DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Đọc NGUYỄN GIA KIỂNG : Tổ Quốc Ăn Năn _Nguyễn Công Lượng.

E-mail Print

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  Image result for ĐỌC NGUYỄN GIA KIỂNG : TỔ QUỐC ĂN NĂN

Tổ Quốc Ăn Năn (TQĂN) là một quyển sách của tác giả Nguyễn Gia Kiểng (NGK) xuất bản năm 2001 tại Paris, từ ấy đến nay đã gây nhiều tranh luận, đã có rất nhiều người phê bình, phân tích và đánh giá. Có mười ba nhân vật từ chuyên viên ngôn ngữ, chuyên viên dân tộc học, nhà bình luận, nhà văn, nhà báo, học giả, giáo sư đại học, nhà hoạt động và bình luận chính trị, luật sư… khen đáo để (có in ở phần cuối sách). Có người cho đây là một kế sách được đề nghị cho việc phát triển đất nước, có người cho đây là một chương trình kiến tạo lại đất nước, có người lại cho rằng đây là một cuốn sách có thể dùng làm chuẩn cho văn chính luận tiếng Việt. Từ đó họ đánh giá tác giả NGK là một trí thức can đảm, lương thiện, nhún nhường… Và cuối cùng có người đề nghị tặng cho tác giả một cành nguyệt quế. Nhưng trái lại trên nhiều tờ báo xuất bản khắp nơi đã có rất nhiều người chê bai tác giả TQĂN là ngụy biện trong lập luận, sai lầm trầm trọng trong tài liệu dẫn chứng, suy luận không hợp luận lý (lo-gich), có những mâu thuẩn trong mạch văn, kiến thức nông cạn, nhất là tác giả NGK đã có những phỉ bán xuyên tạc lên những điều thiêng liêng của lịch sử dân tộc Việt Nam một cách hồ đồ…

Qua TQĂN người ta thấy được chủ trương lớn lao của tổ chức chính trị Thông Luận (TL) hay danh xưng chính thức là Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên (THDCĐN) là muốn thay đổi toàn bộ Việt Nam từ tâm thức đến nhận thức, từ văn hóa cho đến lịch sử, đặt lại tương quan giữa người Việt Nam và nước Việt Nam. Đồng thời tác giả cũng đi tìm một sự đồng thuận trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và tiến tới hòa giải hòa hợp dân tộc. Sau cùng là thực hiện 10 định luật cho việc phát triển xã hội Việt Nam trong tương lai. Đây cũng chính là lý thuyết chính trị của tổ chức THDCĐN nói trên. Tuy nhiên, mức độ thành công trong việc thực thi lại là một vấn đề khác. Ở đây chúng tôi xin giới hạn việc thảo luận trong vấn đề khả thi và bất khả thi của chủ trương đó.

Trước hết cần phải dài dòng một chút là trên 20 năm qua kể từ ngày thành lập, nhóm TL chưa đạt được một thành quả nào như mong muốn qua lời của NGK trong TQĂN: “Cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ đã đi vào một giai đoạn mới. Sau nhiều tranh luận, những người dân chủ Việt Nam đã đạt tới đồng thuận về một lập trường đấu tranh. Đây là một khai thông quan trọng rất đáng mừng. Nhưng tại sao có đồng thuận rồi mà cuộc vận động dân chủ vẫn chưa khởi sắc, đồng bào trong và ngoài nước vẫn chưa hưởng ứng ở mức độ chờ đợi ?” (trang 153). Xin phân biệt rõ đồng tuận của các thành viên nhóm TL qua lời nói trên với đồng thuận trong cộng đồng dân tộc Việt Nam như chủ trương đang mong đợi. Nơi trang 78 và nhiều trang khác trong TQĂN tác giả cũng đã ghi nhận thành quả: “Anh em Thông Luận chung tôi và cá nhân tôi, đã là đối tượng của những chỉ trích gay gắt, xuyên tạc và mạ lỵ”. Có nghĩa là nhóm TL đã bị chống đối, không được sự hưởng ứng của quần chúng nên thành quả chẳng có gì lấy làm khởi sắc. Những việc xảy ra như thế nầy không riêng gì nhóm TL gặp phải mà nhiều tổ chức chính trị khác cũng gặp phải. Nhưng rất tiếc là các tổ chức ấy không chịu tìm hiểu thực chất của vấn đề, là tại sao mình bị đả kích và không được sự hưởng ứng nồng nhiệt của quần chúng, trái lại họ đi tìm những lý do viễn vông để quy trách. Riêng nhóm TL là tự tạo cho mình một bức tường để húc đầu vào rồi quy lỗi một cách vô trách nhiệm cho những người đã chết từ bao thế kỷ trước. Trang 153 TQ ĂN viết: “ Theo tôi đó là vì chúng ta đang đụng phải một bức tường tâm lý kiên cố do lịch sử và văn hóa để lại. Không chọc thủng được bức tường nầy chúng ta sẽ dẫm chân tại chỗ, không dành được dân chủ, và ngay cả nếu có dành được dân chủ cũng không thể vươn lên bắt kịp các quốc gia tân tiến. Mà muốn chọc thủng bức tường tâm lý nầy thì bắt buộc đặt lại một số vấn đề văn hóa và lịch sử”. Đây chính là lý thuyết chính trị cơ bản mà TL muốn dùng làm bàn đạp cho một giai đoạn chuyển hướng, tiếp sau những thất bại, mong lần nầy sẽ tạo được niềm tin và thu hút sự hưởng ứng nơi quần chúng đối với tổ chức của mình.

Thật vậy, gây niềm tin cho quần chúng phải luôn luôn là phương châm hành động của mọi tổ chức chính trị, là việc làm hết sức khó khăn và tế nhị.  Hiện nay nhân loại đã bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của điện toán, tin học. Trình độ dân trí của Việt Nam cũng đã tiến rất cao, đã bỏ xa rồi cái thời chạy theo chủ nghĩa nầy, ý thức hệ nọ. Người ta sống rất hiện thực, người ta nhận thức và phân biệt rất rõ ràng việc làm nào là khả thi, lý luận nào là hợp luận lý, kế hoạch nào là không tưởng, việc làm nào là đúng đắn… Nhưng quần chúng thực sự chỉ là số đông và cần sự hướng dẫn nơi thành phần tinh nhuệ nhất của đất nước. Quần chúng thường thụ động nhưng luôn luôn theo dõi và quan sát rất kỹ từ lời tuyên bố tới hành động của các chính trị gia và các tổ chức chính trị. Quần chúng luôn muốn biết mình được dẫn dắt theo hướng nào và đi đến đâu. Đường lối chủ trương nào đúng gây cho mình được niềm tin thì quần chung nhất tề ủng hộ và góp phần có khi hy sinh cả mạng sống của mình cho chính nghĩa mà không tiếc. Đường lối chủ trương nào không đúng thì quần chúng sẽ thờ ơ lạnh nhạt xa lánh một cách tự nhiên. Quần chúng cũng biết rằng trong đấu tranh mình là người phải hy sinh ở tuyến đầu, chịu thiệt thòi nhất, nhưng khi thành công mình lại là người chẳng hưởng một chút lợi lộc gì về phương diện cá nhân, có khi lại nhận những đắng cay và tủi hổ. Vậy thì tại sao họ lại đi làm cái việc “không công và dại dột” như thế ? – Chỉ vì họ yêu nước. Ai là người lại không yêu nước và gắn bó với quê cha đất tổ của mình, chỉ trừ những kẻ chạy theo những quyền lợi vật chất do ngoại bang bố thí hay mua chuộc nên đã bán đứng đồng đội, đồng bào và tổ quốc của mình mà thôi!  Cho nên khi thất bại các chính trị gia không thể đổ lỗi cho quần chúng cho bức tường tâm lý nầy, cho giòng sông văn hóa kia đã cản đường, mà nên xét lại việc làm của mình.

Câu hỏi được đặt ra là : quần chúng có thể tin tưởng, có thể cùng đồng thuận được với một nhóm chính trị có chủ trương là “đi tìm sự đồng thuận trong cộng đồng dân tộc;  nhưng thực tế lại đi gây tranh cãi và chia rẽ hay không ? “– Nhất định là không. Đã bốn nghìn năm rồi nhân dân Việt Nam luôn gắn bó với đất nước mình dù cho đất nước có nhỏ hẹp và nghèo nàn. Nhân dân luôn luôn vui với cái vui của đất nước, buồn với cái buồn của đất nước. Đất nước nào lại không có lúc vui lúc buồn. Khi chiến thắng được giặc ngoại xâm thì vinh quang đó được nhân dân vui mừng hãnh diện và lấy làm tự hào, khi bị nạn ngoại xâm đô hộ dày xéo thì trước tủi nhục đó nhân dân cùng đau buồn và ý thức được mình phải làm gì. Do đó, đối với những người có công với đất nước sau một quá trình phê công luận việc ông cha ta mới tôn vinh là những bậc anh hùng, còn đối với những kẻ gây họa hay làm những việc không đúng có hại cho đất nước cho dân tộc thì cũng sau một quá trình dài ông cha ta cũng đau buồn để mà luận tội. Công hay tội theo truyền thống văn hóa Việt Nam không phải là để thương kẻ nầy ghét kẻ kia, tôn vinh người nầy mà hạ nhục người nọ, vì lúc nầy tất cả họ đã ra người thiên cổ rồi; mà chỉ là để tạo những tấm gương cho con cháu đời sau soi chung. Có như thế nên tuy đất nước Việt Nam mình có nhỏ hẹp và nghèo nàn nhưng vẫn giữ được qua bốn nghìn năm bên cạnh một đất nước vừa rộng vừa đông dân và luôn luôn có ý định thôn tính những nước nhỏ làm chư hầu. Cũng chính vì thế mà đời nào cũng có hào kiệt, đời nào cũng có anh hùng đứng lên khi tổ quốc lâm nguy, nên đất nước mới trường tồn cho đến ngày nay. Vậy thì để chứng minh cho một lập luận của mình mà đem những vị anh hùng của dân tộc ra làm con cờ thí thì chắc chắn chủ trương nầy của nhóm Thông Luận không thể nào tạo được niềm tin và thu hút được sự hưởng ứng của quần chúng. Đó là chưa nói đến những việc làm nhằm hạ bệ các anh hùng dân tộc qua những lập luận thiếu luận lý phát sinh từ những suy nghĩ viễn vông và không có căn cứ (xin hẹn ở một dịp khác chúng tôi sẽ chứng minh những điều nầy). Ngoài ra, dù ông NGK có cho rằng Quang Trung Nguyễn Huệ là tướng cướp, hiếu sát, hung bạo…và cho dù trận chiến giữa Việt  - Thanh vào mùa xuân năm kỷ dậu (1789) là quân Thanh chỉ đem có sáu ngìn quân hay ít hơn (theo lời ông sử gia Tàu Tưởng Quân Chương), thì việc dụng binh thần tốc chỉ trong mười ngày của vua Quang Trung đã làm cho tướng giặc là Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự vận và Tôn Sĩ Nghị phải bỏ cả ấn tín chạy tháo thân, đại quân nhà Thanh phải tan hàng, không còn một bóng quân xâm lược nào trên đất nước, tránh được cái cảnh quân ngoại nhập nhởn nhơ trên đất nước  còn dân chúng lớp thì bị ức hiếp lớp thì phải rút vào rừng chiến đấu, thì đây không phải là công lớn của vua Quang Trung đối với dân tộc và đất nước Việt nam hay sao ? Không một ai có thể viện dẫn bất cứ lý do gì để phủ nhận công lao nầy của Đại Đế Quang Trung cùng với sức chiến đấu của cả một dân tộc, bởi vì nó đã thuộc về văn hóa – văn hóa quân sự, nét đẹp, niềm kiêu hãnh và tự hào của dân tộc Việt Nam.

Sách sử Việt Nam có ghi rõ ràng trung thực không dấu diếm sự kiện Hauterfeuille cùng với 7 tên lính Pháp đã hạ được thành Ninh Bình và chỉ trong 20 ngày quân Pháp đã hạ luôn 4 tỉnh Trung Châu, Bắc Kỳ (1873). Sự kiện nầy nằm trong giai đoạn lịch sử từ năm 1858 khi quân Pháp bắn vào cửa Đà Nẵng cho đến khi quân Pháp cuốn cờ rời khỏi Việt Nam 1954, như vậy là trong thời gian ngót 100 năm. Trước sự kiện trên có biết bao nhiêu người đã hy sinh, sau đó là sự vùng lên của cả một dân tộc lấy sinh mệnh để gìn giữ quê hương lấy máu đào để tô điểm tổ quốc, quyết đuổi quân Pháp ra khỏi cõi bờ. Thế mà ông NGK và nhóm Thông Luận chỉ vì mục đích chính trị cố chứng minh cho lập thuyết chính trị của mình mà nở lòng cho rằng: “ chỉ vì ông cha ta bạc nhược, không có tinh thần quốc gia dân tộc”. Lập luận như thế chẳng khác nào nói : “Chỉ có một chiếc xe tăng (ủi sập cổng dinh Độc Lập ngày 30.04.1975) là quân Cộng Sản Hà Nội đã chiếm trọn Việt Nam Cộng Hòa, chỉ vì quân dân Miền Nam tinh thần bạc nhược không có ý thức quốc gia”.  Tôi cho rằng đây là những lối nói thiếu suy nghĩ. Những người làm chính trị mà thiếu suy nghĩ hoặc không hiểu biết về lịch sử nước nhà để rồi đánh giá thấp dân tộc của mình như vậy thì thiết tưởng nếu họ có cơ may nắm được chính quyền họ cũng chỉ thay đổi một chế độ độc tài nầy bằng một chế độ độc tài khác để ăn trên ngồi trốc đàn áp nhân dân mà thôi, vì họ vốn quen khinh rẻ dân tộc của mình.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng Sản vừa qua tại Việt Nam, cho đến nay cả thế giới tốn không biết bao nhiêu là giấy mực để bàn rộng tán hẹp, bàn ra tán vào, đặt nhiều dấu hỏi dấu than. Nhưng người ta không hiểu được rằng tại sao người phu quét đường, cho đến người nông dân bình thường không hề biết Tư Bản Luận là gì, Các-Mác, Lê-Nin là ai, vậy mà họ hưởng ứng, góp phần và tham gia vào cuộc chiến chống Cộng một cách mãnh liệt và nhiệt tình như vậy ? Một số người đã từng đi du học ở Mỹ, ở Pháp… không biết họ hấp thụ được cái gì mà khi về đến Việt Nam là họ tuyên bố vung vít rồi theo hùa với thành phần phản chiến và đã cho rằng bởi vì cái tâm lý kiên cố do lịch sử và văn hóa, thứ văn hóa bạo lực và hiếu chiến của Khổng Mạnh đã ảnh hưởng đến người dân Miền Nam. Tôi cho rằng không phải vậy. Người dân Việt Nam luôn luôn chỉ mong cầu được có một cuộc sống bình bình an an. Họ chỉ chống đối lại bất cứ học thuyết nào, chủ nghĩa nào, chủ trương nào, khi mà họ tiên đoán hay nhận định là “những sản phẩm đó” sẽ đem lại sự bất an cho họ. Làm sao họ có thể chấp nhận một chủ trương “đấu tranh giai cấp” trong mớ lý thuyết của Cộng Sản. Vì xã hội nào lại không có giai cấp ? Đấu tranh giai cấp chỉ là phá vỡ trật tự và sự ổn định của một xã hội an bình, hơn nữa nó chỉ là chiêu bài để lợi dụng của những kẻ say mê quyền lực nhất thời mà thôi. Đó là sự thực. Và sự thực đã trả lời: Tại Việt Nam những mỹ từ như cách mạng, giải phóng, đem lại hạnh phúc ấm no cho toàn dân, tránh cảnh người bóc lột người,… thường phát ra trên đầu môi chót lưỡi của mỗi cán bộ Cộng Sản từ những ngày xa xưa, thì ngày nay đã trở thành những mỹ từ sáo rỗng chỉ dùng để kể chuyện tiếu lâm. Người ta đã quên hết hay có nhắc lại những mỹ từ đó cũng chỉ như là một hoài niệm hoặc cho một âm mưu muốn lường gạt gì đó. Người ta đã thay vào đó bằng những danh từ Dollars, ngoại tệ, vàng bạc, quý kim, buôn bạch phiến, bán gái trinh, thành lập đường dây nầy, tính chuyện đường dây nọ… Đây là một thực tế còn hiện tiền, là tấm gương cho những ai làm chính trị cần phải soi trước khi lập thuyết.

Cũng đừng lẫn lộn tục lệ, tập quán với văn hóa. Tục lệ thì còn có hủ tục, tập quán thì còn có tập quán lạc hậu, chứ văn hóa thì không có văn hóa tốt hay văn hóa xấu, văn hóa bạo lực hay văn hóa tham nhũng theo truyền thống để lại (trang 338 TQĂN). Bởi vì cái gì thuộc về văn hóa thì nó phải qua một tiến trình “gạn đục khơi trong” một cách vô hình rồi tự nhiên nó đi vào lòng người và có thể tự nhiên nó đi ra, nên dù cho bất cứ ai muốn lấy quyền lực bắt nó ra khỏi lòng người cũng không bao giờ làm được. Ví dụ một cách cụ thể là sau tháng 4 năm 1975 khi Cộng Sản chiếm trọn Miền Nam họ ra lệnh cấm đồng bào hát “nhạc vàng” (tức nhạc thời Việt Nam Cộng Hòa) và bắt buộc đồng bào phải hát “nhạc cách mạng, nhạc đấu tranh” của Cộng Sản. Nhưng kết quả là sau đó và cho đến bây giờ bên hồ Hoàn Kiếm – Hà Nội người ta vẫn nghe những lời ca tiếng nhạc của các bài hát Miền Nam, còn lời ca của các bài hát do Đảng và nhà nước Cộng Sản phổ biến thì ngày một lụi dần, lại bị nhân dân hát nhại để chế riễu một cách công khai (Như có bác Hồ trong nhà thương Chợ Quán, lời bác nay đã thành tiếng chó kêu gào… Đêm qua em mơ gặp bác Hồ, chân bác dài bác đạp xích lô… Miền Bắc hút thuốc lào, Miền Trung hút thuốc rê, Miền Nam ta hút Capstan, xì gà…). Đó là chỉ nói về lãnh vực âm nhạc, chứ còn thơ, vè, câu đối, bài chòi, vọng cổ… đều có những sáng tác mới chế riễu tương tự, mà chính quyền Hà Nội cũng không thể nào ngăn chận được.  Vậy thì chủ trương xóa bỏ tàn dư văn hóa Khổng Mạnh (giống như xóa bỏ tàn dư văn hóa Mỹ-Ngụy mà Hà Nội đã chủ trương) để nhồi nhét vào tâm hồn của người dân Việt Nam, tôi e chỉ là việc làm không tưởng.

Xin đừng vì kiến thức hẹp hòi của mình, không chịu tìm tòi sách vở để học hỏi, không chịu đi nhiều để tìm hiểu, rồi dám tuyên bố một cách lếu láo rằng thì là: “Bốn nghìn năm văn hiến của chúng ta không để lại bao nhiêu chứng liệu vật chất… bởi vì nền văn minh Việt Nam không có di tích vật chất” (trang 243 TQ ĂN). Và lại còn dám cho rằng: “Chúng ta không sáng tác được vì chúng ta thiếu tầm nhìn và cách nhìn để thấy được cái vĩ đại ngay chung quanh chúng ta. Chúng ta thiếu tư tưởng” (trang 261 TQ ĂN). Ông NGK cũng đọc đoạn sử nói về việc hoàng đế Trung Quốc là Minh Thành Tổ đã hai lần (hay nhiều lần ?) ra lệnh cho quan lại cai trị nước ta phải thu thập rồi tiêu hủy hoặc chở về Trung Quốc tất cả sách vở và sản phẩm văn hóa của Việt Nam. Ông chắc cũng biết dã tâm của Phương Bắc là muốn đồng hóa dân tộc ta với nhiều kế hoạch trong đó có việc tận phá các sản phẩm văn hóa. Thì thử hỏi trong hơn một nghìn năm bị Phương Bắc đô hộ, Việt Nam còn lại được những gì ??  Đó là nói theo lẽ thường tình, chứ thực ra ông cha ta ngày xưa cũng có cách gìn giữ những báu vật của mình, như chôn dấu chẳng hạn. Nhưng con cháu chưa khám phá ra hết mà thôi. Gần đây (tháng 10.2003) các báo chí đã đăng tải sự kiện tại Hà Nội tình cờ trong xây cất người ta đã khám phá ra được nền móng của kinh thành Thăng Long cũ và cũng tìm thấy hàng triệu cổ vật chôn dấu dưới lòng đất. Và (tháng 1 năm 2004) tại Bắc Giang người ta cũng tìm thấy dấu tích thời vua Lê Thánh Tôn và cho thấy nơi nầy xưa kia đã có một số trung tâm kinh tế, chính trị và xã hội của nhiều triều đại trong đó rõ nét là thời nhà Lý. Thì chúng ta có thể đoan quyết là còn nhiều nơi chôn dấu khác. Vả lại ông NGK có đến hết các viện Bảo Tàng và Tàng Thư, Thư Viện trong nước cũng như ở các nước ngày xưa đã một thời chiếm đóng nước ta hay có quan hệ với nước ta và tại một số tư gia của con cháu các văn nhân, thi sĩ, nghệ nhân,… thời trước để đọc để xem cho hết các tác phẩm mà hiện còn lưu trữ ở đó hay chưa ?  Tôi tin chắc ông NGK bỏ ăn, bỏ ngủ thì suốt quãng đời còn lại của ông cũng không thể nào đọc hết xem hết những tác phẩm văn hóa đó. Còn về tư tưởng, triết gia, chắc ông NGK muốn nói đến tư tưởng Cộng sản của Các-Mác, Eng-gen, Xít-ta-Lin, Lenin chứ gì ? Nếu Việt Nam ta có những “sản phẩm” đó thì phỏng có ích gì cho ai ?  Nhưng nếu nói đến những tư tưởng có ích lợi cho xã hội đem lại bằng an cho thế nhân thì cần gì phải tìm đâu xa, cứ tìm đọc cái kho tàng ca dao tục ngữ của Việt Nam thiết tưởng cũng đủ dùng rồi. Xin dẫn chứng ra đây mấy câu ca dao đã có từ hằng ngìn năm: “Con kiến mấy ở trong nhà, tao đóng cửa lại mầy ra đường nào ? Con cá mầy ở dưới ao, tao tát nước vào mầy sống được không ? “ và “Con gà cục tác lá chanh. Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi. Con chó khóc đứng khóc ngồi. Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng”. Thì chẳng cần gì đợi đến J.J. Rousseau, Montesquie, Voltair… người Việt Nam cũng đã biết lâu rồi thế nào là dân chủ, thế nào là tự do, và cai trị phải như thế nào. Tư tưởng của Việt Nam thì thiếu gì, chỉ tiếc con cháu đời sau nhất là những kẻ đi làm chính trị lại không chịu học hỏi để mà làm, đến khi thất bại thì quẩn trí mà nói càn nói bậy!..

Cũng cần nhắc đến 10 định luật phát triển xã hội của nhóm Thông Luận đưa ra (từ trang 449 – 459 TQĂN). Tôi không cần biết nội dung và chưa thể đặt vấn đề khả thi hay bất khả thi của nó. Tôi chỉ xem công việc làm nầy giống y như công việc của những luật sư dư thời giờ đã ngồi soạn bản Hiến Pháp cho một Việt Nam trong tương lai hay vẽ sơ đồ dự phóng cho một chính phủ trong tương lai gồm có Bộ nầy, Nha nọ, Phủ kia… Mặc dù làm chính trị thì phải tiên liệu và phải có tất cả kế sách cho đường lối cai trị đất nước và an sinh xã hội, dự phòng một khi mình nắm được chính quyền thì có mà dùng. Nhưng tôi tin chắc rằng quần chúng không thể tin tưởng vào một kế hoạch thiếu yếu tố thời gian. Cũng có một tổ chức chính trị kia đang đưa ra kế hoạch ba bước để giải thể chế độ cộng sản Hà Nội  “Bước 1 là:….. Bước 2 là : ….. Bước 3 là :…..” rất là bài bản rất là hàn lâm, nhưng không thấy đề cập gì đến thời gian thực hiện từng bước một. Có người hỏi: Làm kế sách thì phải có yếu tố thời gian, không thấy các anh thực hiện từng bước thì đến bao giờ các anh bắt đầu và đến khi nào thì các anh hoàn thành ? Câu trả lời thật khôi hài: Chúng tôi sẽ bước ba bước đồng bộ, đến năm 2005 thì chúng tôi giải thể hoàn toàn chế độ Hà Nội. Người ta tự hỏi một người làm cách nào để có thể bước ba bước cùng một lúc ? Sao không nói chúng tôi nhảy vọt nghe có hay hơn không? Hay đây chỉ là một sự đánh hơi thời cuộc ? Còn tổ chức Thông Luận thì chưa có kế hoạch chiếm chính quyền, chỉ có chủ trương xin được hòa giải hòa hợp mà Cộng Sản thì không đếm xỉa gì đến yêu cầu nầy. Vậy thì có cơ hội nào dành cho nhóm Thông Luận để thực hiện 10 định luật phát triển xã hội Việt Nam? Hay đây cũng chỉ là bài bản để mưu tìm một chiếc ghế?

Cũng không thể không bàn đến một câu nói chắc chắn sẽ “để đời” của ông NGK: “Tôi nghĩ nên cố gắng để nói ra những điều mới và nếu trong mười điều mới nói ra có tới chín điều sai và chỉ một điều đúng thì cũng còn có ích hơn là nói mười điều đúng cả mười nhưng đều là những điều đã biết” (trang III Lời nói đầu TQ ĂN) và đồng thời có kèm theo lời thanh minh nhún nhẩy (chứ không phải nhún nhường) của ông, “xem đây là một thái độ khiêm tốn trong cách khiêm tốn của Nguyễn Gia Kiểng”. Người ta thường nói “Nhất ngôn bất tín, vạn sự bất tin” và người ta cũng nói: “làm thầy thuốc mà sai lầm thì có thể giết chết một mạng người, làm chính trị mà sai lầm thì hại cả một dân tộc, còn làm văn hóa mà sai lầm thì hại đến nhiều thế hệ”. Ông Nguyễn Gia Kiểng vừa làm chính trị lại vừa làm văn hóa vì ông là một chính trị gia thiếu thời giờ, ông viết sách và sách của ông được đánh giá là dùng để làm chuẩn cho thể văn chính luận tiếng Việt. Vậy thì chín điều sai của ông sẽ nguy hại khôn lường ?!?! Nhưng xem ra khi đọc hết quyển TQĂN người ta nhận thấy những điều ông Nguyễn Gia Kiểng đưa ra thật mới mẻ, hết sức mới mẻ thì không có điều nào đúng; còn những điều ông Nguyễn Gia Kiểng nói rất đúng, thật đúng thì có lẽ nằm đầy trong những quyển sách hiện có ở bất cứ thư viện nào. Những câu phát kiến chắc nịch của ông NGK như : “Việt Nam không còn chim (trang 10, TQ ĂN). Nông thôn Miền Tây Nam Phần có một quan hệ nam nữ tự do vào bậc nhất thế giới. Ở đây ít đàn ông nào chỉ có một vợ - con số trung bình là ba – và cũng khó kiếm ra một người đàn bà nào chỉ có một đời chồng (trang 26 TQĂN). Dân tộc Việt Nam là một dân tộc không biết đọc, không biết viết, và không biết nói (trang 107 TQĂN). Chúng ta chưa biết cách quản lý tổ tiên (trang 152 TQ ĂN). Người chồng Việt Nam là người chồng thô bỉ nhất thế giới (trang 296 TQĂN). Cộng Đồng tị nạn mất căn cước nhanh nhất là cộng đồng tị nạn Việt Nam (trang 574 TQ ĂN)”. . . Và còn nhiều phát kiến đại loại như vậy không thể kể xiết trong suốt 600 trang giấy của quyển TQĂN . Một người nông dân bình thường chỉ nói sai một điều là đã làm mất niềm tin nơi người chung quanh, huống chi đây là một chính trị gia, một nhà văn hóa như ông Nguyễn Gia Kiểng nói ra những điều khó nghe như vậy thì làm sao tạo được niềm tin nơi quần chúng !?!?!

Nếu quả thực mộng ước của nhiều người Việt Nam hiện nay chỉ giản dị là được rời Việt Nam đi làm công dân một nước khác! Nếu quả thực ngay cả khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta yêu nước thì thực ra chúng ta yêu một cái gì khác! Và nếu quả thực lòng yêu nước rất mờ nhạt trong lòng người Việt Nam! Thì không thể quy lỗi thực trạng nầy cho quần chúng, cho nền văn hóa, cho lịch sử, hay cho những anh hùng đã chết từ lâu đời được. Mà phải quy lỗi cho thành phần lãnh đạo đất nước mà thôi. Các nhóm chính trị ngày nay không gây được niềm tin nơi quần chúng cũng chỉ vì kiến thức nông cạn, không theo kịp đà tiến của xã hội, nên khi chưa nắm chính quyền thì không thu hút được sự hưởng ứng của quần chúng trong đấu tranh, mà có khi nắm được chính quyền rồi (dù bằng cách gì) cũng chỉ làm cho quần chúng thất vọng hơn trong cai trị. “Chấp nhất kỷ chi kiến. dĩ giá họa ư tha nhân; Tham nhất thời chi công, dĩ di tiếu ư thiên hạ” (Vì ý kiến một người, gieo họa cho bao kẻ khác; Tham công danh một buổi, để cười cho tất cả nhân gian) là lời khuyên sâu sắc chí tình nầy của Nguyễn Trãi trong Bình NGô Đại Cáo cho những ai muốn làm việc lớn mà trí óc hẹp hòi nông cạn và lòng dạ lại tham lam. Thì ông Nguyễn Gia Kiểng cũng không nên thêm bớt một vài chữ để xuyên tạc cho rằng đây là câu nói lạc lõng của Nguyễn Trãi để nhận định về con người Việt Nam.

Tôi cũng nóng lòng khi hay tin Cộng Sản Hà Nội hiến đất dâng biển cho Trung Cộng mà không thấy phản ứng nào từ phía nhân dân trong nước nên cũng đã viết: “Nhân dân Việt Nam ngày nay thật sự đã yếu hèn !?”. Do đó tôi rất thông cảm cho ông NGuyễn Gia Kiểng vì “lửa đốt tâm can” trước hiện tình đất nước. Nhưng cách phát biểu và lập luận của ông cần phải xem lại. Vì ông không am tường nhiều vấn đề, lại đi bình luận và phát ngôn thật bừa bãi. Làm chính trị thì phải tiên liệu, đã tiên liệu một con đường tiến, thì cũng phải có con đường thoái khi cần. Quan nhất thời dân vạn đại mà.

 

·         Nguyễn Công Lượng                                                                                                                        

         (Tháng 4/2003)

       © Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.

      © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam  

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT