, họ ra lịnh cúp máy thu thanh, thu hình. Vài ngày sau cụ nhận được lịnh quản thúc tại gia 3 năm. Cụ Hương nói với người nhà:

– Bọn nó cũng chẳng cần phải quản thúc tao. Tao già và đau yếu như vầy, có khi nào bước chân ra khỏi nhà đâu mà cần phải quản thúc!

Vào năm 80 tuổi, mỗi lần theo Mai Hương ghé vào thăm ông bà nội của các cháu, tôi ít thấy cụ Hương ra ngồi ở sân thượng như lúc trước. Tôi được biết sức khỏe của cụ sa sút nhiều. Một hôm, em rể cụ Hương bảo tôi:

– Ông cụ dạo nầy yếu quá. Ông lại dứt khoát không muốn vô nhà thương khám bịnh hay chữa trị gì cả. Chắc Cẩm Anh cũng biết tại sao rồi. Dượng muốn nhờ Cẩm Anh có quen ai là bác sĩ trước 1975, xin họ đến nhà khám bịnh giùm cho ông cụ. Nếu không thì Dượng chẳng yên tâm.

Nghe ông Dượng nói tôi mới nhớ, cách đó không lâu, cụ Hương bị mệt xỉu phải đưa vô nhà thương cấp cứu. Lúc tỉnh dậy, cụ nhứt định đòi người nhà phải đưa cụ về ngay. Cụ một mực từ chối, không chịu để điều trị trong bịnh viện đã thuộc về tay chính quyền CS.

                tthuongatdentist

Mặc dầu có quen biết vài bác sĩ, nhưng tôi nghĩ ngay đến nhà tôi, lúc ấy còn là một người bạn, vì trong hoàn cảnh không biết tương lai ra sao, nên chúng tôi chưa nghĩ đến việc lập gia đình. Tôi nhận lời Dượng, hứa tìm một bác sĩ của “chế độ mình” để nhờ khám bịnh cho cụ. Khi nghe tôi trình bày, nhà tôi chẳng chút ngần ngại, vui vẻ nhận lời ngay. Lần đầu tiên nhà tôi đến, cụ bảo nhà tôi lại thật gần để cụ nhìn mặt vì mắt cụ đa loa . Cụ Hương hỏi nhà tôi:

– Con đến đây thăm bịnh cho qua, con có sợ họ làm khó dễ con không?

Nhà tôi trả lời:

– Thưa cụ, cháu chỉ làm bổn phận và công việc của người thầy thuốc, cháu không ngạị

Cụ xúc động, ghé người gần lại, đưa tay ôm lấy đầu nhà tôi. Nhà tôi tiếp:

– Thưa cụ, cháu là bác sĩ trẻ mới ra trường, kinh nghiệm và kiến thức hãy còn ít, chữa bịnh cho cụ, nếu có điều gì không biết, cháu sẽ về đọc sách lại.
Cụ Hương vui vẻ, mỉm cười cảm ơn và nắm lấy tay nhà tôi như để trấn an.

Từ đó nhà tôi lui, tới với cụ thường xuyên để thăm bịnh cụ. Dường như việc trị bịnh đối với cụ chẳng có gì quan trọng, cụ không quan tâm lắm, mặc dầu cụ luôn luôn là một bịnh nhân gương mẫu, theo đúng những lời dặn của bác sĩ. Ðiều làm cho cụ vui và thoải mái hơn có lẽ là có người để cụ nói chuyện. Do đó, nhà tôi thường ngồi lại với cụ một hai giờ sau khi khám bịnh. Cụ nói thuốc men cụ dùng hàng ngày là do bà Trần Văn Văn và bạn bè ở Pháp gởi về tặng cụ. Những thứ thuốc nào không cần dùng, cụ đưa cho người em rể cụ đem ra chợ trời bán, lấy tiền chia đều cho gia đình con cháu đong gạo. Một hôm cụ kể cho nhà tôi nghe một câu chuyện rất cảm động như sau:

– Con biết không, chú có thằng em đến thăm (cụ xưng chú với nhà tôi, khi biết thân phụ nhà tôi lớn hơn cụ vài tuổi) nó đem đến một hộp sữa bò còn tặng chú 5 đồng (lúc mới đổi tiền, 500 đồng tiền cũ ăn 1 đồng tiền mới). Chú thương nó có tình, nhưng nghĩ nó phải đạp xích lô cực khổ để sinh sống, nên chú không nỡ lấy. Nhưng nếu chú không nhận thì “sợ nỏ buồn tội nghiệp”, nên chú chỉ nhận có 5 đồng, còn hộp sữa thì bảo nó đem về cho gia đình (lúc ấy sữa rất khó mua).

Người mà cụ kể là “thằng em” một cách thân mật chính là thuộc hạ cũ của cụ.

Cụ Hương còn tâm sự với nhà tôi những chuyện lúc cụ còn trẻ. Có một thời gian cụ cùng với một người con trai (Trần Văn Doi) theo hoạt động cho Việt Minh chống Pháp. Nhưng khi nhận ra bộ mặt thật của Việt Minh, cụ dứt khoát trở về lại trong Nam và mất liên lạc với người con trai từ lúc ấy. Người con trai nầy đã ở lại miền Bắc, và phục vụ trong quân đội CS. Sau khi Sàigòn bị chiếm, anh có về thăm cụ với vợ là một bác sĩ VC. Có lẽ sự lui tới của cặp vợ chồng nầy cũng nhằm mục đích theo dõi cụ.

Cụ Hương cũng có một người con khác đang sinh sống tại California. Anh có một đứa con bị bịnh Thalassemia, được đưa sang Mỹ chữa trị trước năm 1975. Ða  co lần anh muốn bảo lãnh cụ ra nước ngoài, nhưng cụ nói với nhà tôi:

– Trước kia đại sứ Martin năn nỉ, yêu cầu chú đi, chú đãtừ chối. Bây giờ đời nào chú lại xin chính quyền CS để được đi.

Những lần đi thăm bịnh sau của nhà tôi, cụ tâm sự nhiều hơn về những vụ buồn trong cuộc đời tham chính của cụ. Cụ luôn nhắc đến tên của những người mà cụ đặc biệt quý mến như bác sĩ Bạch Ðình Minh. Cụ ngậm ngùi kể:

– Bác sĩ Minh là một người mà chú rất quý trọng. Hồi trước chú thấy bác sĩ Minh đi khám bịnh mà không có đồng hồ đeo tay. Chú mua tặng cho bác sĩ Minh một cái, nhưng đeo được vài tuần, bác sĩ Minh đem trả lại chú. Chú thấy bác sĩ Minh phục vụ trong quân đội hết lòng tận tụy và giàu tinh thần trách nhiệm, chú đề nghị lên tổng thống Thiệu tưởng thưởng “Bảo quốc huân chương” cho bác sĩ Minh. Bác sĩ Minh từ chối không nhận viện lẽ ông đang làm việc ở chỗ an toàn, xin dành huy chương ấy cho những người xả thân chiến đấu, hy sinh xương máu cho đất nước.

Một lần khác cụ hỏi nhà tôi:

– Con có biết bác sĩ Trần Lữ Y không?

Nhà tôi thưa:
– Bác sĩ Trần Lữ Y dạy con môn Nội Khoa ở trường Y khoa.
Cụ Hương tâm sự:

– Hồi trước bác sĩ Hoa Kỳ sang đây khám bịnh cho chú, họ đề nghị đưa chú sang Hoa Kỳ chữa bịnh. Thằng Trần Lữ Y đi theo chú, xin lỗi con, chú gọi bác sĩ Trần Lữ Y bằng “thằng”, vì chú thương nó như con chú vậy. Khi máy bay ghé Manille, suốt mấy hôm chú ăn không nổi đồ ăn của họ, nên bác sĩ Trần Lữ Y phải ra phố kiếm thức ăn mua về cho chú. Gần đây chú nghe có người nói bác sĩ Trần Lữ Y qua đời bên Pháp vì bịnh ung thư, có đúng như vậy không?

Nói tới đây, cụ im lặng hồi lâu như nén sự xúc động. Mấy tuần sau, nhà tôi được tin bác sĩ Trần Lữ Y vẫn còn khỏe mạnh ở bên Pháp và có phòng mạch tư, gần với phòng mạch của bác sĩ Phạm Tu Chính. Nhà tôi vội vàng ghé lại thăm và nói cho cụ Hương biết tin thật về bác sĩ Trần Lữ Ỵ Nghe xong, cụ Hương nắm lấy tay nhà tôi mà chẳng nói gì. Hai giòng nước mắt từ từ lăn trên má cụ.

Mặc dầu sức khỏe cụ Hương lúc đó đa  sút nhiều, đi đứng khó khăn, dầu chỉ vài bước cũng cần cây gậy. Bên cạnh giường ngủ có gắn một cái chuông điện, trên bàn luôn có một cái chuông nhỏ để khi cần người nhà, cụ lắc bằng tay. Nhà tôi thán phục cụ có trí nhớ đặc biệt. Cụ có thể nhớ nguyên văn câu nói của từng người, ngày tháng, giờ giấc của sự kiện đã xảy ra. Cụ không quên từng chi tiết nhỏ. Có lần cụ chia xẻ với nhà tôi rằng:

– Chú nghĩ người làm chính trị phải có giáo dục và đạo đức. Khi tham chính tất nhiên chú chấp nhận có phe đối lập, nhưng dầu khác lập trường, chú vẫn luôn luôn tôn trọng họ. Có một dân biểu trẻ tên là (xin giấu tên), trong một buổi họp quốc hội, đã đứng lên đập bàn, chỉ vào mặt chú nói những lời vô lễ (xin không ghi lại câu vô lễ nầy)… Vì dân biểu nầy đáng con chú. Chú buồn và tiếc cho người làm dân biểu mà không biết đến chữ “lễ”, không tỏ ra có tư cách của người học thức, chớ không buồn về lập trường đối lập của họ.

Một hôm đến thăm cụ, nhà tôi thố lộ với cụ rằng “sớm muộn gì con cũng phải ra đi”. Chuyện ra đi không biết khi nào mới thành công, nhưng không bao giờ con bỏ ý định đó. Chẳng phải vì miếng cơm manh áo, hay sự cực khổ mà phải bỏ quê hương. Nhưng vì cuộc sống lúc nào cũng thấy bị đe dọa, thiếu an toàn, ngủ một đêm thức dậy có thể bị bắt vì bất cứ một lý do viển vông nào. Nghe nhà tôi nói, cụ Hương trầm ngâm một hồi lâu mà không nói gì. Mãi một lúc sau, cụ thở dài chép miệng:

– Có lẽ chú làm không đúng khi ra lịnh ngăn người ta ra khỏi nước trong những ngày hỗn loạn.
Lúc nhà tôi từ giã cụ ra về, cụ ôm hôn nhà tôi và nói:
– Chú gặp con muộn quá!

Vào tháng 4 – 1981, tôi đạp xe đưa nhà tôi đi vượt biên lần thứ 13. Trước khi đi, nhà tôi có đến thăm cụ lần cuối. Biết cụ rất buồn, nhưng cụ giấu kín tình cảm để người đi bớt vướng víu. Một tháng sau đó, tôi cũng rời Việt Nam đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình do anh chị tôi bảo lãnh. Một ngày trước khi đi, tôi đạp xe trở lại đường Phan Thanh Giản, đứng một mình bên chiếc cổng sắt.

Giữa một niềm vui khi sắp sửa thoát khỏi cảnh đời vô vọng, tăm tối, và một nỗi buồn khi biết rằng mình sẽ mất bao nhiêu gắn bó thân thuộc khi lìa khỏi nơi đây. Cụ Hương vẫn là hình ảnh làm cho lòng tôi se thắt, là một cánh sen nổi trên dòng nước đang giao động của tâm hồn tôi.

Dưới đây là hai mẩu chuyện được nhắc lại như một giai thoại. Hồi tháng 4 năm 1954, khi có sự vụ lịnh của thủ tướng Ngô Ðình Diệm bổ nhiệm cụ Hương làm đô trưởng Sàigòn – Chợlớn, thì cụ đi làm việc hàng ngày bằng chiếc xe đạp Alcyon. Khi vô tòa đô chính nhận việc, người lính gác cổng chận lại và không cho cụ vô. Cụ phải nói thật “Tôi là Ðô Trưởng” họ cũng không tin. Cụ phải trình sự vụ lịnh mới được bổ nhiệm, người lính mới hoảng hồn, định chắp tay lạy cụ, nhưng cụ từ tốn, an ủi mấy câu, rồi dẫn xe đạp vô làm việc.

Khi cụ ra Vũng Tàu nghỉ dưỡng bịnh (1964), hàng tháng chính phủ trả phủ cấp thêm 10.000 đồng, nhưng cụ từ chối, gởi trả lại công quỹ, vì cụ nói “không có chuyện gì cần phải xài.”
                                        tran_van_huong
Nhắc lại về thái độ của cụ Trần Văn Hương trong những ngày đen tối của đất nước chúng tôi thấy có hai sự kiện đáng ghi nhớ:

Cuốn hồi ký “Saigon et moi” của cựu đại sứ Pháp tại Việt Nam, ông Mérillon kể lại: “Mãi tới tối 18 – 4 – 1975, đại sứ Hoa Kỳ Martin mới cho ông (Mérillon) hay rằng Hoa Kỳ sẽ buông VN.” Ðại sứ Martin nói:

– Từ giờ phút này nước Pháp sẽ đảm nhận vai trò tái lập hòa bình cho VN.

Mérillon chuyển lời nói nầy cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Ông Hương nói:

– Ông Ðại sứ à! Tui đâu có ngán Việt Cộng. Nó muốn đánh, tui đánh tới cùng. Tui không muốn lưu vong xứ người. Nếu trời hại nước tui, tui xin thề ở lại và mất theo nước này.

Ðến ngày mất nước, đại sứ Martin còn đến gặp cụ Hương và nói:

– Ngài đi với tôi sang Mỵ Chánh phủ Mỹ sẽ nuôi dưỡng Ngài suốt đời, tôi nhân danh chánh phủ Hoa Kỳ đến mời Tổng Thống ra khỏi nước với bất cứ phương tiện nào mà ngài muốn. Chánh phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị tổng thống cho tới ngày Tổng Thống mãn phần.
Cụ Trần Văn Hương mỉm cười, trả lời (tiếng Pháp):

Thưa ngài đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Ða dến nỗi như vậy, Mỹ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Ðại Sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Ðại sứ. Nhưng tôi đãsuy nghĩ kỹ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng CS vào được Saigon, thì bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại chia xẻ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Ðại Sứ đãđến thăm tôi.

Tới đây, tôi lại nhớ đến liêm sỉ và tiết tháo của một người lãnh đạo Cam Bốt, một nước láng giềng mà dân ta thường hay có thái độ coi thường. Ðó là ông hoàng Sirik Matak, Phó Thủ Tướng Cam Bốt. Cũng tháng 4 định mệnh ấy (1975) khi quân Khmer đỏ sắp tràn ngập Phnom Penh, Ðại Sứ Mỹ tại đây là John Gunther Dean đến mời hoàng thân Sirik Matak lưu vong qua Mỹ. ông Sirik Matak từ chối và trả lời bằng thư sau:

Thưa Ngài và bạn thân (Excellence et Cher Ami)

Tôi rất thành thật cám ơn Ngài về cái thơ và đề nghị giúp đỡ của Ngài đưa chúng tôi đến nơi tự do, nhưng tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế.
Về phần Ngài và quốc gia to lớn của Ngài, tôi không bao giờ ngờ rằng Ngài sẽ bỏ rơi một dân tộc đãchọn tự dọ. Quý Ngài đa ?7915; chối bảo vệ chúng tôi, chúng tôi không làm sao được. Ngài ra đi và tôi chúc cho Ngài và quốc gia của Ngài tìm được hạnh phúc dưới bầu trời của quý ngài.

Nếu tôi chết ở đây trong nước tôi mà tôi yêu, thì thôi mặc, bởi vì tất cả chúng ta đa dược sanh ra để rồi một ngày nào đó thì chết. Tôi chỉ có làm một lỗi lầm là đa tin nơi Ngài và tin nơi những người Hoa Kỳ

Xin Ngài và bạn thân, nhận nơi đây những cảm tình trung thực và thân ái của tôi.

Sirik Matak,

Theo lời người dịch, thư này sau mấy năm, có lần được đọc trong một phiên họp Quốc hội Hoa Kỳ, và được lưu giữ trong văn khố Quốc Hộị (Trích bài biết của BS Nguyễn Lưu Viên, tập san Y Tế số III, tháng 3 năm 1998).

Hứa Hoành


Tổng thống Trần Văn Hương

 

Tổng thống Trần Văn Hương Trần Văn Hương (19021982) là cựu Thủ tướng (1964–1965 rồi 1968–1969) và vị tổng thống 7 ngày (1975) của Việt Nam Cộng hòa.

Giáo sư Trần Văn Hương sinh năm 1902, tại làng Long Châu, quận Châu Thành (nay là thành phố Vĩnh Long), tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình nghèo. Nhờ học giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư Phạm… Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ về dạy tại trường Le Myrle de Vilers tại Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ mà ông đã theo học mấy năm trước. Thời gian 1943-1945, ông Hương là giáo sư dạy môn văn chương và luận lý tại trường này. Ông là một thầy giáo đã từng đào tạo nhiều học trò nổi tiếng (tướng Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, cũng tự nhận là một học trò của ông) và từng giữ chức vụ Đốc học Tây Ninh.

Thời kỳ tham chính

Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia chính quyền Việt Minh với tư cách nhân sĩ tự do. Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, năm 1946, ông bỏ về quê và tuyên bố bất hợp tác với cả chính quyền Việt Minh lẫn Pháp, sống ẩn dật cho đến năm 1954.

Sau Hiệp định Genève, năm 1955, ông ra làm đô trưởng Sài Gòn trong chính quyền của Thủ tướng Ngô Đình Diệm một thời gian ngắn. Sau đó, ông từ chức để phản đối chính sách độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm. Năm 1960, ông cùng 17 nhân sĩ thành lập nhóm Tự do Tiến bộ, tổ chức họp báo tại khách sạn Caravelle (thường được gọi là “nhóm Caravelle“), chính thức xác nhận đối lập chính quyền. Khi cuộc đảo chính của đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu nổ ra, nhóm đã tuyên bố ủng hộ. Vì thế ông cùng 17 vị nhân sĩ nhóm Caravelle bị chính quyền bắt giam. Trong tù, ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (tức “Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù”).

Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, năm 1964, ông lại được cử giữ chức Đô trưởng Sài Gòn lần thứ hai. Không lâu sau, ngày 4 tháng 11 năm 1964, ông lại được Quốc trưởng Phan Khắc Sửu mời giữ ghế Thủ tướng và lập Nội các.

  

Thứ tự Chức vụ Tên
1 Thủ tướng
kiêm Tổng trưởng Quân lực
Trần Văn Hương  
2 Đệ nhất Phó thủ tướng
kiêm Tổng trưởng Nội vụ
Nguyễn Lưu Viên
3 Đệ nhị Phó thủ tướng
kiêm Thống đốc Ngân hàng Quốc gia
Nguyễn Xuân Oánh  
4 Tổng trưởng Ngoại giao Phạm Đăng Lâm  
5 Tổng trưởng Tư pháp Lữ Văn Vi  
6 Tổng trưởng Thông tin Lê Văn Tuấn  
7 Tổng trưởng Kinh tế Nguyễn Duy Xuân  
8 Tổng trưởng Tài chánh Lưu Văn Tính  
9 Tổng trưởng Cải tiến Nông thôn Ngô Ngọc Đối  
10 Tổng trưởng Công chánh Lê Sĩ Ngạc  
11 Tổng trưởng Văn hóa Giáo dục Phan Tấn Chức  
12 Tổng trưởng Y tế Trần Quang Diệu  
13 Tổng trưởng Xã hội Đàm Sĩ Hiến  
14 Tổng trưởng Lao động Nguyễn Hữu Hùng  
15 Tổng trưởng Phủ Thủ tướng Phạm Văn Toàn  

Sang Tháng Giêng năm 1965 trước áp lực của phe quân nhân, Trần Văn Hương phải cải tổ Nội Các, thu nạp thêm bốn tướng lãnh. Nội Các mới có thêm những chức vụ sau đây.

Thứ tự Chức vụ Tên
1 Đệ nhị Phó thủ tướng Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu  
2 Tổng trưởng Quân lực Trung tướng Trần Văn Minh
3 Tổng trưởng Tâm lý chiến Thiếu tướng Linh Quang Viên  
4 Tổng trưởng Thanh niên Thể thao Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ  
Nguyễn Xuân Oánh chuyển xuống làm Đệ tam Phó thủ tướng.

Tuy nhiên chính phủ của Trần Văn Hương không tồn tại được lâu vì ngày 27 tháng 1 năm 1965, tướng Nguyễn Khánh làm cuộc chỉnh lý, lật đổ chính quyền dân sự và Quốc trưởng Phan Khắc Sửu bị truất phế. Trần Văn Hương cũng bị bắt và quản thúc một thời gian ở Vũng Tàu.

Năm 1968, để tạo ảnh hưởng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã mời ông ra làm Thủ tướng lần thứ hai. Năm 1971, ông cùng Nguyễn Văn Thiệu liên danh ứng cử và đắc cử chức vụ Phó tổng thống nhiệm kỳ 1971-1975.

Ngày 21 tháng 4 năm 1975, trước áp lực của Quân Giải phóng miền NamQuân đội Nhân dân Việt Nam, trước áp lực của dư luận, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải tuyên bố từ chức và trao quyền lại cho Phó tổng thống Trần Văn Hương. Ông cũng chỉ nắm chức vụ trong 7 ngày. Ngày 28 tháng 4, ông đã trao quyền lãnh đạo cho tướng Dương Văn Minh. Ông được xem là vị tổng thống dân sự cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa.

Đời sống sau 1975

Sau 1975, ông chọn ở lại quê hương. Năm 1977, ông được chính quyền Việt Nam trao trả quyền công dân. Những năm tháng cuối đời, ông sống chung với người con trai cả là Lưu Vĩnh Châu (xem thêm Lưu Vĩnh Châu) tên thật là Trần Văn Dõi, một cán bộ của Ban Công nghiệp Trung ương, nguyên là đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam đã từng tham gia trận Điện Biên Phủ.

Ông mất ngày 27 tháng 1 năm 1982, nhằm ngày mồng ba Tết Nhâm Tuất, hưởng thọ 80 tuổi.

Những nhận xét về ông

Nhiều người nhận xét ông là một người có tính cách bảo thủ, cực đoan và cố chấp. Tuy nhiên, ai cũng thừa nhận ông là nhân sĩ yêu nước, ngay thẳng và trong sạch.

Trước thất bại liên tiếp ngoài chiến trường và chiến sự đã diễn ra ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, Chính quyền Trần Văn Hương đáng lẽ phải đoàn kết nhau lại để đương đầu với nguy cơ sụp đổ thì lại lún vào những sự ghen ghét đố kỵ và tranh giành quyền lực.

Nguyễn Cao Kỳ là kẻ cực hữu. Tại một bữa tiệc tổ chức hôm 23/4, Kỳ đã thúc giục quân đội chính quyền Sài Gòn tiếp tục chiến đấu để giúp cho một “nội các mới” có thể thương lượng được với Hà Nội. Trong khi đó, những nhân vật thực dụng hơn như các tướng Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn thì vì sợ Kỳ và phe cánh của ông ta làm đảo chính nên tạm thời đồng ý với Kỳ theo cách riêng của mình.Tướng Dương Văn Minh thì cổ xúy cho một sự thay đổi lãnh đạo không cần theo pháp luật. Minh không bao giờ chấp nhận việc Hương bổ nhiệm nhân sự nội các. Dương Văn Minh nói với tướng Cao Văn Viên rằng chỉ khi nào có một chính phủ liên hiệp không chính thức của những người trung lập mời ra làm Tổng thống thì Minh mới nhận lời.Trong khi đó, viên tướng già cổ lỗ sĩ Trần Văn Hương vẫn tỏ ra muốn bám giữ chức Tổng thống Chính quyền Sài Gòn. Có lần Hương nói với Đại sứ Pháp Jean Marie Marillon rằng “Thiệu đã chạy trốn vận mệnh… Còn vận mệnh lại đến với tôi”.Để chứng tỏ mình là người có thực quyền, Hương ra lệnh dỡ bỏ tất cả những khẩu hiệu, tranh áp phích có nội dung chống cộng sản trên toàn thành phố Sài Gòn. Đồng thời, Hương cử một trợ lý của mình ra phi trường Tân Sơn Nhất để mở “các cuộc thương lượng” với đoàn Bắc Việt Nam trong phái đoàn đại diện quân sự hỗn hợp.Sáng 24/4, Hương thể hiện đạo đức giả, chỉ thị cho tướng Cao Văn Viên yêu cầu quân đội thực hiện rầm rộ việc “rút vào phòng ngự” cốt làm cho Hà Nội tin là Chính quyền Sài Gòn thực sự chân thành mong muốn hòa bình. Khi nhận được chỉ thị này, một số tướng lĩnh dưới trướng Cao Văn Viên đã công khai phản đối Hương.Các tướng lĩnh này không ảo tưởng về sức mạnh của quân đội Chính quyền Sài Gòn nên chủ trương đánh mạnh trên chiến trường để có cái mặc cả trên bàn thương lượng theo cách có đi có lại. Tướng Nguyễn Văn Toàn gợi ý đề nghị Mỹ cho máy bay B52 ném bom lần cuối cùng.Cao Văn Viên bác bỏ ngay đề xuất của Toàn vì trên thực tế làm gì còn B52. Tuy nhiên, Mỹ cũng hỗ trợ quân đội Sài Gòn bằng cách cho máy bay vận tải C-130 ném bom thảm sát CBU – 55 và bom Daisy Cutter xuống Xuân Lộc.Phía quân đội Bắc Việt lập tức đáp trả bằng những đợt pháo kích dữ dội chưa từng có xuống sân bay Biên Hòa khiến không một đường băng nào còn nguyên vẹn. Dưới làn đạn pháo dữ dội của đối phương, các phi đội máy bay chiến đấu F – 5A phải chuyển về Sài Gòn trong khi các máy bay A – 37 phải lánh nạn dưới Cần Thơ.Lúc này tại Sài Gòn, các doanh nghiệp nước ngoài bắt đầu di tản nhân viên của họ ra nước ngoài bằng các chuyến bay hợp đồng riêng….Trong khi các đơn vị quân đội Bắc Việt đang chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng vào Sài Gòn thì Tổng thống “già” Trần Văn Hương cũng đang đưa ra những nỗ lực cuối cùng. Trong các cuộc trao đổi bí mật với đoàn Hà Nội tại phái đoàn đại diện quân sự hỗn hợp ở Tân Sơn Nhất, Hương đề xuất cho phép cử ra Hà Nội một người trung gian để thảo luận ngừng bắn.Đề xuất này bị phía Hà Nội bác bỏ thẳng thừng. Trần Văn Hương lại đưa ra đề xuất khác rằng ông ta sẽ cho mở cửa các nhà tù để trả lại tự do cho tất cả những “tù nhân chính trị” trong đó có cả 18 nhà báo bị bắt giam hồi tháng 2/1975. Hương coi đây là cử chỉ thiện chí của mình.Phía Bắc Việt không thèm để ý đề xuất thứ hai của Hương. Họ cũng chẳng thèm bận tâm đưa ra lời bình luận nào. Trong cơn tuyệt vọng, Hương bí mật tới gặp tướng Dương Văn Minh để thuyết phục Minh chấp nhận chức Thủ tướng trong Nội các của Hương. Nhưng Minh cũng lạnh nhạt với mọi đề xuất của Hương.Trong khi đó, các nhân vật chính trị có máu mặt ở Sài Gòn đang tập hợp lực lượng để chống lại Trần Văn Hương. Một trong những người hăng hái nhất trong việc đòi lật đổ Hương là Trần Quốc Bửu – lãnh tụ công đoàn từng cộng tác bí mật nhiều năm với CIA.Một nhà sư công khai đề nghị Hương từ chức để nhường ghế Tổng thống cho Dương Văn Minh. Còn tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ thì tổ chức một cuộc biểu tình ở ngoại ô Sài Gòn với sự tham gia của 5.000 tín đồ Thiên Chúa giáo, hô những khẩu hiệu chống Hương.

Kỳ cho rằng, sở dĩ quân đội Bắc Việt giành được thắng lợi là vì các tướng lĩnh và sĩ quan quân đội Sài Gòn chưa đánh đã bỏ chạy.Đến nước này, Tổng thống Hương bắt đầu nhìn lại những thành bại của mình trong mấy ngày qua. Hương cho rằng mình không có lỗi. Sở dĩ có các cuộc biểu tình chống chính quyền là do hậu quả của Nguyễn Văn Thiệu để lại.Hương cho rằng vì Thiệu mà Hà Nội cũng không thèm đối thoại với Hương. Nghĩ vậy nên Trần Văn Hương đi đến quyết định tìm cách tống cổ Thiệu ra khỏi Sài Gòn.Kể từ khi từ chức, Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa muốn rời sân khấu chính trị. Ông ta vẫn nung nấu những ý đồ trả thù một số đối thủ chính trị và phục hồi danh dự.Trong khi đó, vì quá sợ hãi, vợ Thiệu đã đáp chuyến máy bay thương mại ngày 25/4 đi Bangkok. Em ruột Thiệu khi đó đang làm Đại sứ ở Đài Loan thì bay về Sài Gòn để thuyết phục Thiệu đi di tản.Thiệu bỏ ngoài tai mọi lời khuyên của vợ và em trai. Thiệu tin rằng mình vẫn có một vai trò ở Sài Gòn. Ông ta nói với người em họ Trần Đức Nhã: “Trường hợp bắt buộc phải chạy ra nước ngoài, tôi sẽ đi trong danh dự có một nhân viên của mình đi kèm”.Trần Đức Nhã liền bảo Thiệu rằng chẳng còn thời gian để cho Thiệu thực hiện ý định trả thù và phục hồi danh dự nữa. Nhã thúc giục Thiệu phải rời Việt Nam ngay. Nghe nói vậy, Thiệu mới bừng tỉnh.Hương muốn đẩy Thiệu ra nước ngoài nhưng không muốn tự mình làm việc đó vì sợ những kẻ thuộc hạ trung thành với Thiệu trả thù. Hương đến nhờ Đại sứ Mỹ Martin dàn xếp để Thiệu di tản. Martin không muốn mọi người hiểu là ĐSQ Mỹ đã tham gia phế truất Thiệu nên còn lưỡng lự.Trong khi đó, đối thủ của Thiệu là Dương Văn Minh cho rằng tuy đã từ chức nhưng Thiệu luôn cản trở việc Minh lên làm tổng thống Chính quyền Sài Gòn. Minh cũng tới gặp tướng CIA Timmes để nhờ dàn xếp cho Thiệu đi cư trú ở nước ngoài.

Ngày 26/4/1975, dòng người di tản từ Biên Hòa chạy về hướng Sài Gòn đã đông kín xa lộ 4 làn đường. Xa lộ này từng là niềm tự hào của các kỹ sư Mỹ nay trở thành một dòng chảy xe cộ nối đuôi nhau san sát.

Các lực lượng an ninh Chính quyền Sài Gòn cố gắng lập nhiều trạm kiểm soát cách nhau khoảng 3 km nhằm ngăn chặn các lực lượng đối phương trà trộn để thâm nhập vào Sài Gòn. Nhưng chẳng bao lâu toàn bộ những trạm kiểm soát đó bị dẹp hết sang lề đường. Cùng ngày, các tướng lĩnh trong đó có Cao Văn Viên và Trần Văn Đôn đã đến Dinh Tổng thống và dành trọn buổi sáng để thuyết phục Trần Văn Hương từ chức.

Cuối cùng khoảng đến gần trưa, Hương mới đồng ý sẽ từ chức một cách miễn cưỡng. Hương đặt điều kiện là sự từ chức phải theo qui định của Hiến pháp. Trần Văn Hương nói chẳng có cơ sở và điều kiện nào để ông ta chuyển giao quyền lực thẳng cho Dương Văn Minh. Theo Hương, Quốc hội Chính quyền Sài Gòn phải hợp pháp hóa điều đó bằng cách tổ chức một cuộc bỏ phiếu chính thức để bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống. Sau đó, Trần Văn Hương viết một lá thư gửi Quốc hội giải thích quan điểm của mình. Trong lá thư này, Hương viết: “Nếu các vị không thể quyết định thay tôi bằng tướng Minh, và nếu chúng ta không thể thương lượng thành công thì Sài Gòn sẽ biến thành một biển máu và chúng ta sẽ vẫn còn phải đấu tranh vì danh dự quốc gia”.

Đại sứ Mỹ Graham Martin cũng tin rằng Hà Nội có thể chấp nhận một giải pháp hòa bình dễ dàng. Trong khi đó, thật trớ trêu, lời bình luận tiêu cực về tuyên bố mới nhất của Hà Nội tại Sài Gòn lại xuất phát từ Đại sứ Quán Pháp. Tham tán ĐSQ Pháp Pierre Brochand trong một cuộc nói chuyện với chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar chiều 26/4 nói rằng ông ta đã nhanh chóng mất niềm tin ở các triển vọng hòa bình và còn sợ rằng thậm chí cả cơ hội thương lượng đầu hàng cũng đã mất do sự chần chừ của các nhà chính trị Sài Gòn.

Trong khi các quan sát viên ở Sài Gòn và Washington tranh cãi nhau về ý định thực sự của Hà Nội thì quân đội Bắc Việt đã rầm rộ tiến quân trên con đường đầy bụi ở phía bắc quân khu 3. Rạng sáng ngày 26/4, quân đội Bắc Việt đã từ Lộc Ninh tiến về phía Nam chiếm trại biệt kích quân đội Sài Gòn ở Bến Cát, cách Sài Gòn khoảng 40 km về phía Bắc. Chính từ một căn lều mái lá ở đây, tướng Văn Tiến Dũng đã cùng với các cộng sự của ông chỉ huy phối hợp giai đoạn cuối cùng của Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Trận tổng tiến công vào Sài Gòn của quân đội Bắc Việt đã bắt đầu rồi mà các nhà chính trị Sài Gòn vẫn còn bế tắc trong các cuộc tranh cãi. Đến cuối ngày 26/4 các phe phái trong Quốc hội Chính quyền Sài Gòn vẫn còn tranh cãi chưa ngã ngũ về vấn đề liệu có thể và bằng cách nào để cải tổ chính phủ cho phù hợp và có thể thương lượng được với Hà Nội. Các nghị sĩ thuộc phe Nguyễn Văn Thiệu thì cương quyết chống lại việc Dương Văn Minh ứng cử tổng thống vì sợ tướng Minh khi đã có quyền trong tay thì họ sẽ bị trả thù.

Các nghị sĩ thuộc cánh hữu thì muốn bầu Nguyễn Cao Kỳ làm Tổng thống thay cho Trần Văn Hương. Cuối cùng, sự bế tắc tuyệt vọng trong Quốc hội đã khiến cả Hạ và Thượng viện Sài Gòn nhất trí trả vấn đề này lại cho Tổng thống Trần Văn Hương. Quốc hội đã thông qua với 100% phiếu thuận một nghị quyết chung cho phép Hương tiến hành bất cứ hành động nào mà ông ta thấy cần thiết để đối phó với cuộc khủng hoảng. Nghị quyết này không nêu rõ việc thay đổi Tổng thống mà Trần Văn Hương đề nghị trước đây.

Trong lúc mọi việc đang rối bời, Trần Văn Hương lại gây chuyện. Hương thông báo cho Chủ tịch Thượng viện Trần Văn Lắm rằng trong khi Hương sẵn sàng bổ nhiệm Dương Văn Minh là người kế nhiệm, nhưng quyết định trình điều này ra phiên toàn thể của Quốc hội để thông qua. Như vậy nếu có sai sót gì thì không phải là một mình Hương chịu trách nhiệm. Ngay sau đó, Trần Văn Lắm triệu tập 134 nghị sĩ tới một phiên họp bất thường. Để đảm bảo chắc chắn rằng Quốc hội sẽ thông qua nghị quyết cho phép hành động nhanh, Lắm mời các tướng Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn, và Bộ trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Hảo tới thông báo tình hình.

Tuy nhiên, lại một lần nữa, sự ghen ghét, đố kỵ chính trị trong các nghị sĩ đã không cho phép Thượng viện thông qua nghị quyết nào. Các cuộc tranh cãi không phân thắng bại kéo dài đến hết buổi chiều. Mỗi lần Thượng viện giải lao, Trần Văn Lắm lại sai người của mình đi gặp Dương Văn Minh để hỏi ý kiến. Minh và những người ủng hộ ông ta thống nhất quan điểm rằng nếu Quốc hội không nhanh chóng đạt được sự đồng thuận, Tổng thống Trần Văn Hương sẽ phải bị lật đổ bằng vũ lực.

Sau nhiều giờ tranh cãi, cuối cùng Quốc hội Chính quyền Sài Gòn cũng đi tới một quyết định. Với 1/ 3 số nghị sĩ vắng mặt, cả Thượng và Hạ viện đã bỏ phiếu hoàn toàn nhất trí thông qua nghị quyết trao toàn quyền cho Dương Văn Minh làm Tổng thống theo khuyến nghị của Trần Văn Hương. Lễ tuyên thệ nhậm chức của Dương Văn Minh sẽ được tổ chức ngay ngày hôm sau. Trần Văn Hương lên diễn đàn tha thiết xin Quốc hội cho phép không tổ chức lễ nhậm chức của Tổng thống mới Dương Văn Minh vào buổi sáng hôm sau mà rời sang buổi chiều. Hương giải thích rằng ông ta muốn kéo dài thêm nửa ngày làm Tổng thống để ông có thể nói với gia đình và bè bạn rằng Trần Văn Hương đã từng làm Tổng thống Chính quyền Sài Gòn được đúng một tuần.

Sau kỳ họp bất thường của Quốc hội Chính quyền Sài Gòn, Dương Văn Minh liền bắt tay vào việc phỏng vấn các ứng cử viên vào các ghế trong nội các mới. Đây là công việc đầy khó khăn vì hầu hết các nhà chính trị ở Sài Gòn lúc đó đều ít nhiều dính líu đến phe cánh Nguyễn Văn Thiệu. Chỉ có mỗi trường hợp ứng cử viên Vũ Văn Mẫu là Dương Văn Minh quyết định chọn ngay vào chức Thủ tướng. Biết mình không còn cơ hội nào để lên chức Tổng thống nữa, tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ liền chuyển sang ủng hộ hoàn toàn Dương Văn Minh. Ngoài ra, Kỳ còn ra lệnh cho những người dưới quyền ông ta làm theo như vậy.

Nguyễn Đại Phượng
(Lược dịch từ “Decent Interval”)


Tổng Thống Trần Văn Hương không chịu di tản

Trong ngày 29 tháng 4, dù rất bận rộn trong việc di tản hàng chục ngàn người Mỹ và người tị nạn VN, Đại sứ Martin cũng đã tìm cách đến gặp cụ Trần Văn Hương, cựu Tổng Thống VNCH tại phủ Phó Tổng Thống trên đường Công Lý lần chót.Theo GS Nguyễn ngọc An, bạn thâm giao của cụ Hương thì cuộc gặp gỡ nầy đã diễn ra như sau :« Cũng ngày đó, 29 tháng 4 năm 1975, đại sứ Hoa Kỳ, ông Martin đến tư dinh đường Công Lý với một tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp. Đại khái đại sứ nói :« Thưa Tổng Thống, tình trạng hiện nay rất nguy hiểm. Nhơn danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng Thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà Tổng Thống muốn. Chính phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng Thống cho đến ngày TT trăm tuổi già»

Tổng Thống Trần Văn Hương mĩm cười trả lời :

«Thưa Ngài đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn Ông đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết Cộng Sản vào được Saigon, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.»

Khi nghe câu «Les États-Unis ont aussi leur part de responsabilités (Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó), đại sứ Martin giựt mình nhìn trân trân ông Trần Văn Hương. Năm 1980, ông Hương thuật lại với tôi: Dứt câu chuyện, on se sépare sans même se serrer la main» (GS Nguyễn Ngọc An. Cụ Trần Văn Hương, đăng trên Thời Luận không rõ ngày)

Cựu đại úy Nguyễn Văn Nhựt, sĩ quan tùy viên của phó Tổng Thống Trần Văn Hương cho người viết biết vào những ngày tháng cuối cùng trong tháng 4 ,1975, cụ Trần Văn Hương đã nói với anh em phục vụ tại phủ Phó Tổng Thống rằng: «Thấy các em còn trẻ tuổi mà phải chịu hy sinh gian khổ vì chiến tranh, qua rất thương, nhưng số phận của đất nước mình là như vậy, mình phải đánh cho tới cùng »

Sau khi bàn giao chức vụ TT cho Dương Văn Minh, tối 28 tháng tư, cụ Trần Văn Hương đã dọn ngay về tư gia ở trong hẻm đường Phan Thanh Giản. Tuy nhiên, sáng hôm sau, ngày 29 tháng tư, cụ phải trở lại dinh Phó Tổng Thống ở đường Công Lý một lần cuối để tiếp kiến đại sứ Martin khi Martin đên từ giã cụ.

Trong một cuộc tiếp xúc với BS Nguyễn Lưu Viên, cựu Phó Thủ Tướng VNCH, tại Westminster vào cuối 2ợ, BSViên có cho người viết biết rằng vào sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, ông và bà Trần Văn Văn có đến thăm cụ Trần Văn Hương một lần cuối và cụ Hương đã nói với hai người rằng hai vị đại sứ Pháp và Hoa Kỳ có đến mời ông đi tị nạn, nhưng ông đã từ chối lời mời của họ.

Vào năm 1978, khi Việt Cộng trả lại «quyền công dân cho Dương Văn Minh, các anh em đang bị tù học tập cải tạo đều bị đi xem hình ảnh và phim chiếu lại cảnh cựu «Tổng Thống» Dương Văn Minh đang hồ hỡi hân hoan đi bầu Quốc Hội «đảng cử dân bầu » của Cộng Sản.

Cụ Trần Văn Hương cũng được CS trả lại quyền công dân, nhưng cụ đã từ chối. Cựu Tổng Thống VNCH Trần Văn Hương đã gởi bức thư sau đây đến cấp lãnh đạo chính quyền CS :

«… Hiện nay vẫn còn có mấy trăm ngàn nhơn viên chế độ cũ, cả văn lẫn võ, từ Phó Thủ tướng đến Tổng bộ trưởng,các tướng lãnh, quân nhân công chức các cấp, các chính trị gia, các vị lãnh đạo tôn giáo, đảng phái, đang bị tập trung cải tạo, rĩ tai thì ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy về.

Tôi là người đứng đầu hàng lãnh đạo chánh phủ VNCH, xin lãnh hết trách nhiệm một mình. Tôi xin chánh phủ mới thả họ về hết, vì họ là những người chỉ biết thừa hành mạng lệnh cấp trên, họ không có tội gì cả. Tôi xin chánh phủ mới tha họ về sum họp với vợ con, còn lo làm ăn xây dựng đất nước.

Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó, tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi »

Cụ Trần Văn Hương không hề nhận quyền công dân của Cộng Sản và cho đến khi từ trần vào năm 1981 thì cụ vẫn còn là công dân của Việt Nam Cộng Hòa.

(Trần Đông Phong. Việt Nam Cộng Hòa, 10 ngày cuối cùng.– California : Nam Việt, 2006, tr. 352-355)

 

Nguồn OVV

Theo Dòng Sự Kiện :

Buổi lễ bàn giao tổng thống tại Dinh Độc Lập (giữa Trần Văn Hương và Dương Văn Minh)

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT