DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Hồi Ký: Cuộc Chiến Chưa Tàn (15)_Trần Nhật Kịm
E-mail Print

                                                                              Image result for CUỘC  CHIẾN  CHƯA  TÀN

15.

Sinh-hoạt trong tù

            Số anh em Quyết-tiến còn lại quá ít, còn mới mẻ đối với anh em mới chuyển tới.  Anh em trong nhóm sinh hoạt với nhau, Kim, Hướng và Tiên trở thành bộ ba.  Có lần bác-sĩ Trương-khuê-Quan bảo Kim:

            -"Có anh em không muốn liên hệ với bộ ba thuộc "nhóm Cổng Trời" các anh, vì họ sợ ảnh hưởng không tốt tới việc cải tạo của họ.  Nhưng cá nhân tôi muốn gần, vì các anh có lối sống thoải mái, không câu nệ, không bị ám ảnh bởi hình ảnh vàng son ngày trước."

            Kim trả lời:

            -"Bác không ngại chúng tôi ảnh hưởng xấu tới bác hay sao?"

            -"Tôi nghĩ khác mọi người, dù ở hoàn cảnh nào mình cũng phải sống cho vui, đời được mấy lúc.  Biết đâu khi gần các anh, tôi lây cái hên được về sớm không chừng."

            Bác bảo bọn Kim có cái hên, vì trải qua bao nhiêu gian truân đầy ải, nhiều lúc như đứng trên bờ vực thẳm, cận kề lưỡi hái tử thần mà vẫn sống nhăn, vẫn tỉnh bơ.  Bác cười nhắc lại câu anh thường nói:  "trời xập cũng thế thôi."

             Bác là người miền Nam vui tính, luôn tươi cười.  Và khi biết bác là bác-sĩ lại biên chế vào đội xây dựng, làm công việc lao động chân tay Kim càng qúy bác hơn.  Chế độ này là thế, vẫn đố kỵ vì nặng tính giai cấp, đã hủy diệt biết bao nhân tài của đất nước.

            Trong khi trạm xá không có lấy một y-sĩ.  Sinh mạng 800 con người nằm trong tay hai tù cải tạo miền Nam.  Trại còn cấm các bác-sĩ cải tạo không được chẩn bệnh cho anh em, và các vị đó luôn bị đám ăng ten theo rõi báo cáo.  Tuy vậy, gặp khi anh em bệnh nặng, bác coi thường kỷ luật và bảo cách trị liệu.

            Nhiều lúc ngoại cảnh nói lên ý nghĩa thực tại.  Có phải nhóm Quyết-tiến các anh mang một thứ bệnh truyền nhiễm chống đối cộng sản, mà đám cán bộ trại phải ngăn ngừa vì lo sợ lan truyền cho những người ở đây.  Anh thông cảm với các bạn đó, vì cuộc đời của họ quá phẳng lặng, ít bão táp phong ba như các anh đã trải qua.   Chính thâm tâm họ cũng chẳng ghét bỏ các anh, vì cũng là người Quốc-gia, với cùng một ý nghĩ chẳng ưa gì chế-độ cộng-sản.  

            Ngoài mấy người làm tay sai cho cán bộ theo rõi sinh hoạt anh em trong trại, để mong có một chút an thân, được hưởng một chút dễ dãi hơn mọi người.  Còn có người đã nhiều lần viết "giấy báo công", tường trình cho quản giáo trại là hắn đã giúp đỡ che dấu cán bộ cao cấp nằm vùng trong khi hắn có uy quyền trong tay. 

            Hắn cảm thấy sức khỏe ngày một yếu đi, đã gần đất xa trời, nên mong mỏi sớm được trở về.  Quả thực hắn không chịu nổi sự khổ cực của thời gian lao động khổ sai.  Người cộng-sản trả ơn cho hắn là những năm tháng đau khổ nơi rừng xanh núi đỏ.  Không hiểu trong lòng hắn có một chút hối hận là đã phản bội nhân dân miền Nam.

            Bên cạnh những phần tử yếu hèn, lại nổi bật tập thể đông đảo có tư tưởng dứt khoát với chế độ cộng-sản.  Kim gặp ông Trình-quốc-Khánh mới biên chế lên đội 16, một người có tiếng trong đạo Hoà-Hảo.  Ông ít nói nhưng thật hoà nhã, không khiếp sợ trước bạo lực công-sản.  Mối hận với chế độ này khó phai mờ trong lòng ông. 

            Ngay từ ngày đầu xâm chiếm miền Nam nhà nước đã đàn áp tôn giáo, ông đã chứng kiến cảnh "Cách mạng" phá phách nơi tôn nghiêm của giáo phái.  Bắt giam những người suốt đời hy sinh với đạo, cứu giúp đồng bào nghèo khổ.  Ông cay đắng khi nhìn thấy nơi tôn nghiêm trở thành khu sản-xuất tăng-gia.  Ông bảo Kim: "sau này chúng ta phải ngồi lại với nhau để làm những việc có ích cho xã hội.  Chúng ta đã có kinh nghiệm về sự chia rẽ bè phái, cả những việc làm đúng và sai.  Chúng ta phải sửa chữa và làm lại những gì đã sai lầm."   

            Sức khoẻ Kim ngày kém hơn, như sức lực của cơ thể ngày một cạn.  Anh nhớ khi về đây được vài tuần, hàm răng lung lay rêm nhức càng khó chịu hơn.  Một chiếc răng hàm đau nhức làm anh suốt đêm mất ngủ, anh đã nhịn đau lung lay chiếc răng.  Anh xuống trạm xá, gặp anh Danh:

            -"Tôi nhờ anh nhổ hộ chiếc răng, mấy ngày nay ăn ngủ không yên."

            Danh xem chiếc răng đau:     

            -"Răng đã lung lay nhưng chân còn chắc. Ở đây lại không có dụng cụ nhổ răng, và cũng không ai biết nhổ răng."

            -"Bằng cách nào anh cũng bẻ hộ, tôi đã lung lay nó mấy ngày nay.  Có lẽ chiếc răng đã tách rời khỏi nướu, chỉ còn phần lợi dính vào mà thôi."

            -"Anh chịu đau nổi không.  Vừa không có dụng cụ lại cũng không có thuốc tê chắc sẽ đau lắm."

            -"Anh cứ bẻ đại cho tôi, chiếc răng hàm dưới chắc không có gì trở ngại đâu."

            Kim ngồi tựa đầu vào chiếc cột lim trong trạm xá. Tay trái Danh giữ đầu, anh đè ngón cái tay phải vào chiếc răng đau, đẩy vào thật mạnh, chiếc răng bật ra khỏi hàm.  Cơn đau bất chợt làm ê ẩm cả đầu, lan nhanh vào tim.  Kim cảm thấy choáng váng, nhắm mắt trong giây lát. 

            Anh cầm miếng bông vê tròn nhét vào lỗ hổng chân răng.  Máu ứa ra ướt đầm miếng bông vừa nhét, anh phải thay thêm lần thứ hai.  Nhìn chiếc răng còn nguyên vẹn, chân răng nhọn hoắt, chưa tới giai đoạn cần phải nhổ.  Nhưng giữ làm sao được trong hoàn cảnh không đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.  Anh có cảm giác cả hàm răng đang lung lay, sờ chiếc nào chiếc nấy như cần nhổ bỏ.  Kim thường đếm lỗ hổng trên hàm răng, cái này là cái thứ sáu sau 3 năm cải tạo.  Giọng nói của anh hơi thay đổi, có vẻ thều thào, vì hàm răng có nhiều chỗ trống.

 

                                                                        &

 

            Tiết trời trở lạnh hơn.  Năm dương lịch tiến gần đến những ngày chót.  Nắng dịu đi nhiều, gió lạnh vào buổi chiều đã làm se làn da.  Sự sống của người cải tạo vẫn vất vưởng, vật vờ giữa chính sách "chỉ-tiêu tiêu-chuẩn," với cái đói cái khổ liên miên.

            Trại vừa trải qua một thời gian đói thê thảm của năm 1977.  Một năm gió bão lụt lội phá hoại mùa màng của mấy tỉnh miền Bắc, nhất là tỉnh Thanh-Hóa, dân chúng trong tỉnh không đủ gạo ăn.  Hợp tác xã nông nghiệp có tháng chỉ đủ thóc phát cho các xã viên mỗi người 5 ký, như vậy xay ra chỉ còn hơn 2 ký gạo.  Gạo cung cấp không đủ, nên thực phẩm tiếp trợ vẫn dựa vào ngô, khoai, sắn và bo bo. 

            Mặc dù với danh nghĩa Bộ Nội vụ quản lý các trại giam, nhưng thực ra chỉ quản lý về nhân sự, còn về đời sống tù nhân phải tự lo lấy.  Số gạo cung cấp cho các bữa cơm nhằm ngày Lễ, Tết trong thực tế chưa đạt 5% số lượng chất bột tù nhân được hưởng.  Những bữa cơm trong năm gom lại được hơn một tuần. 

     Vì thực phẩm nuôi tù do chính tù nhân làm ra, nên nguồn cung cấp cũng hạn hẹp.  Khoai mì là thứ dễ trồng, ít phải săn sóc từ khi trồng tới lúc thâu hoạch, và một lợi điểm là không kén chọn đất trồng.  Trại cải tạo vốn được lập tại nơi rừng núi, khai phá những khu rừng lim hay soan, nên chất độc đã gia tăng trong củ sắn.  Khoai mì là một loại thực phẩm khuyến khích, vì có thể giữ lâu trong kho khi thái lát phơi khô.

            Vì là thực phẩm chính, nên hàng năm món ăn này được kéo dài tới 4, 5 tháng liền.  Ngày hai bữa chỉ thấy khoai mì luộc chấm muối. Chất độc trong củ khoai mì đã tác hại trên khuôn mặt, làm sưng hạch dưới gốc tai, vì vậy hai tai nhô ra, chưa kể đến làn da xám xịt như mắc bệnh lâu ngày.  Mặt mũi do đó khó coi, như chiếc bình sành có quai xách hai bên.  Ăn nhiều đến nỗi nhìn thấy là ớn, nhưng sau khi ăn vẫn thèm vì bụng còn đói, do số lượng phân phối quá ít.

            Sau đợt khoai mì được đổi món ngô hạt luộc.  Ðến giai đoạn này căn bệnh được chuyển đến một cơ phận khác trong người.  Nhìn những hạt ngô vàng óng lấy ra khỏi cùi, phơi thật khô vì có thể để lâu trong kho, nên hạt ngô trở thành dắn chắc, mà người miền Bắc đã đặt cho tên "Ngô Đá răng ngựa."  Vẫn muối hạt, một gia vị trung thành theo sát tù nhân suốt năm, đã trở thành một thức ăn chính.  Ngô hạt được nấu trong chảo lớn, dù có chín vẫn chắc nịch.  Gặp lúc thời tiết xấu, mưa gió lâu ngày, thiếu củi hay củi còn tươi, vì nấu không được chín, hạt ngô cắn ra trong ruột vẫn còn mầu trắng đục. Một bữa ăn đong đầy chén ăn cơm.  Bắp quá dắn khiến hàm răng mau lung lay sau 3 tháng nhai ngô.

            Sau mùa ngô đá hàm răng được nghỉ ngơi, dạ dầy cũng đỡ rêm nhức vì tới mùa khoai lang. Ăn có ngon vì thêm vị ngọt, nhai thật êm nhưng mau đói vì chất bột chóng tiêu, chưa kể phần hà làm cho khoai mất vị.

            Nhưng chẳng được bao lâu, sau khoai lang đến món cao lương.  Khi mới tới miền Bắc, nhà bếp cho hay trại cho ăn "món cao lương", anh em nghĩ hôm nay phải là đặc biệt.  Nhưng khi phần ăn tới, mới hay đó là hạt bo bo mà miền Nam thường dùng nuôi ngựa, chỉ là thứ thực phẩm trồng trên vùng cao.  Mọi người thấy sợ món ăn cao quý này, vì phần vỏ cứng khó tiêu đã cào rách dạ dầy đến chẩy máu.

            Nói chung, khoai mì vẫn là thứ thực phẩm thực dụng, không những đối với tù mà còn đối cả với gia đình cán bộ.  Vào mùa thu hoạch, các xe ba bánh chở sắn đi ngang khu gia đình, mọi người đã đợi sẵn ở bên đường.  Các xe ngừng lại để gia đình cán bộ lấy tùy ý trong khi anh em đẩy xe được ít phút nghỉ ngơi sau đoạn đường dài.  Anh em đều hiểu mặc dù không ăn độn như tù, nhưng số gạo vẫn không đủ cho các bữa ăn trong ngày.  Ngoài ra, họ còn cần thức ăn cho buổi sáng, cho đàn lợn trong kế hoạch tăng lợi tức gia-đình.  Ðể cuối năm có chút dư dả mua sắm vài thứ cần thiết mà tiền lương không giúp họ có thể thực hiện.

            Mặc dù diện tích đất trồng mỗi ngày mỗi tăng, thực phẩm thâu hoạch mỗi ngày mỗi nhiều, nhưng khẩu phần hàng ngày của tù vẫn trói tròn 11 ký chất bột mỗi tháng.  Không hiểu trại đã cắt xén bao nhiêu để lấy thực phẩm nuôi trâu nuôi lợn cải thiện vào ngày cuối năm, mà những bữa ăn vốn khiêm nhượng, không đủ chất dinh dưỡng của tù đã teo đi nhỏ lại.

            Chính sách tù đầy của cộng-sản thật ưu việt.  Có người cho rằng tù nhân đã nuôi sống chế độ, vì thực phẩm nuôi tù nhà nước không phải lo.  Hơn thế nữa, sản phẩm tù làm ra dư thừa nhưng khẩu phần cấp phát lại hạn chế, ăn không đủ no, nên sức khỏe tù nhân ngày một suy giảm.

            Ðói đến nỗi không thể buông tha thứ gì có thể ăn được.  Từ con rết núi lớn bằng chiếc đũa đen mun hay ửng hồng, đến con rắn bất kể độc hay lành, to hay nhỏ cũng là phần chất béo bồi dưỡng cho tấm thân tù vốn thèm khát lâu ngày.  Rồi đến con ếch con nhái lớn độ ngón chân cái cũng được tiếp nhận.  Dù không giống món ếch chiên bơ, nhưng sau khi nướng cũng có vị thơm thịt cháy.  Anh em chia nhau mỗi người cái cẳng, chẳng no được bao nhiêu nhưng cũng có vị béo nơi đầu lưỡi, làm láng bóng đôi môi.

            Nhiều khi anh em nhận xét, với chiêu bài "nhân đạo khoan hồng, chỉ tiêu tiêu chuẩn," tập đoàn lãnh đạo đã che dấu hành động tàn bạo là không giết ngay những người cải tạo miền Nam, mà để chết dần mòn trong cảnh đói khổ tại các trại tập trung cải tạo.  Nhưng như một phép nhiệm mầu, sau bao nhiêu năm bị đầy ải, người tù miền Nam vẫn giữ được nét hào hùng, không khiếp sợ trước bạo lực cộng-sản, vẫn tin tưởng ở tương lai tươi sáng.  Phần lớn vì đã thấy rõ thực chất của chế độ, trong khi lòng mang nặng cằm hờn vi thù nhà nợ nước.  Hai chữ "chính nghĩa" đã từng được người cộng-sản nêu cao như một mục đích cao cả, chỉ là thứ hỏa mù, đã phản bội tinh thần dân tộc của nhân dân hai miền Nam Bắc.  Món ăn tinh thần quan trọng này đã giúp người "cải-tạo" miền Nam giữ được mạng sống trong suốt thời gian tù đầy.     

            Mặc dầu bây giờ đã vào những tháng cuối năm 78, nhưng ảnh hưởng của cơn đói năm 77 vẫn còn.  Hoa mầu thâu hoạch có gia tăng nhưng thân xác tù vẫn còm cõi.  Cái đói kéo dài làm sức khỏe tù nhân giảm sút, năng xuất lao động xuống theo, không đạt chỉ tiêu như trước kia.  Ðể ổn định, trại cho phép tù nhận quà của gia đình, mỗi tháng một gói cân nặng 3 ký chuyển theo đường bưu điện. 

            Tù nhân “hồ hởi” đón nhận chính sách "khoan hồng" của nhà nước, để gia-đình tù tiếp tay nuôi người cải tạo.  Ðúng là một mũi tên hạ hai con chim.  Gia đình người cải tạo phải chắt bóp, đầu tắt mặt tối trong một xã hội mà nền kinh tế trì trệ, không lối thoát, còn phải nuôi thân nhân trong tù.  Ấy là chưa kể tới nạn tham nhũng cửa quyền gây khó khăn thêm cho đời sống nhân dân miền Nam.  Nguồn kinh tế của gia-đình một lần nữa phải chia hai, xẻ ba. 

            Nhà nước cũng biết nhân dân càng khó khăn về đời sống càng giảm thiểu được mầm mống chống đối, đòi hỏi tự do nhân quyền, bất mãn chính sách nhà nước.

            Còn đối với người tù cải tạo, gói quà dù nhỏ nhưng thật qúy báu, vì nhờ đó nhận được những giòng thư của gia-đình, một niềm an ủi lớn lao trong cuộc sống tù đầy.  Thêm vào đó có một chút chất béo, chất ngọt khả dĩ duy trì được sức khỏe không suy sụp, hầu kéo dài mạng sống.

            Về phía trại cũng có nhiều lợi điểm.  Nhờ những gói quà bồi dưỡng, sức khỏe tù nhân khá hơn sẽ nâng cao được thành quả lao động.  Số hoa mầu thâu hoạch vì vậy cũng gia tăng, tăng theo kế hoạch nhà nước.

            Phiếu gửi quà đã trở thành một ân huệ, có quyền lực buộc tù nhân phải tuân thủ.  Thành phần “cải tạo tốt” được thêm phiếu gửi quà, điều này đã thúc đẩy những người nhẹ dạ vì nhu cầu cá nhân, đã có hành động phản bội lại tập thể.   

            Hôm Kim có tên đi lãnh gói qùa 3 ký của gia đình gửi, có mặt của Ðại-úy Bông, Phó trại Thanh-cẩm, gặp Kim hắn hỏi:

            -"Anh Kim đi lãnh quà phải không.  Anh có nhận được quà thường xuyên không?"

            Kim nghĩ, anh mới về trại này được vài tháng, nhờ gửi thư các bạn có gia đình đến thăm nuôi chuyển dùm, nên gia đình mới biết anh ở đây.  Anh không có phiếu gửi về, nên không hiểu vợ anh lấy đâu ra phiếu gửi quà cho anh, hay nàng đã mua phiếu chợ đen tại Bưu-điện Sài-gon như lời đồn.  Anh trả lời:

            -"Mấy năm đi cải tạo, đây là lần đầu tiên tôi nhận được quà của gia đình."

            Đại úy Bông đột nhiên đổi giọng với vẻ mặt tức giận:

            -"Gia đình gửi quà cho anh nhiều vào, anh ăn cho khỏe mà chống lại nhà nước."

            Anh nhìn hắn im lặng mỉm cười.  Qua khung cửa sổ, bên ngoài tấm vách ngăn, hai anh Tô-tứ-Hướng và Nguyễn-khắc-Linh đội trưởng đang đợi đến lượt vào lãnh quà hẳn nghe rõ câu phó trại nói, Kim nghe hai bạn trao đổi:  "Chuyến này Kim thê thảm rồi, bị Phó trại ghim thì khó mà sống yên thân."  Anh nhìn ra thấy Hướng dơ cao ngón tay cái.

            Thiếu-úy Lăng, trưởng ban an-ninh trại, mở rộng tấm giấy dầu bọc phía ngoài.  Gói quà của anh thật khiêm nhượng, chỉ có vài món thường dùng.  Chẳng hiểu có phải vì sự chứng kiến của Phó trại với lời vừa nói, hắn đổ bao đường thẻ ra trên tấm giấy dầu, lấy dao chặt mỗi miếng thành nhiều miếng nhỏ.  Rồi đến gói bột đậu nành đổ ra một bên, lấy đầu mũi dao gạt qua gạt lại.  Ðến ống kem đánh răng, hắn mở phần nhôm phía cuối, lấy chiếc đũa tre ngoáy bên trong.  Bánh thuốc lào cũng bị xẻ đôi xé ba.  Chỉ có mấy viên thuốc B1 nhỏ bằng hạt đậu là hắn buông tha không đập vỡ.

            Hắn nghi ngờ trong gói quà của anh có cất dấu những thứ trại cấm như tài liệu thông tin hay tiền bạc vo tròn trong thức ăn.  Gói quà của anh trở thành một mớ xà bần, đường bột lẫn lộn nát bấy.  Ðể mặc cho hắn khám, anh vẫn quan tâm tới lá thư gia đình.  Ðã lâu anh không có tin nhà, hy vọng hắn chỉ đọc qua mà không giữ lại cứu xét.  Anh nóng lòng đọc thư để biết phần nào đời sống vợ con anh và gia đình.  Thời gian gần bốn năm trôi qua qủa thật dài, liệu có gì thay đổi.

            Gói quà đến với anh thật đúng lúc.  Anh đang ở trong giai đoạn hạn hán đợi mưa, như cây khô chờ từng giọt nước.  Phần thịt trên người anh đã để lại trên trại Quyết tiến, khi về đây thân thể anh chỉ còn da bọc xương.  Thời tiết ấm áp của vùng Bái-thượng, gió mát của giòng sông Mã vẫn chưa làm anh khỏe hơn.  Có chăng chỉ một phần thay đổi là anh được tắm giòng nước mát, có ánh nắng chan hòa, giải tỏa bớt phần nào ưu tư nặng chĩu trong lòng.

            Anh đã thoát khỏi vùng núi rừng sương phủ, tránh được phần nào những ám ảnh tăm tối, luôn luôn có ý nghĩ mình đang đi trên đường đến gần đồi Bà Then.

            Về đây, lao động đã làm anh đen sạm.  Phần nước trên cơ thể anh như đã thoát ra ngoài, người quắt lại như chiếc khăn khô vắt hết nước. 

            Dù sao dưới tập thể vẫn dễ chịu hơn trên kỷ-luật.  Vì cùm xích trong bóng tối lâu ngày, cơ bắp không hoạt-động, sức khỏe tiêu hao nhanh hơn.  Hôm anh em trên kỷ-luật đi tắm, bằng đó người chỉ là những bộ xương biết đi.  Nổi bật nhất vẫn là anh Phạm-dương-Ðạt, nguyên Thiếu tá binh chủng Thủy quân Lục chiến, với chiều cao gần 1.80m, trong khi thân hình gầy ốm trông thật thê thảm.  Anh đã thực sự thay đổi, phải vịn tường chậm chạp, run rẩy lần từng bậc tam cấp.

            Kim nhớ khi ở trại Quyết-tiến, ngoài những bữa ngô xay đong đầy một chén, còn có món bánh bột luộc.  Chẳng hiểu là bột đã tồn kho bao lâu, có mầu nâu, nghe nói do Liên-sô hay Hungary viện trợ.  Mỗi người một phần ăn bằng 4 ngón tay ghép lại, chỉ cắn vừa mấy miếng.  Bữa ăn chỉ có bát canh rau muống và miếng bánh bột luộc.  Bát canh húp liền tại chỗ, còn phần bánh mang vào phòng cắt nhỏ bằng đốt ngón tay.  Nằm nhâm nhi từng miếng bánh, cố ý kéo dài bữa ăn, hy vọng chất bột còn dính trong dạ dầy, để cơn đói không đánh thức giấc ngủ vào lúc nửa đêm.

            Thân thể dềnh dàng như Phạm-dương-Ðạt mà phần ăn đồng đều với một người cân nặng chỉ bằng nửa anh.  Kim thường nói đùa bảo anh Ðạt: " Chúng mình là xe 8 máy, mà xăng đổ bằng xe máy dầu".  Bây giờ không còn bánh để cắt nhỏ, nhưng các anh trên kỷ luật lại có thú nằm đếm từng hạt bắp luộc, trung bình độ 650 hạt, ít hơn người lao động hai muỗng canh cho mỗi bữa ăn. 

            Những ngày cuối năm 78 lần lượt qua đi thật nhanh.  Nhà bếp nhộn nhịp hẳn lên, không hiểu thực đơn cho ngày đầu năm có những gì.  Nghe nói Tết năm nay tù sẽ được ăn khá hơn năm vừa rồi.  Thịt lợn vẫn còn nằm trong tin đồn, còn trâu đã có sẵn.  Ðó là kế hoạch dành dụm, chắt bóp hàng năm lấy ra từ khẩu phần ăn hàng ngày của tù nhân, để nuôi trâu lợn cải thiện vào ngày Lễ, Tết.

            Nhưng con trâu buộc dưới gốc cây Bàng trước cửa nhà bếp trông thật thê thảm.  Thân xác nó không khác gì con người cải tạo, lao động tích cực đã gậm nhấm phần thịt trên thân thể.  Nó đứng đó, chiếc đuôi phe phẩy đuổi ruồi, chiếc đầu lắc lư biểu tượng cho sự sống.  Nhưng nhìn nó, Kim có cảm tưởng là bộ xương biết di động. 

            Ðến giờ lao động về, gần hai ngàn con mắt dán vào con trâu, lượng định phần thịt còn lại.  Một anh bạn kéo Kim lại gần con trâu pha trò: "Trâu Quyết-tiến có khác, giống như người Quyết-tiến, không thấy cặp mông đâu."

            Quả thật, phần thịt trên cặp mông không còn, hốc mông sâu hoắm.  Không hiểu nó còn được bao nhiêu ký thịt để đủ chia cho 800 con người, chưa kể phần ngon dành cho cán bộ nhà bếp.

            Kim những tưởng con trâu cải thiện phải mập mạp, trông tạm mát con mắt, vì lấy cơm tù vỗ béo cả năm.  Có thể trại có kế hoạch, con trâu béo tốt khỏe mạnh còn dùng được vào việc cầy ruộng kéo xe, nên thay thế bằng con trâu phế thải, nhiều năm lao động này cho anh em tù hưởng xuân.  Dù sao "có vẫn còn hơn không," như đã từng có nhiều cái không trước đây.

            Theo chương trình, nhà bếp cho con trâu làm chủ trong 3 ngày, từ chiều 30 đến ngày mồng 2.  Chiều 30 được kể là huy hoàng, mỗi người được chia hai miếng thịt kho lớn bằng hai đốt ngón tay cộng thêm hơn thìa ăn cơm nước kho nấu bằng nước muối có pha chút nước mầu cho đẹp. Vì số lượng khiêm nhượng, nên nước kho phải lấy muỗng chia cho công bằng, dù không có nhiều nhưng cũng đủ mặn để nuốt trôi hai miệng chén cơm.  Anh em cảm thấy ấm lòng vì có chút mỡ trong dạ dầy.

            Ngày đầu năm vẫn là ngày quan trọng, mà phần thịt đã dùng hết vào chiều cuối năm, nên phần lòng và bộ xương dành cho ngày mồng 1 Tết. Thêm một chút rau cải được món lòng xào.  Bộ xương được ninh trong vạc từ ngày hôm trước.  Ninh kỹ đến nỗi, khi vớt xương ra khỏi vạc đã trắng bóng, không còn chút mỡ chút tủy bám vào.  Cho thêm một chút rau bất kể rau gì thành món canh, dù nó mang tên "đại dương."  Mỗi người được gần chén đá.  Bữa cơm trông thật mát con mắt, những hai món với hai miệng chén cơm.  Bộ răng không thấy rêm nhức, hai hàm không thấy mỏi như nhai bắp hay bo bo.

            Và cũng để đáp ứng với phong tục tập quán, nghèo khó cả năm nhưng phải no 3 ngày Tết.  Sang ngày mồng 2 con trâu chỉ còn lại bộ da.  Vì thân xác nó gầy còm, nên lớp mỡ lót dưới mặt da cũng khô, không dầy béo như con trâu mập mạp.  Thay vì bỏ vào nồi nấu nhừ thành một chất keo, pha chung với nước vôi quét tường nhà cho bền hơn, trại vẫn muốn tiết kiệm, vì nó còn một chút chất nhờn, vẫn hữu ích cho thân thể tù nhân.

            Bộ da được đốt cháy mặt da phía ngoài, trải rộng trên sàn nước, cạo rửa sạch phần da giấy cháy đen, thái thành miếng nhỏ hơn hai đốt ngón tay, đem kho với nước muối có pha một chút nước mầu.  Ðun vừa đủ nhừ để không tan thành keo.  Con trâu gầy, bộ da nhỏ nên mỗi người vừa đủ hai miếng bằng hai đốt ngón tay với chút nước kho.  Nó có vị lạ, mùi gây như chất mỡ thừa, không có hương vị đậm đà như thịt.  Ðó là món ăn sau cùng, nó hiếm hoi vì không nơi nào bầy bán.

            Mặc dù phần chia chẳng được bao nhiêu, sau khi ăn vẫn còn đói, nhưng nhai miếng thịt chén cơm vẫn thấy dễ chịu, quen thuộc hơn bo bo hay bắp luộc.  Có thêm một chút dinh dưỡng, cần thiết cho những thân xác khô cằn chỉ đợi ngày tàn lụn. 

            Cũng không hẳn là mong mỏi được nghỉ lao động vài ngày để vết thương có dịp liền da, cơ bắp được đều hoà xả dãn mà vinh-quang lao-động đang nhồi bóp hủy diệt.  Anh em mong đợi ngày Tết vì món ăn tinh thần.

            Kỷ luật nội quy trại cấm các phòng không được quan hệ qua lại.  Hai dẫy nhà đối diện cách nhau một sân rộng 4,5 chục thước.  Từ cổng gác cán bộ có thể nhìn hết khoảng sân, rất dễ phát hiện những người qua lại liên hệ các phòng.

            Nếu một người bạn có gia đình đến thăm nuôi, gửi cho một chút quà, từ viên thuốc B1 đến vài muỗng đường vàng, phải theo bạn về phòng sau buổi lao động, rồi ba chân bốn cẳng hòa nhập với số anh em còn lác đác ngoài sân để về phòng mình.  Nếu bị cán bộ bắt gặp, có thể bị cảnh cáo hay lên nhà nóc bằng nằm nghỉ ít ngày.  Hoặc muốn an toàn hơn, phải nhờ anh em đi lấy cơm mang về dùm.

            Chỉ trừ những ngày lễ đầu năm dương lịch hay ngày Tết Nguyên đán, trại cho phép các phòng qua lại vui chơi.  Sáng ngày mồng một, Kim qua phòng 4 với các bạn.  Không còn gì vui hơn là nói chuyện cũ, về chiến tích hào hùng nơi đèo heo hút gió, những món ăn ngon nơi ngõ hẻm Sài-gon . . . Những kỷ niệm thật xa nhưng vẫn làm ấm lòng khi nhắc lại, vẫn là nhu cầu cần thiết để quên thời gian đau thương hiện tại.  Rồi những gian truân khổ ải trong đời sống tù đầy đã làm mọi người xích lại gần, hiểu nhau hơn, thông cảm hơn. 

            Ngày chủ nhật sân trại vắng tanh vì trại cấm các phòng qua lại.  Kim nhìn về phía cổng gác, tìm lúc cán bộ trực gác đi khuất, băng qua khoảng sân rộng cuối hội trường để sang phòng 4.  Một số bạn “mê” giọng ca của Nguyễn Hữu Phúc, Đại úy Không Quân, các bạn thường gọi anh là “Phúc giặc lái”, đã quây quần ở sàn trên.  Mọi người yên tâm vì có một số anh em ngồi nơi cổng ra vào buồng, canh chừng cán bộ tới kiểm soát.

            Bên ly trà bốc khói, Kim và các bạn lắng nghe Phúc hát, giọng hát trầm ấm, êm dịu diễn tả nỗi lòng thương nhớ cố nhân.  Mà hiện tại chỉ còn là “Hoài Cảm”, âm hưởng nghe như đứt đoạn “…chờ hoài nhau trong mơ, nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa…”  Tất cả chỉ còn lại ngậm ngùi để “…nhớ nhau muôn đời mà thôi…”

            Khi Phúc hát đến khúc ca “Sài Gòn ơi! Vĩnh biệt” của nhạc sĩ Nam Lộc. giọng ca của Phúc trở lên day dứt, uất nghẹn như tiếng nấc tự đáy lòng làm nhạt nhòa nước mắt.  Tất cả đã chìm vào dĩ vãng với những tiếc nuối “…Sài Gòn ơi!  Ta đã mất người trong cuộc đời…, Sài Gòn ơi!  Thế là hết thời gian tuyệt vời…”

            Sài Gòn đã trở thành bất diệt, không thể thiếu trong tâm tư người miền Nam, đã lưu lại trong lòng người tới đây những hình ảnh dịu dàng nhưng trung thực.  Cũng nhờ tính “Người Sài Gòn” ấy, đã chan hòa một thứ tình cảm quyến luyến, bao dung của người mẹ hiền, dang rộng vòng tay ấp ủ những đứa con lạc lõng.  Và chính “Người Sài Gòn” ấy cũng thể hiện sự mời gọi của một người tình tha thiết thủy chung.  Sài Gòn là nơi chốn đượm tình yêu thương.  Vì vậy, xa Sài Gòn vẫn nhớ, vẫn mong muốn trở về.           

Pha trộn những bản nhạc đầy vẻ căm hờn của các bạn trong tù sáng tác, hay những bản nhạc ghi dấu một Sài-gon yêu thương đã mất, gợi nhớ dĩ vãng êm đềm và nhắc nhở không quên thù cũ.   

            Vào lúc này trại đã thành lập đội văn nghệ, tập trung anh em cải tạo có khả năng âm nhạc và diễn xuất.  Những buổi trình diễn văn nghệ của tù cải tạo miền Nam, đã lôi cuốn cán bộ trại Thanh Cẩm và gia đình của họ.  Hình ảnh của Nguyễn Hữu Phúc, hóa trang thành một phụ nữ Hré, trên sân khấu với khúc ca “Bóng cây Khơ Nia”, một bài thơ  của tác giả Nguyễn Ngọc Anh sáng tác vào năm 1958, do nhạc sĩ Phan Thanh Nam phổ nhạc, đã lôi cuốn người xem, với lời ca:

            “Trời sáng em lên rừng          

            Thấy bóng cây Khơ Nia

            Bóng ngả che ngực em

            Về nhớ anh không ngủ     ……….”

            Anh em cải tại cũng thích thú những buổi trình diễn văn nghệ, vì là dịp nói chuyện, gặp gỡ các bạn khác phòng mà kỷ luật trại nghiêm cấm vào những ngày thường.          Tiếp đến 6 câu vọng cổ do anh Mười Muôn ca, khiến gia đình cán bộ không ngớt trầm trồ khen tặng, đã gợi lên dấu hiệu chuyển đổi trong tâm tư của người miền Bắc.  Với cùng một bản nhạc do anh em tù cải tạo trình diễn, âm hưởng không còn sắt máu như ca sĩ miền Bắc, mà dịu dàng hơn, mang nhiều nét xúc cảm hơn. 

© Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.
 © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam  
(Trich Hồi Ký : Cuộc Chiến Cgiả hưa Tàn Của Tác Giả Trần Nhật Kim  gửi đến BBT)
  Đọc các bài liên quan của cùng tác giả  tại đây.

           

 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT