DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Đặng Tấn Hậu:10 Năm Hậu Tháng Tư Đen.
E-mail Print

                                             Résultats de recherche d'images pour « Lễ Tưởng niệm nhân ngày Quốc Hận 30-04 »

Nếu 30 năm là thời gian của một thế hệ thì 10 năm là 1/3 của thế hệ. Do đó, 10 năm có thể kể là thời gian đủ dài để một chính phủ thực hiện những gì họ muốn đạt tới. Đó cũng là lý do tại sao tổng thống HK có thể cầm quyền 4 năm và tái ứng cử 1 lần; tổng cộng là 8 năm vừa đủ để cho ông thực hiện chính sách; nhưng không kéo dài đến nhiệm kỳ thứ ba vì lý do ông có thể trở thành nhà độc tài của đất nước.

Bài viết thử nhìn lại 10 năm thời hậu tháng tư đen từ 1975 đến 1986 qua 2 thời kỳ kế hoạch ngũ niên của nhà cầm quyền csBV (Cộng Sản Bắc Việt) tại miền nam VN. Bài viết chỉ đề cập đến miền nam vì miền bắc đã theo chế độ cộng sản từ năm 1954; trong khi đó có sự thay đổi cách mạng tại miển nam từ chế độ cộng hòa sang chế độ cộng sản. Bài viết có phụ thêm thời kỳ cách mạng 9 năm nền đệ nhất cộng hòa.

PHẦN I:  10 NĂM HẬU THÁNG TƯ ĐEN 1975-1986

csBV có nhiều lợi thế sau khi cưỡng chiếm miền nam VN vào ngày 30.4.1975 vì tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, quân đội miền nam tuân theo lệnh chỉ huy buông súng. Đa số người lính đều muốn trở về đời sống dân sự nên sự chống đối về quân sự kể như không có; ngoại trừ vài đơn vị nhỏ có thể tuẩn tiết. Người dân miền nam đều tin csBV cũng là người VN nên sẽ không đối xử tàn ác đối với đồng bào miền nam.

Thực tế, chuyện gì đã xảy ra? csBV được của trời cho, không phải do công lao của họ mà từ HK đã nghĩ đến quyền lợi của họ, bắt tay với TC và bán đứng đồng minh của họ (VNCH, Đài Loan) cho cộng sản; đặc biệt là sau hiệp định Paris vào đầu năm 1973, HK đã rút quân ra khỏi VN và chấm dứt viện trợ vũ khí, quân trang cho quân đội miền nam; trong khi csBV nhận viện trợ ồ ạt vũ khí tối tân từ khối Liên Sô và TC.

Chuyện gì đến sẽ phải đến. Quân đội miền nam tan rã. csBV chiến thắng và chiếm trọn miền nam VN. Sự chiến thắng quá dễ dàng ngoài sức tưởng tượng của họ đã làm cho họ trở nên kiêu ngạo, tưởng mình có  thể “đội đá vá trời” nên thóa mạ đế quốc Mỹ, đem quân xâm lược lân bang (Cao Miên) và chống lại đàn anh TC. Cần nhớ, lúc bây giờ, quân đội TC còn thô sơ, khí giới lỗi thời so với csBV có khí giới tối tân từ LS.

Người miền nam đã sai lầm ngây thơ tin tưởng người csBV coi người miền nam là đồng bào. Bản thân họ không biết csBV đã có chính sách kỳ thị, tiêu diệt người miền nam nên csBV ban hành nhiều biện pháp tàn độc giết hại người dân miền nam; không phải chỉ người lính miền nam mà kể cả cán bộ “lão thành” Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của họ và con cháu miền nam VN là tương lai của đất nước miền nam.

  1. TIÊU DIỆT

1.1 Tù Cải Tạo

csBV bắt hơn 1 triệu dân quân cán chính miền nam vào nhà tù cải tạo. Nhiều người đã bị tù hơn 15 năm tức là thời gian dài hơn ½ thời gian của một thế hệ. Lẽ tất nhiên, ít nhất là ¼ đã chết trong nhà tù hay chỉ còn thân tàn ma dại; còn đại đa số thì tâm thần không ổn định sau khi ra tù. Ít ai để ý nếu không có TC dạy cho csBV bài học vào năm 1979 thì những người này sẽ ở tù cho đến chết tại “cổng trời” miền bắc.

1.2 Lão Thành

csBV không những không chỉ bắt, giết dân quân cán chính miền nam, họ còn tìm cách tiêu diệt mầm móng những người đã từng hợp tác giúp họ chống lại chính phủ miền nam; đó là thành phần Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vì csBV thừa biết đa số thành phần này là dân miền nam. Họ chống chính phủ Saigon vì nhiều lý do khác nhau; nhưng chắc chắn không phải vì lý do chấp nhận chủ thuyết cộng sản.

Vì thế, csBV thường tìm nhiều cơ hội để tiêu diệt chính những người làm việc cho họ. Thí dụ, csBV đã thí cả trăm ngàn chủ lực quân của Mặt Trận Giải Phòng Miền Nam vào Tết Mậu Thân. Họ đã giải thể đám “lão thành” cách mạng ngu dại theo họ sau tháng tư đen 75. Nhóm này ngồi chơi xơi nước với mấy huân chương vô tích sự; ngược lại, họ lơ láo nhìn csBV vào chiếm nhà cửa, đất cát của bà con họ ở miền nam.

1.3 Nghĩa Vụ

csBV thường lợi dụng chính sách trung lập của hai quốc gia Cao Miên và Lào sau hiệp định Genève 1954, họ vừa mua chuộc thành phần trẻ chống thực dân Pháp, vừa đào tạo họ để làm áp lực chính phủ trung lập để cho csBV có cơ hội đem quân vào miền nam qua đường mòn Hồ Chí Minh. Với tinh thần cộng sản quốc tế, lại vừa mới chiến thắng miền nam, csBV có tham vọng làm chủ cả vùng Đông Dương (Việt-Miên-Lào).

Vì thế, csBV kiểm soát chính phủ Lào; đồng thời đem quân tấn công Miên Cộng (Pol Pot) là đàn em của TC. csBV dám thực hiện mộng du này vì lúc bây giờ csBV tin tưởng Liên Sô đứng sau lưng họ để chống lại những người không đi theo đường lối của Liên Sô. Dù TC không có kinh nghiệm chiến trường sau trận chiến Nam-Bắc Hàn, dù khí giới thô sơ; nhưng quân số đông nên TC đem quân dạy cho csBV bài học.

csBV vừa phải đem quân chống TC ở miền bắc, vừa đem quân đánh lại quân Pol Pot ở miền nam. csBV đứng trước thế lưỡng đầu thọ địch, csBV bắt buộc phải nhường đất cho TC, dời tù cải tạo về phía nam để tránh sự chống đối của tù binh và thân nhân của họ trong nước; đồng thời csBV bắt các con em miền nam thi hành nghĩa vụ nhằm mục đích đi đầu đở đạn cho Miên Cộng giết chết thay thế cho họ.

  1.  CƯỚP CỦA

2.1 Kinh Tế Mới

Cách cướp nhà của dân hợp pháp nhất là bắt người dân “tự nguyện” ký giấy dâng nhà cửa, đất cát cho csBV, rồi đuổi họ đi vùng kinh tế mới không có nước uống, thức ăn, dụng cụ sản xuất để dân chết lần mòn. Nếu người dân trốn, trở về nơi củ thì không có hộ khẩu, không có nhà cửa đành phải nằm bờ nằm bụi; trong khi cán bộ csBV từ bắc vào nam cướp nhà cửa của người dân miền nam và ở nhà lầu xe hơi.

Công chức, chuyên viên đã bị cướp nhà cửa, tiền bạc đã đành; còn thành phần buôn bán lớn nhỏ, của chìm của nổi thì csBV đã đánh cướp như thế nào? Họ đánh tư sản mại bản thâu tóm tất cả vào hợp tác xã; các xí nghiệp tư được đem vào xí nghiệp quốc doanh. Đây cũng là dịp cho cán bộ csBV có dịp kiểm kê 100, báo cáo 1, 99 vật dụng còn lại tẩu tán ra miền bắc nên có phong trào “vào, vơ, vét, về” trở nên giàu có.

2.2 Bần Cùng Hóa

Bần cùng hóa có nghĩa là làm cho người giàu trở thành nghèo, là cướp tiền của người dân một cách tinh vi và hợp pháp; đó là chính sách đổi tiển của nhà nước csBV. Cần nhớ, trước năm 1975, đồng tiền miền nam rất có giá trị. Thí dụ, có thời 1 Mỹ kim bằng 35 đồng VNCH; về sau do lạm phát có lên đến $80 VNCH; trong khi đó, đồng tiền csBV kể như không có giá trị vì kinh tế csBV dựa trên tem phiếu, bao cấp.

Thời chiến tranh trước năm 1975, bọn tay sai csBV là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đi đến đâu cướp lương thực của dân lành qua hình thức mỹ miều là họ trả tiền bằng giấy lộn “in trên máy bản sao” với chữ ký của những tên cán bộ không biết đọc, biết viết mà họ gọi là tiền “giải phóng” (GP). Do đó, sau khi cưỡng chiếm miền nam, csBV bắt đầu “bần cùng hóa” bằng cách đổi tiền VNCH ra thành tiền GP. Thí dụ,

1 đồng GP = $500 VNCH; thay vì 1 nghìn tỷ GP bằng 1 đồng VNCH. Để dễ hiểu, 1 anh cu đen ở nông thôn chỉ có 1 đồng GP, anh ta đương nhiên giàu có bằng 1 ông phú gia có $500 VNCH. Đó là chưa kể mỗi gia đình (mỗi hộ) chỉ có thể đổi tối đa $100,000 VNCH tức là lấy được $500 đồng GP (tiền giấy lộn). Nếu hộ có trên $100,000 VNCH thì tiền dư vào trong túi cán bộ. Đợt 1 đổi tiền nhằm bần cùng hóa người dân.

csBV thừa biết tiền GP chỉ là mớ giấy lộn in từ máy photocopy không có giá trị gì hết nên họ tổ chức đổi tiền đợt 2 là áp dụng lưu hành tiền tệ chung trong nước trong 3 ngày từ 3.5.78 đến 6.5.78. Họ cho đổi tiền $1 csBV = $1 mới (cho cả nước), 80 xu tiền GP = $1 mới. Mỗi gia đình chỉ được đổi tối đa $100 mới. Nếu gia đình có 2 người thì đổi lấy $200, có nhiều hơn thì chỉ được tối đa $250 cho hộ khẩu có hơn 3 người.

Tất cả tiển để trong ngân hàng thì kể như mất, người dân dù là tỷ phiếu hay cu đen cũng chỉ có số tiền bằng nhau là $100 tiền mới (nếu là 1 người) hay 3 người thì có thể có $250. Đó là tất cả tài sản csBV cho gia đình miền nam. Có điểm tế nhị mà chính người dân không biết là csBV đã tẩu tán tiền của miền nam làm của riêng cho đến hôm nay; đó là lý do có nhiều cán bộ csBV vẫn còn đang tẩu tán tiền trên dưới dạng từ thiện.

Thí dụ, gia đình triệu phú miền nam có 1 triệu đồng VNCH, csBV cho đổi tiền GP tối đa cho họ là $500 GP tương đương $100,000 VNCH; họ bỏ túi $900,000 VNCH thay vì xóa bỏ số tiền này trong ngân hàng quốc gia . Cán bộ csBV vừa là người chủ $900,000 (vừa mới cướp được từ dân), vừa là người đổi tiền nên hắn từ bần cố nông trở nên giàu có với số tiền $1,800 GP = $2,250 tiền mới (vì 80 xu GP=$1 tiền mới).

Người dân không còn tin vào tiền tệ csBV, họ buôn bán làm ăn dựa trên vàng, Mỹ kim hay vật thực. csBV không thể áp dụng kinh tế bao cấp nên để cho dân tự lo liệu kiếm ăn; do đó, nếu người dân cần tiền lưu hành thì họ in thêm tiền tạo ra lạm phát. Đó là lý do, ngày nay, dân miền nam nào cũng là triệu phú, tỷ phú với đống tiền không đủ mua nhà hay mở cửa tiệm làm ăn như dưới thời Ngụy trước tháng tư đen.

  1. VƯỢT BIỂN

Dù csBV đã bắt bỏ tù hàng triệu dân quân cán chính miền nam, đã cướp nhà cửa của dân, đã đày dân đi vùng kinh tế mới, đã đánh tư sản mại bản để cướp của, bần cùng hóa dân qua vụ đổi tiền, người dân miền nam vẫn còn giàu có hơn cán bộ csBV vì họ còn cất dấu vàng, bạc, hột xoàn nên chúng càng làm khó đời sống người dân để dễ trấn lột họ một cách hợp pháp dưới dạng đi ra nước ngoài tìm tự do.  

 3.1 Không Chính Thức

Những người ra đi không chính thức kể như bất hợp pháp vì họ không có con đường chọn lựa nào khác. Họ đánh đổi không những mạng sống của họ trên đường vượt biển, họ chấp nhận tù tội nếu bị bắt; lẽ tất nhiên nhà cửa, tài sản của họ bị tịch biên một cách chính thức. csBV thừa biết những dự tính của những người trốn ra đi tìm tự do, nhưng họ rình bắt như mèo bắt chuột để trấn lột người vượt biên.      

3.2 Bán Chính Thức

“Những người vượt biên bán chinh thức khác với vượt biên không chính thức là chính csBV tổ chức vượt biên cho những người muốn ra đi tìm tự do. Họ vừa lấy tiền những người muốn ra đi tìm tự do, vừa tổ chức trên những con thuyền mong manh dễ vỡ trước sóng gió biển cả. Họ để cho biển cả giết hại dân miền nam thay thế họ. Đó là lối giết người tàn độc có 1 không 2 trong lịch sử nhân loại vào thế kỷ 20.   

3.3 Chính Thức

Thế giới lên án csBV về thảm nạn thuyền nhân VN. HK cô lập ngoại giao, kinh tế thương mại với csBV. TC dạy cho csBV bài học. LS đòi nợ csBV trả lại cho họ vốn và lời. csBV cảm thấy có thể nguy cơ sụp đổ vì nền kinh tế tiêu điều do hợp tác xã, xí nghiệp và đất đai nằm trong tay nhà nước v.v. csBV cảm thấy sớm muộn gì chế độ cũng bị sụp đổ nên họ đồng ý với Liên Hiệp Quốc với chương trình ODP (ra đi trong vòng trật tử) từ năm 1979.

Những người muốn ra đi do thân nhân bảo lãnh phải lo chạy chọt với cán bộ csBV; đặc biệt là phải hiến tặng nhà cửa đất đai tài sản cho họ. Tóm lại, dù không chính thức, bán chính thức, hay chính thức; tất cả cũng không ngoài cướp đoạt tài sản của người dân miền nam. Có vài người đã ra đi theo diện ODP (đi trong vòng trật tự), csBV đã bắt họ ký giấy dâng hiến nhà cửa. Dù họ có từ chối không ký, nhưng nhà cửa vẫn bị tịch biên.

Tóm lại, miền nam Việt Nam từ giàu có trước tháng tư đen 1975 trở nên tiêu điều vô sản. Nhà cửa bị csBV cướp lấy, đất đai không còn canh tác được vì hợp tác xã. Máy móc sản xuất đều bị phá hủy chở về bắc. Thời gian đất nước miền VN đen tối nhất có thể kể là thời kỳ 10 nam hậu tháng tư đen; ngoại trừ dân chúng miền bắc có đời sống dễ thở hơn vì bớt bị kìm kẹp, vì có thêm đài, xe đạp thồ từ miền nam.

PHẦN 2:  9 NĂM NỀN ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA 1954-1963

csBV tuyên truyền rỉ rả chính phủ miền nam là tay sai của đế quốc Mỹ; TT Ngô Đình Diệm cho lê máy chém khắp 4 vùng chiến thuật để giết những người chống lại ông. Thí dụ, TT NĐD loại đảng cộng sản ra ngoài vòng pháp luật tại miền nam hay tử hình Ba Cụt thuộc giáo phái Hòa Hảo. Lần lược,  chúng ta thử nhìn lại 9 năm thời đệ nhất cộng hòa (1954-1963) là thời gian tương ứng với 10 năm hậu tháng tư đen.

1. BỐI CẢNH

Nếu ngày 30.4.1975, csBV có nhiều ưu thế tại miền nam thì năm 1954, nền đệ nhất cộng hòa gặp nhiều khó khăn từ chính trị, quân sự, xã hội v.v. Thí dụ, chế độ quân chủ (vua Bảo Đại) không được lòng dân, quân đội quốc gia thân Pháp (tướng Hinh), HK chưa đặt chân tới miền nam (chỉ có vài cố vấn quân sự), xã hội đầy rẫy cờ bạc, đánh đề, ma túy, đĩ điếm (Bình Khang). Thương mại nằm trong tay ngoại kiều (Hoa Kiềuv.v.v).

Thủ tướng Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh theo lời mời của vua Bảo Đại, nhưng thực lực quân sự trong tay của ông không có, nhất là ông khó nắm tình hình xảy ra tại miền nam lúc bây giờ khi ông mới về nước. csBV chỉ cho 1 nhóm nhỏ di cư về miền bắc; đa số ở lại miền nam nhằm mục đích làm áp lực tổng tuyển cử 2 năm sau (1956) nếu có, hoặc thành lập Mặt Trận Giải Phóng du kích phá hoại miền nam.

2. DI CƯ

Nếu csBV không phải lo chổ ăn ở cho những người di cư từ nam ra bắc vì số di cư ít oi thì đồng bào miền bắc trải qua kinh nghiệm “cải cách ruộng đất” đợt 1 năm 1953 nên họ thừa kinh nghiệm “thiên đàng cộng sản”; do đó, gần 1 triệu người miền bắc liều chết di cư vào miền nam dưới sự đe dọa của cán binh csBV. Chính phủ miền nam vừa lo bảo vệ mạng sống của dân, vừa lo chổ ăn ở cho số lượng lớn người di cư.

  1. QUÂN ĐỘI

Miền nam có nhiều tổ chức quân sự độc lập, bán chính thức như quân đội quốc gia, hay tôn giáo như Cao Đài,, Hòa Hảo hoặc thảo khấu như Bình Xuyên và đám cộng sản nằm vùng với vũ khí được chôn cất chuẩn bị để đánh phá nền đệ nhất cộng hòa. TT NĐD vừa khéo léo đưa tướng Lê Văn Tỵ lên thay thế tướng Hinh thân Pháp, vừa lôi kéo tướng Trịnh Minh Thế Cao Đài, vừa tử hình tướng Ba Cụt Hòa Hảo.

  1. XÃ HỘI

Thủ tướng Ngô Đình Diệm loại trừ bọn thảo khấu Bình Xuyên ra khỏi Saigon Chợ Lớn, dẹp bỏ khu Đại Thế Giới, Xóm Bình Khang và chấm dứt tất cả tệ đoan xã hội như cờ bạc, đánh đề, hút xách ma túy làm tán gia bại sản nhiều gia đình miền nam. TT NĐD ban hành loại đảng cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Đây là giai đoạn về quân sự khó khăn nhất, nhưng thành công vì ít đổ máu của con dân miền nam VN.

  1. CHÍNH TRỊ

Nếu miền bắc có sự yểm trợ của Liên Sô, TC áp dụng chế độ độc tài đảng trị thì miền nam muốn có viện trợ của HK, họ phải chọn con đường dân chủ, bầu cử tự do. Thủ tướng NĐD phải chọn lựa giữa hai con đường quân chủ đại nghị tức là vua không có thực quyền, quyền bính nằm trong tay thủ tướng, chủ tịch đảng chiếm đa số dân biểu trong quốc hội hay chế độ cộng hòa không có vua; nhưng có 3 quyền độc lập.

NĐD chọn giải pháp thứ hai, tổ chức trưng cầu dân ý truất phế vua Bảo Đại, giải tán chế độ quân chủ thay thế bằng chế độ cộng hòa, bầu dân biểu vào quốc hội và tổng thống lo về vấn đề hành pháp. Đây là lần đầu tiên dân miền nam xử dụng lá phiếu chọn lựa người vào quốc hội và tổng thống lãnh đạo quốc gia; dĩ nhiên giai đoạn phôi thai của thời cách mạnh dân chủ không thể tránh khỏi có sự gian lận lá phiếu.

  1. GIÁO DỤC

Nếu csBV áp dụng nghệ thuật vị chính trị, giáo dục dựa trên thước đo trung thành bác và đảng hay cứu xét lý lịch ba đời bần cố nông thì giáo dục của nền đệ nhất cộng hòa có tính thần nhân bản, dân tộc và khai phóng (khoa học). Nhiều con dân của cựu đảng viên cộng sản hay đảng đối lập chính phủ đều có thể đi học như bao con em khác trong xã hội và vẫn có thể thăng tiến trong xã hội dưới thời đệ nhất cộng hòa.

Đó là điểm ưu khác biệt với chế độ miền nam dưới thời csBV hậu tháng tư đen, con cháu của dân “ngụy” không những không được tiếp tục đi học, lại còn bị bắt đi thi hành nghĩa vụ ra chiến trường đở đạn cho Miên Cộng giết. Vì thế, miền nam có câu “đôi dép râu dẫm nát đời trai trẻ”. Tương lai của giới trẻ miền nam thời hậu tháng tư đen kể như không có; ngoại trừ liều mạng vượt biển tìm tự do cho tương lai.

  1. THƯƠNG MẠI

Chính phủ thực dân nào cũng có cùng chinh sách là dùng người ngoại quốc để cai trị dân bản xứ. Thí dụ, họ dùng người Việt cai trị người Hoa ở bên Tàu; ngược lại, họ cho người Hoa hay người Ấn nhiều đặc quyền tại VN vì họ biết những người này trung thành với họ, không tha thiết về quyền lợi của dân bản xứ; lại còn có cơ hội làm giàu với thực dân. Do đó, “Hoa Kiều” độc quyền trong lãnh vực thương mại.

Nếu csBV cướp của người Việt gốc Hoa và đuổi họ về Tàu thì TT NĐD tỏ ra vô cùng nhân đạo đối với “Hoa Kiều”. Ông cho họ tự do chọn lựa vào quốc tịch miền nam hay giữ quốc tịch ngoại quốc. Ông ban hành ngăn cấm ngoại kiều làm 11 nghề; trong đó có các nghề như xuất nhập cảng, sản xuất, phân phối hàng hóa v.v. nằm trong tay Hoa Kiều. Lẽ tất nhiên, Hoa Kiều chống; nhưng cuối cùng đều chịu phép.

Vì thế, thời đệ nhất cộng hòa, nhiều Hoa Kiều về xứ; ngược lại nhiều người xin vào quốc tịch miền nam và tự do kinh doanh buôn bán bình thường như từ trước tới nay; đồng thời nền đệ nhất đã tạo cho một số người dân miền nam và những người miền bắc di cư (54) có cơ hội sinh hoạt cạnh tranh trong lãnh vực kinh tế, làm chủ đời sống thương mại. Saigon Chợ Lớn vẫn là Hòn Ngọc Viễn Đông như năm nào.

  1. NGÂN HÀNG

Nếu thời hậu tháng tư đen, csBV cho đổi tiền để “bần cùng hóa” dân miền nam, cướp tiền của dân qua vụ đổi tiền nên nhiều cán bộ, đảng viên csBV trở nên giàu có bất thường thì nền đệ nhất cộng hòa gặp khó khăn để làm chủ Ngân Hàng Đông Dương là cơ quan in và phân phối tiền trong toàn quốc từ bắc tới nam trước khi đất nước bị chia đôi. Quốc gia có chủ quyền khi họ làm chủ đồng tiền mà dân tin tưởng.

Chủ nhân Ngân Hàng Đông Dương là người Pháp. Họ phát hành tiền đông dương lưu hành cho cả 3 quốc gia Việt Miên Lào. Khi đất nước chia đôi, csBV theo nền kinh tế bao cấp, tiền bạc vô nghĩa; trong khi đó miền nam theo nền kinh tế tự do, tiền đông dương vẫn lưu hành cho cả 3 nước Miên, Lào và miền nam. Đồng tiền có giá trị khi người dân tin tưởng nên tiền miền nam phải chuyển từ Đông Dương sang VNCH.

TT NĐD mua lại Ngân Hàng Đông Dương, đổi tên lại thành Ngân Hàng Quốc Gia VN, nhưng phải chờ có sự đồng ý của hai quốc gia là Cao Miên và Lào vì họ có thể đòi lại số tiền nợ mà NHĐD thiếu họ. TT NĐD chấp nhận mua lại Ngân Hàng Đông Dương và phát hành tiền VNCH thay thế đồng tiền Đông Dương. Ông cho lập Ngân Hàng Tín Dụng để cho dân vay tiền trong dịch vụ xuất nhập cảng. Sự việc thành công.

KẾT LUẬN

cSBV cai trị miền nam trên 10 năm (1975-1986) đưa miền nam từ giàu có đến tán gia bại sản; không phải chỉ mất tài sản mà còn về nhân mạng có thể lên đến gần ½ triệu người chết trong nhà tù, chiến tranh và vượt biển tìm tự do. Cùng thời gian 9 năm dưới nền đệ nhất cộng hòa, xã hội miền nam từ sự xáo trộn trở nên giàu có thịnh vượng, nhất là những năm đầu của thập niên 60 khi csBV chưa xâm nhập vào nam.

Viện Sử Học VN với sự hợp tác hơn trăm vị sử gia, giáo sư, tiến sĩ cho xuất bản Bộ Lịch Sử VN năm 2017. Bộ sách có 15 quyển, mỗi quyển trên dưới 500 trang; tổng cộng 7,500 trang; đặc biệt quyển thứ 14 viết về giai đoạn 1975-1986. Họ không có một dòng viết về người tù cải tạo hay người vượt biển tìm tự do. Các chi tiết này không có trong chánh sử của kẻ chiến thắng, nhưng nhân loại không quên tội ác của họ.

Đại học Sophia tại Tokyo, Nhật Bản, đã phát hành sách “Boat People” (Thuyền Nhân) vào ngày 30.4.1978 (3 năm sau tháng tư đen 1975) với tựa đề The Holocaust of the 20th Century (Thảm Nạn của Thế Kỷ 20) với nhiều hình ảnh, bài vở ghi lại sự ra đi mạo hiểm của con dân miền nam trên những chiếc thuyền mong manh trước sóng to gió lớn biển cả. Sách này tưởng niệm đồng bào bỏ mình giữa đại dương. 

Không biết có ai còn nhớ hình ảnh chiếc bè vượt biển được đóng bằng 36 thùng phuy xăng do ông Nguyễn Văn Phong 51 tuổi, một tiểu thương ở Gia Định, cùng 3 con trai hoàn thành chiếc bè trong 3 tháng trời ráp nối. Bè chở 14 người gồm vợ con và 3 người bạn đi từ Vũng Tàu. Trên tàu có 1 hài nhi 3 tháng đã được tàu Nhật Shokomaru vớt cách phía đông Vũng Tàu 175 dặm vào ngày 27 tháng 9, 1975.

Résultats de recherche d'images pour « Hình chiếc bè đóng bằng 36 thùng phuy xăng di Vượt Biển  Ty Nan Cong San cuả Nguoi Viet Nam »

Hình chiếc bè đóng bằng 36 thùng phuy xăng

Đặng Tấn Hậu

      © Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.

       © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT